Từ ngôi đền đến ngôi đình

Thường đi đến đâu, chúng ta cũng gặp đình, chùa, đền, miếu, nhưng nguồn gốc chúng ra sao, quan hệ chúng với nhau như thế nào, thì hầu như vẫn chưa có sự trả lời thỏa đáng. Qua thực tế điều tra, khảo sát chúng tôi thấy đôi điều cần giải quyết làm sáng tỏ nguồn gốc ngôi đình làng.

I. Ngôi đền:
Từ thế kỷ 15 trở về trước, người ta chỉ biết đến đền, miếu với chức năng tôn giáo mà chưa ai biết đến ngôi đình. Đọc “Viện điện u linh” ta thấy có nhắc tới một số ngôi đền như đền Bố Cái Đại Vương, đền Lý Nam Đế,..

Ở Hà Bắc (nay là Bắc Ninh, Bắc Giang) hiện còn nhiều ngôi đền, miếu cổ nhưng tên gọi của chúng thường bị lẫn lộn.

Ngôi đền được lập ra để thờ thần thánh, những người có công với làng, với nước. Đền là nơi tiến hành lễ nghi tôn giáo của người xưa nhằm cầu sự phù hộ của thánh thần cho con người. Thần được thờ thường có hai loại: Phúc thần và tà thần. Đó là những “thành hoàng” của thế giới linh thiêng bảo trợ cho một làng. Do vậy nơi thờ thần thánh phải được đặt vào vị thế đẹp, có vị trí thuận lợi nhất của vùng đó để phân biệt với “đất rừng” của ma quỷ và đất làng xã của người trần tục.

Ngôi đình Việt Nam
Ngôi đình Việt Nam

II. Ngôi đình:
Khoảng giữa thế kỷ 16 về sau, đã xuất hiện một công trình có chức năng tôn giáo song song tồn tại với ngôi đền, đó là đình làng.
Đình làng là nơi thờ thành hoàng, tiến hành nghi lễ tôn giáo, mở hội và cũng là nơi tụ họp của đàn ông để bàn định việc làng, việc nước. Do vậy, ngôi đình có hai chức năng, tôn giáo và xã hội – hay đúng ra là biểu hiện chức năng xã hội.

Thần thánh được thờ trong đình làng thường là thành hoàng bảo trợ cho làng xóm và cũng chính là thánh thần được thờ ở đền miếu của làng xã. Vì vậy, thành hoàng ở đình cũng gồm: phúc thần và tà thần. Những vị thành hoàng này được đặt trong khám thờ hậu cung. Cửa hậu cung (còn gọi là cửa cấm) chính là ranh rới phân biệt thế giới thần linh với trần tục, các quan viên, hương lão phải tự giác tuân theo những quy định khi hành lễ.

III. Sự chuyển hóa từ ngôi đền đến ngôi đình
Từ thực tế điều tra, khảo sát các di tích ở các làng cổ Hà Bắc, chúng tôi nhận thấy các ngôi đình có liên quan chặt chẽ đến ngôi đền, ngôi đền ra đời sớm hơn. Hiện nay ở Hà Bắc có nhiều ngôi đền và ngôi đình cùng tồn tại, mà thành hoàng ở đình khi tế lễ phải rước bài vị chân tượng từ đền sang: đền Đồng Kỵ và đình Đồng Kỵ, đền Cao Tổ Vương và đền Then, đền Và và đình Chóa,…

Theo các tư liệu điều tra, chúng tôi thấy: thường trước khi làm đình, dân làng đã lập miếu đền thờ cúng. Đến khi có đình, dân làng hàng năm mở hội, ra đền tế lễ và rước ngai thờ, bài vị, bát hương về đình. Ví dụ như ở Đồng Kỵ, ba làng: Cò, Cọc, Cời cùng làm chung một ngôi đình lớn, nhưng khi hành lễ, cả ba làng đều phải đến cửa đền rước bài vị, bát hương về đình vào ba ngày khác nhau. Đình Đại Than với Cao Lỗ Vương hay các đền đình khác cũng vậy.

Về mặt kiến trúc, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy phần chuôi vồ của ngôi đình (còn gọi là hậu cung) chính là bóng dáng ban sơ của ngôi đền trổ cửa đầu đốc mà cửa cấm là “ngưỡng phân ranh”, còn tiền đường chính là cái đường (hay đại đình) – kiêm thêm chức năng xã hội là nơi tụ họp của đàn ông, của quan viên hương lão…Chính vì vậy, ngôi đình là nơi lắp ghép kiến trúc bằng cách nâng hai cột quân của gian giữa mái sau lên bằng cột cái để chuyển làm cột cái hậu cung. Ngoài ra còn một số ngôi đình không nâng cột hiên mà nâng cột hiên tòa tiền đường hoặc làm đình nhị cấp tương tự như đền. Kiểu lắp ghép kiến trúc trên đã phá bỏ quy cách nhà hai mái thông thường, tạo cho ngôi đình cổ một kiểu thức, một quy mô khác ngôi nhà gỗ cổ truyền. Việc bài trí và đồ thờ của đền và đình cũng tương tự như nhau.

Còn với những ngôi đình có tuổi muộn, thì đều phải rước bài vị, bát hương từ các đền lớn về thờ như đền thờ thánh Tam Giang hay Cao Sơn – Quý Minh đại vương có hàng trăm cửa đình thờ vọng.

Vì vậy có thể nói rằng, sự kế thừa, lắp ghép, mở rộng của ngôi đình có nguồn gốc từ những ngôi đền xa xưa. Chúng có mối quan hệ khăng khít với nhau, là sự kế thừa và phát triển, là nơi dừng chân mỗi con người khi muốn tìm một nơi tĩnh lặng, linh thiêng.

Theo baotanglichsu
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here