Khởi nghĩa Bãi Sậy

By on December 29, 2012

Khởi nghĩa Bãi Sậy được hình thành từ năm 1883 và phát triển thành cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ. Đinh Gia Quế lãnh đạo phong trào thời kỳ đầu (1883-1885), địa bàn hoạt động của nghĩa quân chỉ giới hạn trong vùng Bãi Sậy.

Giai đoạn thứ hai của Phong trào Cần Vương bắt đầu từ sau khi vua Hàm Nghi chết năm 1888 và kết thúc khi cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng thất bại năm 1896. Đặc điểm của giai đoạn này là phong trào không còn sự chỉ đạo của triều đình kháng chiến, mà chủ yếu do các sĩ phu, văn thân yêu nước khởi xướng và tiếp tục chỉ huy tại các địa phương. Tuy vậy, Phong trào Cần Vương vẫn tiếp tục phát triển, dần quy tụ vào một số trung tâm kháng chiến ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ như: Hương Sơn – Hương Khê (Hà Tĩnh), Ba Đình – Hùng Lĩnh (Thanh Hóa), Bãi Sậy – Hai Sông (Hải Dương, Hưng Yên).

Thủ lĩnh Khởi nghĩa Bãi Sậy

Thủ lĩnh Khởi nghĩa Bãi Sậy

Phong trào Bãi Sậy được hình thành từ năm 1883 và phát triển thành cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn nhất ở đồng bằng Bắc Bộ cuối thế kỷ XIX. Đinh Gia Quế lãnh đạo phong trào thời kỳ đầu (1883-1885), địa bàn hoạt động của nghĩa quân chỉ giới hạn trong vùng Bãi Sậy (gồm địa phận các huyện Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên).

Từ năm 1886 trở đi, Nguyễn Thiện Thuật trở thành thủ lĩnh cao nhất của khởi nghĩa Bãi Sậy. Nguyễn Thiện Thuật sinh năm 1844, người làng Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, Hưng Yên. Ông đỗ Cử nhân năm 1876, được bổ làm Tri phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, sau được phong chức Tán tương quân vụ (người đương thời thường gọi là Tán Thuật). Khi thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kỳ lần thứ 2 (1882), ông cùng một số sĩ phu yêu nước tỉnh Hải Dương dựng cờ mộ quân đánh giặc. Tháng 8-1883, Pháp đánh chiếm Hải Dương, ông đưa quân mưu cướp tỉnh lỵ, song việc không thành. Ông kéo quân lên Sơn Tây, hợp lực với Hoàng Tá Viêm chống Pháp. Năm 1883, triều đình Huế hèn nhát ký Hiệp ước Hác măng, đầu hàng Pháp. Nguyễn Thiện Thuật phẫn chí bỏ sang Trung Quốc. Tháng 7-1885, nghe tin Vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, ông lập tức trở về nước, tập hợp lực lượng, tổ chức phong trào kháng chiến tại Hưng Yên.

Dưới danh nghĩa Cần Vương, Nguyễn Thiện Thuật đã tập hợp, đoàn kết những đội quân nhỏ lẻ trong vùng và các vùng phụ cận, hình thành một phong trào phát triển lan rộng trong nhiều tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ. Đội ngũ tướng lĩnh của ông chỉ huy các đội nghĩa binh phối hợp tác chiến trên các địa bàn khác nhau, như Nguyễn Thiện Kế (Hai Kế), Nguyễn Thiện Giang (Lãnh Giang) đều là em của Nguyễn Thiện Thuật, hoạt động tại Mỹ Hào; Phan Văn Khoát, Ba Biểu ở Vĩnh Bảo, Đốc Tít, Tuần Văn hoạt động ở vùng Hai Sông (Kinh Môn, Hải Dương) … Ngoài ra, Nguyễn Thiện Thuật còn được nhiều chiến hữu trợ giúp, phần lớn đều là những quan lại trong phe chủ chiến, kháng mệnh triều đình tiếp tục chống Pháp sau các Hiệp ước 1883-1884 như Tạ Hiện, Nguyễn Cao, Ngô Quang Huy….

