Hát then, đàn tính hướng đích Di sản

By on February 22, 2013

Hát then, đàn tính là một loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian đặc sắc đã hiện hữu từ lâu đời trong đời sống của cư dân các dân tộc Tày, Nùng, Thái thuộc địa bàn 16 tỉnh, thành phố trên toàn quốc.

Hát then

Hát then

Then được lưu giữ, phát triển thành một không gian văn hóa hát then, đàn tính hết sức đồ sộ về khối lượng, phong phú về thể loại, đa dạng về hình thức biểu diễn mà vẫn vẹn nguyên bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.
Biểu diễn hát then tại Liên hoan nghệ thuật hát then, đàn tính toàn quốc năm 2012 tổ chức tại TP Lạng Sơn.

Di sản nghệ thuật truyền thống độc đáo

Nghệ thuật hát then là sự tổng hợp hài hòa nhuần nhuyễn của nhiều yếu tố như: âm nhạc, múa, hát, hội họa, văn học, ngôn ngữ, tín ngưỡng tâm linh, phong tục tập quán… thể hiện một cách sinh động và hấp dẫn về nhân sinh quan, thế giới quan, tư tưởng, tình cảm và khát vọng của đồng bào Tày, Nùng, Thái đối với thiên nhiên, xã hội và cuộc sống.

Theo quan niệm dân gian, then có nghĩa là thiên, thiên tức là “trời”. Hát then được coi là điệu hát của thần tiên truyền lại. Chính vì thế, trong đời sống của người Tày cổ, nó được dùng trong những sự kiện trọng đại hay lễ cầu an, cầu mùa, gọi hồn… giúp gửi lời cầu khấn đến nhà trời. Những ông then, bà then chính là sứ giả của thần thánh, là người giúp họ gửi vía cầu thần, chuyển tải tâm tư, nguyện vọng của gia chủ tới thần linh.

Cộng đồng người Tày, Nùng, Thái vẫn lưu truyền câu chuyện, trong một giấc mơ vàng, họ được ban cho cây đàn trời (tính) và dạy cho các bài hát then. Tiếng đàn ngân nga, lời hát dìu dặt, đưa tâm hồn người nghe dù già hay trẻ, con gái hay con trai vào trạng thái bồng bềnh, mơ màng, huyền ảo… “không mắt nào nhắm nổi, không tai nào có thể làm ngơ”.

Hát then phải có đàn tính, nếu không “nó như bát cơm thiếu muối”, tiếng hát không có hồn, không bay cao, vang xa. Khi kết hợp giữa đàn tính với chùm xóc nhạc đeo vào ngón chân cái, phối hợp nhịp nhàng cùng giai điệu trầm bổng sẽ tạo nên một không gian đầy sức mê hoặc.

Phải xem và nghe then mới thấy phục những người hát then làm lễ. Giống như một diễn viên phải thể hiện nhiều vai cùng lúc, người được gọi là ông then, bà then miệng vừa hát theo những giai điệu biến chuyển linh hoạt, mặt vừa diễn theo những cung bậc cảm xúc, tay múa lúc chậm lúc nhanh, chân đi nhạc ngựa lúc khoan lúc nhặt, thỉnh thoảng lại diễn tả những động tác cưỡi ngựa, phất quạt, nhai chén…

Vì thế, những thầy then, đặc biệt là những thầy đã đạt đủ 13 quai – thang bậc cao nhất của những người biết hát then làm lễ luôn được dân làng tin tưởng, kính trọng. NSƯT người Nùng – Triệu Thủy Tiên (nguyên Trưởng đoàn Văn công Lạng Sơn), chia sẻ: “Thầy then là những người hát hay, đàn giỏi, lịch lãm, am hiểu văn hóa bản địa”.

Nếu then Tày có hai dòng nam và nữ, thầy then vừa gảy đàn vừa hát kết hợp chùm xóc nhạc đeo ở ngón chân cái đệm thì then Nùng lại do phụ nữ đảm nhận không phân biệt hai dòng. Then của người Thái trắng tương tự then Nùng, khi hành lễ, bà then tự đàn hát có người phụ giúp xóc nhạc đi cùng.

