Giáo lý hôn nhân dành cho người sắp cưới hỏi

By on December 12, 2012
Prev5 of 10Next

 BÀI 5:  SINH SẢN VÀ GIÁO DỤC CON CÁI

Tự bản chất, hôn nhân gia đình luôn hướng đến việc sinh sản con cái. Hai người yêu nhau, tận hiến cho nhau để trở nên một xương một thịt. Tình yêu tuyệt hảo ấy sẽ trổ sinh hoa trái nơi con cái của họ. Đó chính là ý nghĩa căn bản của việc sinh sản con cái.

I. SINH SẢN CON CÁI

1. Nền tảng của việc sinh sản

Đối với những người hiểu biết và có đức tin, nền tảng của việc sinh sản xuất phát từ lệnh truyền của Thiên Chúa và từ mục đích nội tại của giới tính.

Ngay từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã muốn loài người từng thế hệ nối tiếp nhau có mặt trên địa cầu này. Chính vì thế, Ngài đã tạo dựng nên người nam và người nữ, đồng thời chúc phúc cho họ và phán bảo: “Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất” (St 1,28).

Chúng ta nhớ lại việc Thiên Chúa tạo dựng nên con người có nam, có nữ, tuy họ có cùng một phẩm giá, nhưng lại thuộc về hai giới tính khác nhau. Hai giới tính nam và nữ, tuy khác biệt, nhưng bổ túc cho nhau; và một khi tác hợp luôn hướng đến một sự phong nhiêu làm tác sinh một sự sống mới mẻ. Do đó, tự bản chất, nam nữ luôn thu hút lẫn nhau. Sức hút ấy chỉ thể hiện một cách trọn vẹn khi họ trao hiến cho nhau cả tâm hồn và thể xác trong hôn nhân, nhằm tạo hạnh phúc cho nhau và hướng đến việc sinh sản con cái.

2. Giá trị của việc sinh sản

Sinh sản nơi con người là một hành vi nhân linh (lý trí + tự do +sinh lý), chứ không phải là một tác động thuần túy của bản năng như nơi các loài sinh vật khác (xc. GĐ 11). Chính hành vi nhân linh mang tính cao đẹp này thể hiện rằng con người trổi vượt hơn muôn loài muôn vật và làm nên giá trị đích thực của việc sinh sản.

Hơn nữa, do lệnh truyền của Thiên Chúa, dưới cái nhìn của đức tin, con người được vinh dự cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo dựng. Đó là một sự cộng tác tuyệt hảo. Con người là hồn và xác: xác thể được tạo nên lúc bào thai được tượng hình khi đôi bạn kết hợp với nhau; chính khi ấy, Thiên Chúa ban cho bào thai ấy một linh hồn bất tử. Sự kết hợp hồn-xác ấy đã tạo nên một con người mới.

3. Mục đích của việc sinh sản

Dưới cái nhìn của Kitô giáo, việc sinh sản nơi con người có ba mục đích rất rõ ràng: đó là để lưu truyền nòi giống, để loài người nối tiếp nhau thay mặt Thiên Chúa cai quản thế giới và để phát triển Hội thánh Chúa Kitô.

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận rằng, nhờ việc sinh sản mà cộng đồng nhân loại ngày càng đông đảo. Chúng ta hãy thử tưởng tượng, nếu bắt đầu từ hôm nay, không ai được sinh ra nữa, thì chỉ 50 năm sau, con người sẽ có nguy cơ bị tuyệt chủng. Có thể nói, sự sống con người chỉ vỏn vẹn trên dưới 50 năm, nhưng nhờ việc sinh sản, con người đã tồn tại trên trái đất hàng tỉ năm nay. Đó chính là một sự kỳ diệu. Và còn kỳ diệu hơn nữa khi nhờ việc sinh sản mà sự sống của cha mẹ sẽ sống mãi nơi con cháu.

Nòi giống loài người ngày càng phát triển đông đảo không ngoài mục đích quản trị vạn vật theo ý định của Thiên Chúa. Chúng ta nhớ lại lời Chúa trong sách sáng thế: “Ta hãy tạo dựng loài người theo hình ảnh Ta, để họ làm chủ cá biển, chim trời, muôn thú trên đất và mọi côn trùng sống trên mặt đất” (St 1,26).

