Nguyên phi Ỷ Lan – cô Tấm xứ Bắc

By on 01/06/2014

Dưới thời vua (cha) Lý Thánh Tông (1054 – 1072) và vua (con) Lý Nhân Tông (1072- 1127) trị vì gần 73 năm(1054-1127), non sông Đại Việt đạt đỉnh cao của “Quốc Thịnh Dân An”, mấy lần đánh thắng quân Tống, có lần cho quân vượt biên giới đánh vào Châu Ung, Khâm, Liêm; có bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam, do danh tướng Lý Thường Kiệt thời vua Lý Nhân Tông viết.

Triều Lý cực thịnh thời kỳ 1054 – 1127 dưới triều vua Thánh Tông, vua Nhân Tông “mở mang văn hóa nước nhà, đắp đê để giữ ruộng nhà cho dân, Lý Thường Kiệt là hiền nhân, đuổi quân nhà Tống, đánh quân Chiêm Thành. Nói về sự cường thịnh của nhà Lý không thể không nói về Nguyên phi Ỷ Lan – một phụ nữ có tài phò vua trị quốc bình thiên hạ dưới hai đời vua (chồng và con).

Mùa xuân năm 1063 vua Lý Thánh Tông đã ở tuổi tứ tuần, nhưng không có con trai kế vị, thần dân trong kinh ngoài trấn ai cũng buồn lo. Nhà Vua xa giá đến “cầu tự” ở chùa Dâu vùng Kinh Bắc. Trong lúc vua vãn cảnh đẹp ở vùng thôn dã, dân chúng vui mừng đón vua. Một thôn nữ vừa hái dâu vừa hát chẳng hề bận tâm đến không khí vui mừng. Đó là cô gái Lê Thị Yến. Vua đi qua, bắt chuyện làm quen, cô gái quỳ tâu:
– Thiếp là con kẻ bần gia, phải làm lụng tối ngày để phục vụ song thân, không dám ngơi tay để xem “long nhan” (mặt rồng).
Qua trao đổi chuyện, thấy thôn nữ đẹp người, đẹp nết, hay chữ, vua đã hạ chỉ đưa cô gái về triều, xây riêng cho cô cung điện, đặt cho cô tên “Ỷ Lan” (đứng dựa gốc cây lan). Từ năm Quý Mão (1063), Lê Thị Yến, cô gái làng Thổ Lỗi, xứ Kinh Bắc gần kinh Thành Thăng Long trở thành Nguyên phi, rồi Hoàng hậu nhà Lý. Vài năm sau nàng sinh cho vua một hoàng tử, đặt tên là Càn Đức, đem lại niềm vui lớn cho hoàng tộc và nhân dân cả nước.
Khác với các phi tần trau chuốt nhan sắc để được vua sủng ái, Ỷ Lan Nguyên phi rất quan tâm đến quốc gia đai sự. Bà khổ công học tập, miệt mài đọc sách, nghiền ngẫm nghĩa sách. Các triều thần đều ngạc nhiên trước tri thức, sự hiểu biết của Nguyên phi.
Hơn nửa thế kỷ (l063 – 1117) là Nguyên phi, rồi Hoàng hậu, Nhiếp chính Triều Lý, Ỷ Lan Nguyên phi đã tỏ ra là một phụ nữ có tài kinh bang tế thế phò vua giúp nước, là một cộng sự uyên bác của chồng là vua Lý Thánh Tông.

Theo sử sách, một lần giải tâu về kế “trị quốc bình thiên hạ”, Ỷ Lan tâu rõ với Nhà vua:
– Muốn nước giàu dân mạnh, hệ trọng nhất là phải biết nghe điều can gián của bậc trung thần, lời nói ngay nghe chướng tai đấy, nhưng lại có lợi cho việc làm, thuốc đắng  uống khó chịu nhưng khỏi được bệnh. Điều thứ 2 : phải xem quyền hành là thứ đáng sợ! Quyền lực và danh vọng thường làm thay đổi con người, tự mình tu điều đức để giáo hóa dân thì sâu hơn mệnh lệnh, dân bắt chước người trên thì nhanh hơn pháp luật. Nước muốn mạnh, Hoàng Đế còn phải “nhân từ với muôn dân”. Phàm xoay cái thế thiên hạ đều ở “trị” chứ không phải ở “sức”, thu tấm lòng thiên hạ ở “nhân” chứ không phải ở “bạo”. Hội tụ đủ các điều đức đẹp ấy, nước Đại Việt ta sẽ vô địch đời đời.