lược đồ Bãi Sậy

lược đồ Bãi Sậy

Địa bàn hoạt động của nghĩa quân Bãi Sậy rộng khắp hai tỉnh Hưng Yên, Hải Dương và một phần tỉnh Bắc Ninh, Hải Phòng, Quảng Yên. Nghĩa quân có hai căn cứ chính là Bãi Sậy và Hai Sông. Căn cứ chính Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật trực tiếp chỉ huy. Nghĩa quân lợi dụng địa hình hiểm trở, hoang vu, lầy lội của đầm hồ, xây dựng thành một căn cứ, đào hào và đặt nhiều cạm bẫy. Từ đây, nghĩa quân có thể đẩy mạnh hoạt động, khống chế các tuyến giao thông chính vùng đồng bằng Bắc bộ như Quốc lộ số 5 Hà Nội – Hải Phòng, Quốc lộ số 1 đoạn Hà Nội – Bắc Ninh, Hà Nội – Nam Định và tuyến đường thủy sông Hồng, sông Đuống, sông Thái Bình.

Ngoài Bãi Sậy, nghĩa quân do Nguyễn Đức Hiệu (tức Đốc Tít) chỉ huy xây dựng một căn cứ thứ hai tại Hai Sông, huyện Kinh Môn, Hải Dương. Căn cứ này nằm trong địa bàn nhiều núi đá vôi và hang động, thuận tiện để lập các cứ điểm đồn trú và phòng ngự khi bị tấn công hoặc bao vây.

Đặc điểm của khởi nghĩa Bãi Sậy là không tổ chức những đội quân lớn, mà phân ra nhiều đội, rải khắp các vùng đồng bằng. Mỗi đội khoảng từ 20-25 người, phân tán vào các xóm thôn, sinh hoạt cùng với nhân dân để hoạt động. Nguồn lương thực chính của nghĩa quân là dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, bên cạnh đó, nghĩa quân cũng tự canh tác, hoặc tham gia sản xuất với dân làng. Về vũ khí, chủ yếu là loại thô sơ như giáo, mác, mã tấu, gậy gộc…, nghĩa quân còn chế tạo được súng trường theo kiểu 1874 của Pháp. Nghĩa quân Bãi Sậy thực hiện phương châm đánh du kích, lấy ít địch nhiều. Nghĩa quân thường sử dụng yếu tố bất ngờ tiến hành các cuộc tập kích chớp nhoáng vào cứ điểm quân sự hoặc chặn đánh các đoàn xe chở vũ khí, lương thực thực phẩm của địch.

Một ưu điểm nổi bật của nghĩa quân Bãi Sậy là: Cùng với các hoạt động đấu tranh vũ trang, còn luôn chú trọng tới tuyên truyền vận động, tố cáo hành động xâm lược của Pháp, tác động binh lính địch trở về với nhân dân, đồng thời hô hào dân chúng ủng hộ nghĩa quân lương thực, vũ khí, tiền bạc, kêu gọi thanh niên trai tráng tham gia lực lượng kháng chiến… Việc Đội Văn trá hàng và vận động được hàng trăm lính khố xanh đem súng ống, đạn dược về với nghĩa quân tháng 9-1889 là một minh chứng sinh động cho công tác địch vận của khởi nghĩa Bãi Sậy.

Hoạt động trong gần 10 năm, nghĩa quân Bãi Sậy đã khiến cho quân Pháp nhiều phen khốn đốn, làm cho chúng rất khó khăn trong việc bình định và thiết lập nền thống trị thực dân ở các vùng thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Các năm 1885-1886, nghĩa quân ngoan cường chống trả lại nhiều cuộc càn quét quy mô của quân Pháp do các Đại tá Ne’grier, Donnier và Trung tá Godart chỉ huy vào căn cứ Bãi Sậy và các làng thuộc hai huyện Khoái Châu, Văn Giang. Vào tháng 11-1885, suốt nửa tháng liền nghĩa quân tại căn cứ Hai Sông đã cầm cự với những đợt tấn công ác liệt của một binh đoàn lớn do Falcon và Faure chỉ huy.