Ngoài ra, việc sinh sản của người tín hữu còn nhằm mục đích phát triển Hội thánh Chúa Kitô, như hiến chế Mục vụ nói: nhờ đời sống lứa đôi, Thiên Chúa làm cho gia đình của Người ngày càng phong phú hơn (xc. MV 50).

II. GIÁO DỤC CON CÁI

1. Quyền và bổn phận của cha mẹ

Không chỉ sinh con rồi phó mặc con cái cho vận mệnh may rủi, nhưng các bậc cha mẹ phải có bổn phận giáo dục con cái, giúp đỡ chúng phát triển toàn diện. Đó là quyền lợi và bổn phận của cha mẹ, không ai có thể thay thế.

Đối với người công giáo, giáo dục con cái còn là một vinh dự (MV 50). Các bậc cha mẹ hãy ghi nhớ điều này: “Gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội mà không một đoàn thể nào khác có thể vượt qua được” (Tuyên Ngôn Giáo dục Kitô giáo, số 3).

Muốn giáo dục con cái thành công, cha mẹ cần lưu ý đến những điểm sau:

+ Cha mẹ phải nên gương sáng trước về nhân cách, đạo đức và những khả năng khác.

+ Cha mẹ phải thống nhất trong đường hướng và phương thức giáo dục.

+ Cần tìm hiểu tính tình, năng khiếu của con cái.

+ Tạo bầu khí gia đình lành mạnh, hòa thuận, thánh thiện và tín nhiệm nhau.

2. Những mục tiêu của việc giáo dục con cái

Các bậc cha mẹ công giáo phải luôn ý thức và giáo dục con cái mình về mọi mặt. Sau đây là ba điểm cụ thể nhất mà cha mẹ phải tập trung giáo dục ngay từ khi con cái con nhỏ:

- Giáo dục tôn giáo:

Việc đầu tiên của cha mẹ công giáo là phải dạy dỗ con cái về đức tin vào một Thiên Chúa, về đạo lý của Người và về cách sống đạo sao cho phù hợp với danh nghĩa là con cái Thiên Chúa. Muốn được như thế, trước hết, cha mẹ phải là người hiểu biết căn bản về giáo lý, phải siêng năng trong việc cầu nguyện, tham dự Thánh lễ và các bí tích nhằm nêu gương sáng cho con cái.

- Giáo dục nhân bản:

Về mặt nhân bản, cha mẹ phải dạy cho con cái biết cách nói năng và cư xử cho lễ phép. Trẻ em thường hay bắt chước ngôn từ và cách sống của người khác. Chính vì thế, ngoài việc làm gương cho chúng, cha mẹ còn phải quan tâm theo dõi con cái trong việc học hành, giải trí, cũng như những mối quan hệ bạn bè để có thể sửa dạy cho chúng kịp thời. Ngoài ra cha mẹ cũng phải biết cách dạy cho chúng những đức tính về cá nhân và xã hội như: cần, kiệm, liêm, chính, nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; công, dung, ngôn, hạnh… Ta nhớ câu: cái nết đánh chết cái đẹp.

- Giáo sức khỏe và giới tính:

Ngoài việc chăm lo cho con cái ăn uống đầy đủ, cha mẹ cũng phải biết giáo dục cho chúng biết ăn ở cho hợp vệ sinh, sạch sẽ cả thể xác lẫn trong tâm hồn. “Một tình thần sáng suốt trong một thân xác tráng kiện.” Chúng ta cũng phải dạy cho chúng biết rèn luyện thể dục nhằm tăng cường sức khỏe. Đồng thời dạy cho chúng biết tôn trọng thân xác là đền thờ của Chúa Thánh Thần.

Bên cạnh đó, tùy từng lứa tuổi, cha mẹ phải dạy cho con cái về giới tính. Đây là một vấn đề phức tạp và tế nhị, nhưng nếu chúng ta bỏ qua, chúng sẽ tò mò tìm hiểu nơi sách báo, bạn bè hay phim ảnh. Đó là một việc khá nguy hiểm, nhất là đối với những sách vở, bạn bè và phim ảnh thiếu nghiêm túc. Nếu được giáo dục đúng đắn, các em sẽ phát triển ổn định và quân bình.

