Hình ảnh bà trong thơ ca

By on February 19, 2013

Hình ảnh bà là một hình ảnh đẹp, một nguồn cảm hứng bất tận trong sáng tác thơ ca.

Mỗi sáng tác viết về bà đều rưng rưng xúc động, ở đó có khung trời của kí ức tuổi thơ trong sáng, hồn nhiên, tinh nghịch, có những kỉ niệm chứa chan về tình bà cháu, để rồi mỗi lúc đi xa môi ta thường cất lên hai tiếng Bà ơi! với biết bao cung bậc tình cảm của lòng tự hào, biết ơn, tiếc thương vô hạn.

Từ những câu ca dao mượt mà, tình tự đến những bài thơ hiện đại của Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Nguyễn Duy…, hình ảnh bà vẫn là một sức hấp dẫn lớn đối với nhà thơ và những người yêu thơ – một hình ảnh thiêng liêng, cao quý nhưng cũng rất gần gũi, thân thương.

Thi sĩ Xuân Quỳnh, nhớ về bà là nhớ về những kỉ niệm tuổi nhỏ của một thời hồn nhiên, vô tư, trong sáng. Bài thơ “Tiếng gà trưa” (1965) ra đời trong những năm chiến tranh gian khổ ác liệt của cuộc đấu tranh chống đế quốc Mĩ. Trên đường hành quân xa mỏi mệt, đói khát, người chiến sĩ bỗng nghe thấy tiếng gà trưa, tiếng gà nhảy ổ, một thứ âm thanh quen thuộc của làng quê, và chính âm thanh khỏe khoắn đầy sức sống ấy đã xua tan những vất vả nhọc nhằn, làm xao động trái tim thi sĩ, gợi về và mở ra cả một khung trời kỉ niệm: “Trên đường hành quân xa / Dừng chân bên xóm nhỏ / Tiếng gà ai nhảy ổ: ” Cục… cục tác cục ta” / Nghe xao động nắng trưa / Nghe bàn chân đỡ mỏi / Nghe gọi về tuổi thơ”.

Hình ảnh bà

Tiếng gà trưa là tiếng lòng của người cháu dành cho bà với biết bao tình cảm sâu nặng. Bằng những câu thơ ngũ ngôn giản dị, kết cấu theo phương thức tự sự – trữ tình, lối trùng điệp, nhà thơ đã vẽ ra một bức tranh sinh động về hình ảnh của một làng quê nghèo với hai nét vẽ chủ đạo in đậm trong tâm trí người đọc là hình ảnh bà và cháu. Nhớ về quê hương là nhớ về bà với tiếng gà trưa thân quen, da diết. Viết về kỉ niệm tuổi thơ, câu thơ Xuân Quỳnh ăm ắp những xúc động, lung linh sắc màu của tình thương yêu, nhưng cũng không khỏa lấp đi tiếng cười hồn nhiên, tinh nghịch của trẻ thơ. Nghe tiếng gà, thi sĩ thấy vọng về hình ảnh bà với lời mắng yêu đứa cháu nhỏ dại vì tội trộm xem gà đẻ:
Tiếng gà trưa /Có tiếng bà vẫn mắng:/- Gà đẻ mà mày nhìn /Rồi sau này lang mặt!/Cháu về lấy gương soi /Lòng dại thơ lo lắng
Nhớ về bà là nhớ dáng hình, cử chỉ, hành động dù bé nhỏ, đơn sơ nhưng đầy ắp nghĩa tình. Bà chắt chiu, lo lắng cho đàn gà cũng chính là lo cho cháu với tình thương yêu bao la: “Cứ hàng năm hàng năm / Khi gió mùa đông tới / Bà lo đàn gà toi / Mong trời đừng sương muối / Để cuối năm bán gà / Cháu được quần áo mới”. Để cháu có cái quần chéo go, ống lê dài sát đất; cái áo cánh Chúc Bâu, đi qua nghe sột soạt, bà đã phải thức khuya dậy sớm chăm sóc đàn gà, không quản ngại khó khăn, gian khổ. Bộ quần áo ấy dệt bằng tình thương yêu không thể diễn tả thành lời.

Với Xuân Quỳnh, bà cũng chính là mẹ, người luôn vỗ về, chở che, an ủi, người mang lại tiếng cười, niềm vui tuổi nhỏ, người thắp lên những hy vọng tương lai. Để rồi sau này khi lớn lên, bà lại là điểm tựa tinh thần vững chắc để mỗi khi chùng chân, mỏi mệt trên đường hành quân phải đối mặt với bom rơi đạn nổ, giữa sự sống và cái chết mong manh.

