Chuyện chưa kể về vị trạng nguyên cuối cùng của Việt Nam.

Trong lịch sử khoa bảng của Việt Nam, trạng nguyên Trịnh Huệ là trạng nguyên cuối cùng của nước ta.

Ông không chỉ nổi tiếng là người tài giỏi mà ông còn có công dạy nhiều thế hệ học trò thành đạt trong thi cử.

Từng bị Chúa bắt giam vì nghi làm phản
Trong suốt gần một ngàn năm của chế độ khoa cử nước ta (1075 – 1919), Thanh Hóa có 242 vị tiến sĩ và một số trạng nguyên. Trạng nguyên Trịnh Huệ là trạng nguyên cuối cùng, vì các khoa thi sau không ai đỗ trạng nguyên.

Theo ThS Nguyễn Quốc Huy: Tương truyền Trịnh Huệ là dòng dõi chúa, song gia cảnh gia đình ông rất nghèo, đến đời bố ông đã chuyển nơi sinh sống, từ xã Sóc Sơn (huyện Vĩnh Phúc, tỉnh Thanh Hóa) về vùng đất của huyện Quảng Xương để lập nghiệp. Ban đầu gia đình ông ở bãi Cồn Thần, nay là phần đất của hai trường THCS Nguyễn Du và trường THPT Quảng Xương I. Sau này vì điều kiện sinh sống nơi đây khó khăn, nên gia đình ông chuyển về làng Ngọc Am, xã Bất Quần để sinh sống. Tại vùng đất này, ông cụ đã kết duyên với một thôn nữ đẹp người, đẹp nết lại hay lam hay làm và đã sản sinh ra một nhân tài cho đất nước: Trạng nguyên Trịnh Huệ.

Theo “Trịnh Vương ngọc phả” thì trạng nguyên Trịnh Huệ còn có tên là Trịnh Tuệ, vì có tên trùng với vợ Trịnh Sâm là Trịnh Đặng Thị Huệ, nên đã đổi tên. Trịnh Huệ là cháu đời thứ 4 của chúa Trịnh Tùng. Tuy thuộc dòng dõi nhà chúa quyền thế, song từ nhỏ ông đã thể hiện là đứa trẻ thông minh, cần cù chịu khó học hành. Lớn lên ông dốc sức học tập dùi mài kinh sử mong chiếm được bảng vàng. Người xưa từng nói: Trịnh Huệ liếc mắt qua một lượt thuộc ngay mười hàng chữ, chục năm sau có thể đọc lại vanh vách.

Vào năm Bảo Thái thứ tư đời vua Lê Dụ Tông (1723), Trịnh Huệ thi Hương lần đầu và đỗ Hương Cống, được chúa Trịnh Giang mời vào cung Tân Nhân giao cho chức phó Tri Hình Phiên. Tại khoa thi năm Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Hựu thứ hai đời vua Lý Ý Tông (1736) Trịnh Huệ đỗ trạng nguyên. Lúc đầu ông làm quan chức Sơn Nam thừa Chánh sứ rồi đến Thượng thư Bộ Hình, vài năm sau lại được thăng chức Tham tụng – một chức quan ngang tể tướng trong triều.

Theo sử chép năm 1740 có một lần chúa Trịnh Doanh đã nghi ông về phe với Hoàng Công Phụ để làm phản, gây loạn trong triều. Thế nên bắt giam ông vào ngục để điều tra. Năm 1741, Chúa xét thấy ông bị oan đã tha bổng và phong ông làm Tế Tửu Quốc tử giám. Học vấn và tài năng của ông được người đời trọng dụng, nhưng ông gặp không ít gian truân.

Trịnh Huệ nổi tiếng là người thông minh, đỗ đạt cao và được trọng dụng là điều tất yếu. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, việc gian lận trong thi cử ngày càng trầm trọng đến mức triều đình phải tổ chức thi lại cuộc thi Hương năm 1726. Nhiều người chạy theo hư danh, lấy tiền để mua quan bán chức. Từ năm 1730, trong các kỳ thi Hương ai nộp ba quan tiền thì miễn khảo hạch coi như đỗ sinh đồ (tú tài). Khoa cử mất đi kỷ cương, thế nên nhân tài cũng dần vắng bóng.

Cũng chính vì đường quan lộ của Trịnh Huệ thăng tiến nhanh, ông lại là con cháu nhà chúa. Thế nên, có nhiều dị nghị đố kỵ với ông. Giai thoại kể rằng: Trước những lời dị nghị, đồn đại ảnh hưởng đến uy tín của mình, Trịnh Huệ đã nói với mọi người rằng: “Tôi đỗ nhất Tam khôi mà lại nói là Vương phủ thiên vị thì còn gì gọi là văn chương nữa. Để khỏi nghi ngờ xin chư vị đem các câu hỏi khó ở bất cứ trong sách nào về kinh, sử, y học bói toán… tôi sẽ trả lời”. Mọi người tranh nhau hỏi, ông đều trả lời trôi chảy.