III. VẤN ĐỀ KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH

1. Sinh con có trách nhiệm

“Hôn nhân và tình yêu vợ chồng tự bản chất qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái… Bổn phận sinh sản và giáo dục con cái phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thi hành bổn phận ấy, họ biết mình cộng tác với Thiên Chúa Tạo Hóa và như trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Người. Bởi vậy, họ sẽ chu toàn bổn phận mình với trách nhiệm của con người và của người Kitô hưữ” (MV 50).

Tuy vậy, vợ chồng cũng cần phải giải quyết vấn đề sinh sản như thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh riêng của từng gia đình, và nhất là phải phù hợp với luật luân lý. Thông điệp “sự sống con người”, số 10 viết: “Xét về những điều kiện thể lý, xã hội, kinh tế, tâm lý, tình phụ tử có trách nhiệm được rèn luyện hoặc do quyết định đã suy nghĩ và quảng đại để làm cho gia đình thêm đông, hoặc do quyết định tránh sinh thêm tạm thời hay vô hạn vì những lý do hệ trọng mà vẫn tôn trọng luật luân lý.”

Với giáo huấn trên đây, việc điều hòa sinh sản là hợp với ý Thiên Chúa. Gia đình đã đông con, nhưng nghèo túng, thiếu phương tiện ăn ở, giáo dục con cái cho xứng hợp và chu đáo, tình trạng bệnh tật… là những lý do chính đáng để vợ chồng quyết định ngưng sinh thêm con tạm thời hoặc vĩnh viễn. Tuy nhiên, để có được quyết định đúng đắn, vợ chồng cần phải có lương tâm ngay thẳng và chân chính, có tinh thần trách nhiệm cao, cùng với sự suy nghĩ chín chắn và quảng đại.

Dưới đây là một số nguyên tắc về luân lý mà vợ chồng phải tuân thủ khi có quyết định điều hòa sinh sản:

- Vợ chồng cần phải tuân theo tiếng nói chân chính và ngay thẳng của lương tâm. Về vấn đề sinh sản, vợ chồng phải ý thức mình không thể hành động theo ý thích hoặc vì những lý do chủ quan. Trái lại, phải học biết luật Chúa và áp dụng giáo huấn của Hội thánh vào hoàn cảnh của từng gia đình.

- Vợ chồng phải có tinh thần trách nhiệm. Khi nghĩ đến việc sinh con, phải nghĩ đến những điều kiện tạm đủ để nuôi dưỡng và giáo dục chúng cách xứng hợp. Không thể chấp nhận việc sinh sản bừa bãi, thiếu khả năng và phương tiện để nuôi sống và giáo dục con cái. Cũng không thể chấp nhận những người vì ích kỷ, lười biếng, vì sắc đẹp mà hạn chế số con một cách mù quáng và phi lý.

- Vợ chồng phải suy nghĩ về những lý do chính đáng và khách quan (đã đông con, thiếu phương tiện tối thiểu để nuôi dạy, tình trạng bệnh tật của cha mẹ…) khi quyết định nên hay không nên hạn chế sinh sản. Nếu đã quyết định hạn chế sinh sản, nhưng có thai ngoài kế hoạch, vợ chồng phải quảng đại chấp nhận đứa con như kết quả của tiến trình sinh lý tự nhiên mà Thiên Chúa đã thiết lập.

- Vợ chồng phải biết tôn trọng bản chất tự nhiên của việc kết hợp nam nữ và những khả năng sinh sản nơi con người. Phải tuân thủ những giáo huấn của Giáo hội về các phương pháp ngừa thai được sử dụng và những phương pháp không được sử dụng.

2. Giáo huấn về vấn đề kế hoạch hóa gia đình

Giáo huấn của Giáo hội luôn bênh vực sự sống và những định luật tự nhiên do Thiên Chúa thiết định. Vì thế, trong vấn đề kế hoạch hóa gia đình, Giáo hội cấm các Kitô hữu sử dụng những phương pháp ngừa thai nhân tạo.