Cháu chiến đấu hôm nay/Vì lòng yêu Tổ quốc /Vì xóm làng thân thuộc /Bà ơi cũng vì bà /Vì tiếng gà cục tác /Ổ trứng hồng tuổi thơ
Những câu thơ đong đầy xúc cảm, chứa đựng những triết lí nhân văn sâu sắc. Tình yêu quê hương đất nước xuất phát từ tình cảm gia đình, từ những kí ức tuổi thơ. Người cháu sẽ cầm chắc tay súng, chiến đấu anh dũng kiên cường để cho tiếng gà trưa mãi mãi được cất lên. Và mỗi khi nghe tiếng gà trưa là hình ảnh bà lại xuất hiện với biết bao tình cảm trìu mến, thân thương. Bà chính là quê hương, đất nước, là biểu tượng của lòng nhân ái bao la.

Xuân Quỳnh đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật đồng hiện, từ tiếng gà trưa đã gợi ra bao kí ức về quá khứ êm đẹp, mộng mơ, trong sáng, thánh thiện; gợi về thực tại của chiến tranh sặc mùi thuốc súng nhưng không thể giết được âm thanh đồng quê, âm thanh hòa bình. Đồng thời mở ra viễn cảnh tương lai đầy hy vọng về tình bà cháu luôn tỏa sáng, là động lực, sức mạnh xua tan những trở ngại, chông gai.

Khi nhà thơ Bằng Việt đang là lưu học sinh ở nước ngoài, mỗi lần nhớ về quê hương, đất nước, thi sĩ lại nhớ về hình ảnh bếp lửa gắn với hình ảnh người bà thân thương “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”. Với lối thơ tự sự, mỗi dòng thơ là lời thủ thỉ tâm tình của người cháu đi xa nhớ về bà với biết bao tình cảm sâu nặng, da diết, khôn nguôi. Hình ảnh bếp lửa cùng với hình ảnh bà cứ trở đi trở lại trong bài như một nỗi ám ảnh của tình thương nỗi nhớ và lòng biết ơn sâu nặng. Bằng Việt đã tái hiện một cách rõ nét, sinh động khung cảnh của những năm chiến tranh và tình cảnh gia đình mình:
Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,/Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy./Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu,/Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói, quen với hình ảnh bà mỗi sớm mai thức dậy nhóm bếp lửa chờn vờn sương sớm, nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm. Tuổi thơ tác giả qua đi bên hình ảnh người bà thức khuya dậy sớm, nhẫn nại, chịu khó chắt chiu dành dụm những gì tốt đẹp nhất cho cháu. Giờ cháu đã khôn lớn đi xa, ở nơi đất khách quê người nhưng hình ảnh luôn thường trực trong trái tim với nỗi nhớ đong đầy niềm thương da diết. Dù cuộc sống hiện tại đủ đầy “Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu / Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” nhưng lòng dặn lòng không bao giờ được quên quê hương, nguồn cội. Trong xa cách cả không gian, thời gian, người cháu lại càng cảm thấy thương bà hơn, thương vùng quê đói nghèo xơ xác, thương cuộc đời bà cô đơn, vất vả, mòn mỏi, nhọc nhằn:
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc./Tu hú ơi chẳng đến ở cùng bà,/Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Viết về bà, câu thơ của Bằng Việt như kéo dài, ngân nga đưa người đọc về với không gian của kí ức tình thương. Nhớ bà là nhớ những năm tháng cùng bà trải qua những gian khổ của chiến tranh, nhớ những câu chuyện tâm tình thuở nhỏ. Và trong kí ức xa xăm ấy vẫn hiện hình rõ nét khung cảnh xác xơ của làng quê khi bom giặc dội xuống, tàn phá xóm làng, trong đó có ngôi nhà thân thương của bà:
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi,/Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi,/Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh./Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:/”Bố ở chiến khu bố còn việc bố,/Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,/Cứ bảo nhà vẫn được bình yên” ê hương, đất nước, người sẵn sàng hy sinh đời mình để thắp lên những ngọn lửa kì diệu, thiêng liêng “Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”.