Như cây đa nhiều cành, nhiều rễ lan tỏa khắp nơi, ở đâu có dân tộc Tày, Nùng, Thái thì ở đó có hát then. Khi tiếng hát cất lên, người ta nhận ra đó là then ở tỉnh nào, huyện nào. Ở mỗi vùng, làn điệu then lại có những nét độc đáo riêng: Then Lạng Sơn tha thiết, đằm thắm; then Tuyên Quang dồn dập, mạnh mẽ như thúc quân ra trận; then Hà Giang nhấn nhá từng tiếng một, dìu dặt, ân tình; then Bắc Kạn thì thủ thỉ, tâm tình…

Là loại hình diễn xướng tổng hợp được thể hiện trong không gian nghi lễ nhuốm màu sắc tâm linh, thần thoại nhưng kỳ thực, những lời ca then lại sử dụng ngôn từ tượng hình, tượng thanh, lối so sánh, ví von phong phú, vô cùng bình dị, giàu hình ảnh, khi là lời tri ân hướng tới ông bà tổ tiên, khi tái hiện cuộc sống của người dân buôn làng từ lúc ở chốn đời thường đến khi về cõi ma mị.

Gìn giữ, phát huy những điệu hát then. Ảnh: THẾ ĐẠI

Nội dung các khúc hát then toát lên tư tưởng nhân văn sâu sắc, chứa đựng tình yêu thiên nhiên, tình yêu đôi lứa, răn dạy đạo lý làm người, ca ngợi quê hương đất nước. Giai điệu then mượt mà, sâu lắng, âm hưởng mềm mại, đầm ấm, tạo cảm giác vừa gần gũi vừa thiêng liêng…

Có lẽ chính điều này đã làm then mãi gắn bó và trở thành “đặc sản” tinh thần, là kho tàng di sản quý báu lưu giữ những giá trị văn học nghệ thuật ngàn đời của người Tày, Nùng, Thái.

Gìn giữ cho muôn đời sau

Hiện nay, hát then đang tồn tại ở hai dạng chính: Then cổ (then tâm linh phục vụ việc hành nghề tín ngưỡng) và then mới (then văn nghệ có cải biên, sáng tác dựa trên âm hưởng then cổ).

Ông Hoàng Đức Hậu, Vụ trưởng Vụ Văn hóa dân tộc, Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch (Bộ VH- TT& DL) thẳng thắn: Không thể bảo tồn nếu bỏ qua then cổ. Quan trọng là phải bảo tồn và phát huy được không gian diễn xướng then. Việc đổi mới và cách tân hát then hiện nay không có nghĩa là loại bỏ yếu tố nghi lễ, chính yếu tố nghi lễ mới làm cho con người gắn bó và say mê loại hình nghệ thuật này.

Then cổ mới là cái tinh túy, chứa đựng những giá trị văn học nghệ thuật ngàn đời của cha ông cần được trưng ra thế giới. Thế nhưng, hát then cũng như nhiều di sản văn hóa phi vật thể khác ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ mai một nghệ nhân, thiếu người kế cận, đặc biệt là việc lưu giữ các làn điệu then cổ.

Khác với ba lần tổ chức trước, Liên hoan nghệ thuật hát then, đàn tính lần thứ IV năm 2012 tại TP Lạng Sơn có sự hiện diện của Văn phòng đại diện UNESCO tại Việt Nam. 55 làn điệu then được 305 nghệ nhân, diễn viên, ca sĩ ở độ tuổi từ 10 đến 80 tuổi của 10 tỉnh: Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Đắk Nông, Điện Biên, Quảng Ninh, Lào Cai, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang thể hiện. Ngoài màn hát múa với chủ đề “Nguồn cội câu then” còn có những hoạt động mang tính chất “bước đệm” để hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO công nhận hát then, đàn tính trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Đoàn Nghệ thuật quần chúng tỉnh Bắc Giang có 25 diễn viên tham gia 6 tiết mục đoạt giải cả 6, trong đó có hai làn điệu then cổ. Diễn viên Vi Thị Thu Ba (Trung tâm VHTT huyện Tân Yên) ba lần liên tiếp dự Liên hoan hát then, đàn tính thì cả ba lần đều đoạt giải cao.