Bên cạnh việc chống càn quét, nghĩa quân còn chủ động tổ chức các đợt tập kích nhằm phân tán và tiêu hao sinh lực địch. Tháng 9-1885, Nguyễn Thiện Thuật 2 lần đưa quân tấn công thành Hải Dương. Tháng 6-1886, nghĩa quân đánh một đồn địch ở Cầu Đuống, tháng 9-1886 lại tấn công đồn Bần Yên Phú, đẩy mạnh các hoạt động ra các miền lân cận Bắc Ninh, Hà Nội. Tháng 12, nghĩa quân thu thắng lợi lớn trong trận đụng độ với quân Pháp, do Bazinet chỉ huy, tại Kẻ Sặt. Cuối năm 1888 đầu năm 1889, nghĩa quân còn tổ chức các trận đánh thắng địch ở Lang Tài (Bắc Ninh), Dương Hòa (Hưng Yên)… Hoạt động vũ trang dồn dập của nghĩa quân Bãi Sậy đã khiến cho lực lượng địch bị thiệt hại nặng nề, mặt khác làm cho chính quyền tay sai thân Pháp lo lắng, hoảng sợ. Thực dân Pháp phải thừa nhận: Việc kiểm soát nhiều nơi không còn thuộc về quan lại, mà đã do nghĩa quân quản lý. Tại một số địa phương, quan lại sợ hãi phải trao lại quyền hành cho lực lượng kháng chiến.

Trước sức phát triển mạnh mẽ của nghĩa quân Bãi Sậy, thực dân Pháp tập trung binh lực tiêu diệt phong trào. Cuối năm 1888, địch đưa tên Việt gian Hoàng Cao Khải mang quân đàn áp cuộc khởi nghĩa. Chúng thực hiện việc càn quét bên ngoài Bãi Sậy, dần hình thành thế bao vây từ bốn phía. Tuy đã chiến đấu rất ngoan cường, nhưng lực lượng nghĩa quân ngày càng bị giảm sút và rơi vào thế bị cô lập.

Giữa năm 1889, Nguyễn Thiện Thuật giao quyền chỉ huy lại cho em và các tướng lĩnh, vượt sông sang căn cứ Hai Sông. Tháng 7-1889, Đốc Tít tổ chức cho ông trốn sang Nam Ninh, Trung Quốc, rồi chết tại bên đó năm 1926, thọ 82 tuổi.

Cuối tháng 7-1889, Pháp tập trung binh lực bao vây và tấn công căn cứ Hai Sông. Địch chia làm 4 mũi tấn công, dùng tàu thuyền kiểm soát nghiêm ngặt đường thủy, thắt chặt vòng vây, đồng thời khủng bố nhân dân, cắt đứt mối liên hệ và tiếp tế giữa dân chúng và nghĩa quân. Trong tình cảnh thế cùng lực kiệt, đạn dược hết, lương thực cạn, Đốc Tít đành phải hàng và bị đày sang Angieri. Song cuộc khởi nghĩa vẫn được duy trì, cho đến năm 1892, thủ lĩnh cuối cùng là Đốc Vinh bị giết, khi đó phong trào Bãi Sậy mới hoàn toàn chấm dứt.

Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883-1892) là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất ở đồng bằng Bắc bộ cuối thế kỷ XIX. Cuộc khởi nghĩa đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá, nhất là việc chọn lựa phương thức hoạt động và hình thức tác chiến phù hợp với một địa bàn chật hẹp, dân số đông đúc.

Theo bienphong

 

*Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm  Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 7.7/10 (6 votes cast)
Khởi nghĩa Bãi Sậy, 7.7 out of 10 based on 6 ratings

Gửi phản hồi

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>