Hỏi về sách vở Trung Hoa, không tìm ra được điểm yếu của Trịnh Huệ, sau đó họ quay sang hỏi những câu hỏi hóc búa về thực tế ở Việt Nam để khuất phục ông. Có một người nêu câu hỏi: Chiếc đũa là vật thiêng không có chân lúc nào thì gãy, lúc nào thì mất, vậy nó chạy đi đâu? Ở trong kinh điển nào? Trịnh Huệ mỉm cười, khoan thai đọc hai câu thơ của Lê Thánh Tông: Trời còn giành để An Nam mượn/Vạch chước binh Ngô mãi mới vừa.

Rồi ông nói tiếp: “Đó chẳng phải là câu thơ của Lê Thánh Tông bản Triều Vịnh núi Chiếc Đũa, nơi khởi phát đế nghiệp mở ra công cuộc bình Ngô của nước ta hay sao? Núi Chiếc Đũa không có chân mà chạy về góc đó”.

Quả là ở Thanh Hoá nơi cửa biển Thần Phù (nay thuộc địa phận làng Văn Đức, xã Nga Phú, huyện Nga Sơn) có ngọn núi đứng một mình tên chữ là Chích Trợ Sơn, gọi nôm là núi Chiếc Đũa, hình thù giống như chiếc cọc cắm giữa biển làm cột mốc cho thuyền bè qua lại. Từ xưa, các vua chúa qua đây đều có thơ đề vịnh, ca ngợi cảnh đẹp của phong cảnh nơi đây.

Mở lớp dạy học cho dân nghèo dưới chân núi Voi
Theo chân chị Lê Thị Nhàn, cán bộ Văn hóa xã Quảng Thịnh, chúng tôi tới khu danh thắng núi Voi. Điều đặc biệt ở nơi đây từ tên gọi làng đến đình chùa cũng được đặt gắn liền với con voi. Thậm chí, vị trạng Nguyên Trịnh Huệ cũng được người người dân gọi cái tên thân mật là “Trạng Voi”.

Chị Nhàn giải thích rằng, cái gốc của tên gọi đó nó gắn liền với dãy núi Voi. Theo các cụ cao niên kể lại, núi Voi đã có từ xa xưa, tương truyền xưa kia sau khi bà Triệu bị thua trận, những chú voi đã chạy tán loạn, trong đó có con voi đầu đàn đã chạy về đây hóa đá tạo thành dãy núi Voi. Từ đó, người dân nơi đây lấy tên con vật này để đặt tên cho địa danh nơi đây. Trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược, ngọn núi này là nơi tập kết lương thực, đạn dược. Sau đó sẽ được chuyển ra dòng sông nhà Lê để đưa vào tiền tuyến miền Nam.

Ông Lê Văn Quý, nguyên Bí thư Chi bộ thôn Trường Sơn cho biết, xưa kia sau khi trạng nguyên Trịnh Huệ giã từ sự nghiệp quan trường đã trở về đây để mở lớp dạy học cho người dân trong vùng. Ông đã bỏ tiền thuê người xây dựng một căn nhà nhỏ để hằng ngày người dân tới học chữ. Đặc biệt, ông không phân biệt giàu nghèo, già trẻ gái trai. Miễn ai có tinh thần học tập là ông sẵn lòng dạy miễn phí.

Trải qua thời gian, hiện ngôi nhà năm xưa của trạng nguyên Trịnh Huệ không còn nữa. Tại vị trí xưa kia cụ dạy học cho người dân trong làng đã được thay thế bằng một ngôi chùa Voi khang trang. Phía bên cạnh của ngôi chùa vẫn còn hai chiếc cột đá, đây là vật dụng năm xưa cụ Trịnh Huệ dùng để treo kẻng gõ tập hợp học sinh đến lớp học. Trong số đó, có nhiều học trò sau này đã đỗ đạt cao và làm quan. Khi ông mất học trò đã xây dựng nhà thờ, thờ phụng người thầy đáng kính. Khi làm đốc học ở Thanh Hóa Lê Quý Đôn đã đến thăm đền thờ của cụ Trịnh Huệ, thấy nhà cửa xập xệ, ông đã quyên góp tiền để sửa chữa lại và khắc biển treo trước đền là “Trạng nguyên từ” để người đời ngàn năm ghi nhớ.

Xưa kia, vua Tự Đức đi ngang qua nơi đây thấy dãy núi hình con voi nguy nga đồ sộ, dưới là dòng sông nhà Lê thơ mộng chữ tình. Vì thế, ông đã làm một bài thơ bằng chữ Hán và yêu cầu Tổng đốc Thanh Hóa lên đỉnh núi Voi để khắc ghi. Bài thơ đó nói về cảnh đẹp và sự tài giỏi, đức độ của trạng nguyên Trịnh Huệ.

Theo baotanglichsu
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here