Bảo tồn hát then như thế nào để không mất đi bản sắc mà vẫn phù hợp với xã hội hiện đại đang là vấn đề cấp thiết đặt ra. Những năm qua, các địa phương có loại hình nghệ thuật này đã có những việc làm cụ thể như: Mở lớp truyền dạy cho các học viên, học sinh trường dân tộc nội trú; tuyên truyền quảng bá và xây dựng các đề án bảo tồn; thành lập các CLB hát then… Các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Kạn, Cao Bằng còn kết hợp hát then, đàn tính với làm du lịch, vừa góp phần nâng cao đời sống tinh thần, giúp đồng bào có công ăn việc làm, vừa quảng bá nghệ thuật đặc sắc thu hút du khách đến với quê hương cách mạng.

Thế nhưng, thực tế kết quả thu được vẫn rất hạn chế. Số lượng các bạn trẻ tham gia các lớp học không nhiều. Số nghệ nhân truyền dạy ngày càng ít. Các chuyên gia là những giáo sư nghiên cứu về văn hóa dân tộc và các nhà quản lý là giám đốc  Sở VH- TT & DL các tỉnh đều cho rằng, vấn đề tiên quyết là phải cần có chính sách đãi ngộ nghệ nhân hát then hợp lý, không chỉ mang tính chất khuyến khích mà còn phải xem đó như là yếu tố chính để “hút” giới trẻ tham gia vào việc lưu giữ, bảo tồn và phát triển hiệu quả loại hình nghệ thuật này.

Tuy nhiên, theo TS. Trần Hữu Sơn – Giám đốc Sở VH- TT & DL Lào Cai, với chính sách hiện nay, các nghệ nhân – những “báu vật sống” – mới chỉ được quan tâm, coi trọng về mặt tinh thần mang tính chất động viên, cổ vũ chứ chúng ta chưa quan tâm, đầu tư vật chất, dành một phần kinh phí thỏa đáng để hỗ trợ cho các nghệ nhân truyền dạy làn điệu then cho thế hệ trẻ và đào tạo người kế nghiệp.

Ở một góc nhìn khác, PGS.TS Lê Văn Toàn, Viện trưởng Viện Âm nhạc Việt Nam cho rằng, để bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát then, bên cạnh việc cần phải xây dựng cơ chế chính sách, chế độ đãi ngộ hợp lý đối với các nghệ nhân thì các cơ quan cũng phải tiến hành kiểm kê, thống kê tư liệu, tài liệu một cách nghiêm túc, tỉ mỉ di sản hát then từ quá khứ đến hiện tại ở các địa phương, từ đó mới đưa ra được các biện pháp bảo tồn cụ thể và hữu hiệu. Và, một trong những vấn đề quan trọng không kém khi bảo tồn và phát triển nghệ thuật hát then là phải phát huy được ý thức tự giác và sự trân trọng với di sản văn hóa của người dân.

Hàng năm, các địa phương cần tổ chức những hoạt động liên hoan giao lưu hát then ở mọi cấp vừa để biểu dương, khen thưởng kịp thời những đơn vị làm tốt, vừa là dịp quảng bá, giới thiệu, đưa nghệ thuật hát then của đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Thái đến được với đông đảo đồng bào trong và ngoài nước.

Trải qua thời gian, then đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu, là linh hồn trong đời sống văn hóa đồng bào Tày, Nùng, Thái. Hát then, đàn tính cũng như nhiều loại hình nghệ thuật dân gian khác là vốn di sản văn hóa quý báu của các thế hệ trước để lại, đáng được trân trọng, bảo tồn và phát huy. Đó cũng là niềm tự hào để đầu tư nghiên cứu một cách khoa học, giới thiệu rộng rãi tới mọi miền Tổ quốc và thế giới. Chính vì vậy mà mới đây, Bộ VH-TT&DL đã đệ trình Chính phủ Dự án bảo tồn và phát huy di sản văn hóa hát then, đàn tính, bước đầu lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận nghệ thuật hát then, đàn tính là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Hát then, đàn tính có được thế giới vinh danh hay không, vấn đề chỉ còn là thời gian.

Theo baobacgiang

* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 10.0/10 (1 vote cast)
Hát then, đàn tính hướng đích Di sản , 10.0 out of 10 based on 1 rating

Gửi phản hồi

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>