Người thầy nổi danh với kỳ tích có nhiều học trò đỗ Đại khoa nhất

Đó là người thầy đồ Trần Ích Phát, quê ở làng Triều Dương, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

Tuy sử sách viết về ông không nhiều, nhưng sự nghiệp dạy học của ông có thể xếp vào vị trí hàng đầu trong lịch sử sư phạm Việt Nam. Bởi vì ông có số lượng đông đảo học trò đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa trong lịch sử khoa bảng ở nước ta.

Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì  người thầy Trần Ích Phát sinh ra trong một gia đình nông dân bình thường chưa từng có ai đỗ Đại khoa. Ông sinh và mất năm nào cũng chưa xác định được. Nhưng tương truyền vào thời đầu Lê- Sơ (1428-1527), Trần Ích Phát rất thông minh, từng nổi danh thần đồng, kinh sách chỉ cần đọc qua một lần là thuộc. Đọc cái gì thì ông phải hiểu kỹ và giảng giải được cho mọi người hiểu mới thôi. Lớn lên tiếng tăm thần đồng của ông càng lẫy lừng. Ông dốc chí theo đuổi con đường khoa bảng. Nhưng số phận ông thật không may mắn. Ông lận đận trong thi cử, thi mãi mới đỗ đầu ở trường thi Hương mà thôi. Ông tiếp tục thi Hội (từ những năm 1443-1445) nhưng rồi vẫn không toại nguyện.

Thi cử mãi không đạt, ông bèn về quê mở trường dạy học. Hay tin ông dạy học, nhiều trò từ khắp nơi đến xin học. Tiếc rằng tài liệu ghi chép về việc dạy học của ông thật hiếm nhưng vẫn còn lưu lại trong sử sách một số việc. Vào khoa thi Đình năm Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức (năm 1472), với đề văn sách hỏi về việc ”Đế vương trị thiên hạ” do vua Lê Thánh Tông đích thân ra đề, thì trong bài Luận của Vũ Kiệt- một trong những học trò xuất sắc của thầy Trần Ích Phát đã viện dẫn những sách vở kinh điển nổi tiếng và sử dụng kinh nghiệm tư duy sáng tạo để làm một bài nghị luận sắc sảo, lời văn  lưu loát dài đến hơn 3 vạn chữ. Khi chấm bài, nhà vua và các quan giám khảo đều lấy làm hài long về kiến thức uyên bác của Vũ Kiệt. Trong bài luận đó, Vũ Kiệt đã đề xuất với triều đình những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn các tệ nạn xã hội nhằm chấn hưng đất nước. Chẳng hạn khi vua hỏi: “Tại sao quan lại được chọn cử nghiêm ngặt, lại có thêm các chức quan ngự sử, giám sát theo dõi, kiểm tra mà vẫn có nhiều người tham ô, hối lộ, làm những việc đồi bại?”, Vũ Kiệt đã lập luận: “Việc giáo dục phẩm chất cho quan lại phải tiến hành ngay từ lúc họ ngồi trên ghế nhà trường. Nếu khi học, họ đã có tư tưởng dối trá, mẹo mực, thì khi ra đảm nhiệm việc quan làm sao có thể có được phẩm chất thanh liêm, trong sạch”. Vũ Kiệt còn đề xuất muốn giữ kỷ cương phép nước thì trước tiên phải thực hiện thật nghiêm túc từ vua cho đến triều đình, bởi lẽ không thể nước đầu nguồn đục mà lại đòi hỏi nước cuối nguồn phải trong! Qua bài “Đối đình sách” của mình, Vũ Kiệt như một tiếng trống thức tỉnh triều đình. Vua Lê Thánh Tông khi đó đang tiến hành chỉnh đốn bộ máy nhà nước, cải cách hành chính đã nhận thấy Vũ Kiệt chính là người mình đang cần để giúp việc trị nước, an dân. Vũ Kiệt đỗ Trạng nguyên khoa thi đó. Nhà vua đã bổ ông vào làm ở Hàn lâm viện với chức Hàn lâm thị thư, sau thăng lên chức Tả thị lang kiêm Đông các hiệu thư. Trạng nguyên Vũ Kiệt được đương thời ca ngợi là “bậc thiên tài kiệt xuất, đức độ vẹn toàn”, là tấm gương sáng cho hậu thế noi theo. Tên tuổi của ông không chỉ được khắc trên bia Tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long mà còn được khắc trên bia đá dựng ở Văn Miếu (Bắc Ninh).