Viết về bà, các nhà thơ thường dành những tình cảm sâu nặng với lòng biết ơn vô hạn. Nhưng quy luật của thời gian đời người thường nghiệt ngã. Lúc bé ta được bà chăm ẵm, vỗ về, nuôi nấng khôn lớn, trưởng thành. Nhưng khi những đứa cháu lớn khôn, “thành người”, muốn báo đền công ơn dưỡng dục của bà thì bà không còn nữa. Nhà thơ Nguyễn Duy trong “Đò Lèn” đã thành thật nói lên quy luật giản đơn của muôn đời nhưng không mấy khi ta nhận ra:
khi tôi biết thương bà thì đã muộn/bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi!
Câu thơ giản dị nhưng chứa đựng triết lí sâu sa, như một lời cảnh tỉnh, nhắc nhở mỗi chúng ta khi may mắn còn bà hãy cố gắng đáp đền công ơn trời biển đó bằng cách sống thật tốt để không phụ lòng bà mong đợi. Bao trùm lên câu thơ của Nguyễn Duy là lời hối lỗi, sự ăn năn xúc động muộn mằn, một sự day dứt khôn nguôi vì thương nhớ bà vô hạn.
“Đò Lèn” sáng tác năm 1983 trong dịp nhà thơ trở về quê hương sống với những hồi ức đan xen buồn vui thời thơ ấu. Mẹ Nguyễn Duy mất sớm, nhà thơ ở với bà ngoại từ nhỏ. Trong tâm hồn Nguyễn Duy, bà ngoại là hình ảnh gần gũi, thân thuộc nhất. Ngay cái tên nhan đề “Đò Lèn”, đã gợi ra trong tâm trí người đọc về một vùng quê nghèo xứ Thanh, quê hương tác giả, nơi mà tuổi thơ Nguyễn Duy có những kỉ niệm ngọt ngào về bà yêu quý. Bài thơ pha màu tự sự trữ tình dẫn dắt người đọc về với những kỉ niệm buồn vui của thời trẻ thơ nông nổi. Không cầu kì, gọt giũa, trau chuốt ngôn từ, câu thơ Nguyễn Duy như lời nói thường tái hiện một cách chi tiết những dấu mốc thời gian gắn với những kỉ niệm không bao giờ quên:
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá/níu váy bà đi chợ Bình Lâm/bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật/và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần.
Hình ảnh bà cháu bước thấp bước cao trên con đường đến chợ trong những năm tháng đói khổ, rồi những trò chơi tinh nghịch, tò mò của tuổi thơ dại gắn với những địa danh quen thuộc đã hằn sâu trong tâm trí tác giả. Và cái vô tư, hồn nhiên của tuổi thiếu thời đâu cảm nhận được nỗi vất vả, nhọc nhằn của bà: “Tôi đâu biết bà tôi cơ cực thế / bà mò cua, xúc tép ở đồng Quan / bà đi gánh chè xanh Ba Trại / Quán cháo, Đồng Giao thập thững những đêm hàn”.
Dù cuộc sống đói nghèo, gian khổ “cái năm đói, củ dong riềng luộc sượng” nhưng cảm giác được sống bên bà, được bà quý mến, chở che, đùm bọc, thắp lên trong tâm trí trẻ thơ những tình cảm trong sáng, thánh thiện, đó là niềm hạnh phúc lớn lao, cao cả “cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”. Để rồi mỗi khi nhớ về bà là hình ảnh của một người chân chất mộc mạc, giản dị lại hiện ra. Bà không phải là Tiên Phật, thánh thần mà cái dáng thân cò lặn lội, thập thững những đêm hàn, bà đi bán trứng ở ga Lèn mãi là hình ảnh đẹp ám ảnh mãi trong suy nghĩ của người cháu về một cuộc đời bình dị, thân thương.


Thơ Nguyễn Duy như muốn nhắc nhở người đọc hãy trân trọng, nâng niu những tình cảm đẹp đẽ, hãy dành những tình cảm tốt nhất cho người thân yêu trước khi quá muộn màng. Bài thơ khép lại nhưng mở ra bao vấn đề về lẽ sống, tình thương để những thế hệ sau sống tốt hơn, nhân ái hơn.


Hình ảnh bà mãi là hình ảnh đẹp, khơi nguồn sáng tạo cho thơ ca. Bao nhiêu sáng tác về bà là bấy nhiêu những xúc cảm chân thành, tha thiết mà tác giả muốn bày tỏ, kính dâng lên bà kính yêu. Bà chính là điểm tựa tinh thần, là dòng suối mát lành, trắng trong nuôi dưỡng, nâng đỡ, chở che, ấp ủ, chắp cánh cho những ước mơ tuổi thơ dại. Những bài thơ về bà được viết lên bằng chính con tim tác giả, thể hiện lòng thành kính, tôn vinh, biết ơn bà sâu sắc bởi cuộc đời bà giống như những đóa sen hồng luôn tỏa ngát hương thơm tô thắm cho đời.


Theo nguoihanoi
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 9.9/10 (8 votes cast)
Hình ảnh bà trong thơ ca, 9.9 out of 10 based on 8 ratings

Gửi phản hồi

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>