Cụ thể, trong thông điệp “sự sống con người”, số 14 ghi rõ:

  • - Cấm mọi hình thức phá thai, vì sự sống là cao quí, thiêng liêng, dù là một thai nhi tàn tật, yếu đuối, hay quái dị. Trực tiếp phá thai là một tội ác có kèm theo hình phạt.
  • - Cấm những hành động trực tiếp ngăn cản sự thụ thai hoặc tạm thời hoặc vĩnh viễn trong giải phẫu triệt sản.
  • - Cấm sử dụng những dụng cụ ngừa thai nhân tạo.
  • - Cấm sử dụng các loại thuốc ngừa thai.
  • - Cấm việc “điều hòa kinh nguyệt”, vì đó là hình thức phá thai.

Giáo hội cấm những điều trên vì các phương pháp ngừa thai nhân tạo trực tiếp đối nghịch với bản chất và mục đích của hành vi trao hiến vợ chồng là hướng đến việc sinh con. Dù không phải bất cứ lần yêu thương thân mật nào cũng có thể có thai, nhưng việc trực tiếp ngừa thai là nghịch với bản chất và mục đích của hành vi đó.

Lý do thứ hai là vì một số phương pháp ngừa thai nhân tạo trực tiếp vi phạm đến sự sống mới vừa hình thành, chẳng hạn như việc sử dụng vòng xoắn, điều hòa kinh nguyệt hay nạo thai, phá thai…

Vì những lý do chính đáng, các Kitô được điều hòa sinh sản, nhưng chỉ được áp dụng những phương pháp ngừa thai theo tự nhiên, vì những phương pháp này không đối nghịch với bản chất và mục đích của hành vi trao hiến vợ chồng, không trực tiếp ngăn cản việc thụ tinh  và giết chết bào thai.

IV. VẤN ĐỀ HIẾM MUỘN

Trong xã hội, chúng ta gặp không ít những cặp vợ chồng không có khả năng sinh con, dù rằng họ rất ao ước điều đó. Tình trạng này được gọi là hiếm muộn. Điều này có thể là một thử thách khá lớn đối với đa số những cặp vợ chồng. Vì lẽ, con cái là kết quả của tình yêu vợ chồng, là niềm vui cho cha mẹ… không con gia đình mất đi một phần ý nghĩa đích thực của nó. Tình trạng hiếm muộn còn là một thử thách được tạo nên do quan niệm xã hội, chẳng hạn do áp lực của việc nối dõi tông đường. Chúng ta cũng chịu không ít mặc cảm trước những người khác…

Hiếm muộn có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau: có thể là do môi trường sống bị ô nhiễm hoặc do một trong hai người thường xuyên tiếp xúc với những hóa chất độc hại làm giảm khả năng sản sinh tinh trùng; có thể là do tình trạng căng thẳng kéo dài trong cuộc sống; cũng có thể là do một khiếm khuyết về thể lý từ một trong hai vợ chồng (không có tinh trùng trong tinh dịch hoặc có mà quá ít hay yếu ớt, do người phụ nữ không có khả năng sản xuất noãn trứng hay không thể dẫn trứng đến tử cung).

Đứng trước vấn đề hiếm muộn, trước hết, chúng ta nên gạt bỏ mọi mặc cảm đi khám bác sĩ chuyên khoa để tìm nguyên nhân, vì y khoa ngày nay có thể có những can thiệp hữu ích giúp cho đôi bạn có con cái nhưng lòng mong ước. Tuy nhiên, chúng ta cũng phải luôn tôn trọng luật luân lý. Vì thế, đối với các Kitô hữu, không được phép sử dụng những phương pháp thụ thai nhân tạo, như mượn tinh trùng, mượn trứng hay thụ tinh trong ống nghiệm… vì những phương pháp này đi ngược lại với luật tự nhiên.

Nếu đã tìm hiểu rõ về nguyên nhân, mà đôi bạn vẫn chẳng thể có con theo tự nhiên thì chúng ta chấp nhận điều này như một thử thách. Tình trạng này có thể là nguồn gốc của những nỗi buồn chán và đau khổ sâu xa, nhưng nó cũng có thể đem đôi bạn xích lại gần nhau hơn để cùng tìm ra ý nghĩa và sống trọn vẹn với nhau trong hôn nhân. Chúng ta có thể giải quyết vấn đề này bằng cách nhận con nuôi.

Prev5 of 10Next
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 6.5/10 (62 votes cast)
Giáo lý hôn nhân dành cho người sắp cưới hỏi, 6.5 out of 10 based on 62 ratings

Gửi phản hồi

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>