Các đề thi Đình thời kỳ này, vua thường nêu ra những vấn đề cai trị đất nước; ví dụ như năm Nhâm Thìn (1472) đề thi là ”Đế vương trị thiên hạ”; năm Giáp Thìn (1484) là “Triều Tống dùng Nho sĩ”; năm Đinh Mùi (1487) là ”Đạo trị nước”… Ở khóa thi năm Đinh Mùi, Trần Sùng Dĩnh, học trò của Trần Ích Phát đỗ Trạng nguyên. Những đề thi đó cho thấy sự trăn trở của vua Lê Thánh Tông muốn các sĩ tử đem tài năng, hiến kế giúp vua “trị quốc, bình thiên hạ”. Tiếc là do thời gian bị thất lạc, người ta không thể tra cứu được các bài luận Trạng nguyên, Bảng nhãn, Tiến sĩ của học trò thầy Trần Ích Phát đã có những phát hiện, cống hiến xuất sắc như thế nào cho đất nước. Nhiều người trong số học trò của Trần Ích Phát được đảm nhận các chức vụ cao nhất trong triều đình, giúp vua chấn hưng đất nước như Trạng nguyên Trần Sùng Dĩnh; Trạng nguyên Vũ Kiệt, Trạng nguyên Nghiêm Viện; các Bảng nhãn Nguyễn Huân, Nguyễn Đức Huấn…; các Thám hoa Lê Ninh, Trần Bích Hoàng…

Theo Thư tịch cổ về khoa cử Nho học ở nước ta thời phong kiến, cả nước có 56 Trạng nguyên. Dưới thời vua Lê Thánh Tông trị vì (1460-1497), (cũng là thời thầy Trần Ích Phát nổi danh về nghề dạy học) cả nước ta có 9 Trạng nguyên; 10 Bảng nhãn; 10 Thám hoa; 146 Hoàng giáp; 136 Tiến sĩ. Trong số đó, học trò của thầy Trần Ích Phát có đến 3 người đỗ Trạng nguyên; 4 người đỗ Bảng Nhãn; 6 người đỗ Thám Hoa; 10 người đỗ Hoàng Giáp; 51 người đỗ Tiến sĩ. Những con số trên đủ thấy công lao và thành tích của thầy đồ Trần Ích Phát lớn và vinh dự thế nào.

Vua Lê Thánh Tông khi còn đang là Hoàng tử đã biết và mến mộ tiếng tăm của thầy đồ Trần Ích Phát. Người đời đó truyền rằng: có đến ngót nửa số quan trong triều đình vua Lê Thánh Tông là học trò của thầy đồ Phát. Vì vậy, sau này khi lên làm vua, Lê Thánh Tông đã trọng dụng ông. Trần Ích Phát được vua đặc cách ngang hàng với Tiến sĩ, phong cho ông chức Giám sát Ngự sử. Sau, ông lại được thăng lên chức Hiến sát sứ rồi Đông các Đại học sĩ.

Trong số 28 ngôi sao thường gọi là Nhị thập bát tú trong Hội Tao Đàn của vua Lê Thánh Tông sáng lập có rất nhiều vị đại khoa giỏi văn chương chữ nghĩa, trong đó có một số học trò của Trần Ích Phát như: Trạng nguyên Trần Sùng Dĩnh, Thám hoa Nguyễn Đức Huấn, Thám hoa Lưu Ngạn Thư…Nhiều người trong số họ còn có các tác phẩm văn học được chép trong sách “Toàn Việt thi lục”.
Trần Ích Phát khởi nghiệp làm thầy đồ dạy học rất thành công, rồi sau đó được vua trọng dụng làm quan. Người ta bảo ông là bậc đại trường thọ trong thời Lê sơ vì ông hưởng thọ đúng trăm tuổi mới mất. Sự nghiệp dạy học của ông thật đáng khâm phục!

Theo lichsuvietnam
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here