Về kế sách gìn giữ “an ninh quốc gia” Đại Việt, Nhà vua đã vô cùng ngạc nhiên từ những lời tâu của Hoàng hậu.
– Các bậc tiền vương xưa không sợ dân giàu, mà chỉ sợ nước không yên!
Giải đáp thắc mắc của Vua, Hoàng hậu nói:
– Tâu bệ hạ: giàu mà không yên thì lúa có đầy kho cũng không thể ngồi mà an hưởng được.
– Nhưng sự “không yên” có phải do sự “không giàu” mà ra đâu?
– Tâu bệ hạ, chẳng phải là sợ giàu mà là từ sự “muốn giàu”. Người giàu lại muốn giàu thêm, người nghèo muốn thành giàu, thiên hạ ai chẳng muốn giàu, tính tham dục tự nhiên đã sẵn có trong lòng. Vì muốn giàu, kẻ này thì bất nhân tàn ác, kẻ kia lại sinh lòng phản trắc, xem nhẹ tình cốt nhục cha con anh em, họ đâu còn biết được lễ nghĩa, liêm sỉ là gì nữa.
– Vậy thì Trẫm phải làm gì đây?
– Tâu bệ hạ, nếu muốn giàu mà quên lễ nghĩa dân thì giàu, nước sẽ yếu. Xin bệ hạ đã thương dân như con thì nên có chung sự răn dạy rộng rãi bắt buộc với mọi người trong thiên hạ, chỉ khi nào từ quan đến dân đều biết trọng từ cách làm người hơn tham vọng làm giàu, biết kiềm chế lòng tham dục thì ngày ấy nước mới có kỷ cương, phép tắc, mới trở nên vững vàng được. Một bậc “minh quân” chính là phải kiềm chế được ý muốn làm giàu “vô hạn” của kẻ có chức có quyền, phải lo cho dân có cơm ăn áo mặc…

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông đích thân chỉ huy quân đi đánh giặc Chiêm Thành. Trước khi đi, vua dặn dò và trao quyền nhiếp chính cho Ỷ Lan. Cũng năm đó, nước Đại Việt có trận lụt lớn, mùa màng thất bát, nhiều nơi sinh loạn. Nhưng nhờ có kế sách đúng đắn, thông minh, quyết định táo bạo của Nguyên phi Ỷ Lan mà loạn lạc được dẹp yên, dân đói được cứu sống. Dân biết ơn, đã tôn Ỷ Lan là Quan Âm nữ và lập bàn thờ bà.

Lại nói chuyện vua đánh giặc lâu không thắng, bèn trao lại quyền binh cho Lý Thường Kiệt, rồi đem một cánh quân nhỏ quay về. Đến Châu Cừ (nay thuộc Tiên Lữ -Hưng Yên), vua hay tin Ỷ Lan vẫn vững vàng đưa đất nước vượt qua nhiều khó khăn, giữ cảnh thanh bình thịnh trị. Nhà vua bỗng thấy hổ thẹn với nàng bèn đem quân quay trở lại quyết đánh cho kỳ thắng mới về.

Năm 1072, vua Lý Thánh Tông đột ngột băng hà, Triều chính không tránh khỏi rối ren. Khi đó, Hoàng hậu Thượng Dương dựa vào thế lực của Thái sư Lý Đạo Thành gạt bỏ Ỷ Lan ra khỏi triều đình. Một thời gian sau (khoảng 4 tháng), với sự nỗ lực của Lý Thường Kiệt khi đó là Thái Úy, mới đưa Thái tử Càn Đức (con đẻ của Ỷ Lan)  lên làm vua; lúc đó Ỷ Lan lên làm Thái hậu Nhiếp chính . Khi danh đã chính, ngôi đã thuận, Bà  đã cùng với Lý Thường Kiệt lúc này lên chức Tể tướng  nắm quyền điều hành, đưa nước Đại Việt trở lại ổn định và nhanh chóng thịnh cường.

Năm Đinh Tỵ (1077), quân Tống phát binh sang xâm lược nước ta. Vì quốc gia, dân tộc, Hoàng hậu Nhiếp chính Ỷ Lan đã gạt bỏ hiềm khích cũ, đã vời Lý Đạo Thành khi đó ở Nghệ An về lại triều; phục chức Thái sư cho ông để ông cùng lo việc triều chính; giúp cho Tể tướng Lý Thường Kiệt chuyên tâm lo đánh giặc. Nhờ vậy mà nước Đại Việt đã chiến thắng quân Tống hùng hổ tưởng đâu “làm cỏ” được nước ta. Có được chiến thắng này, phải nói rằng:  công lao của Hoàng Thái hậu nhiếp chính Ỷ Lan là rất lớn.
Bên cạnh những việc triều chính đại sự, Ỷ Lan còn là một người rất sùng kính Phật giáo, và làm nhiều việc từ tâm giúp đỡ người nghèo.

Những năm cuối đời, Ỷ Lan phát tâm rất chăm đi lễ chùa và cúng tiến, tu bổ, xây dựng chùa chiền nhiều nơi. Người ta cho rằng từ sâu thẳm trong tâm hồn bà, có lẽ bà luôn day dứt về việc đã để Hoàng hậu Thượng Dương và 72 thị nữ vào tội chết. Đến với đạo Phật, bà mong được thanh thản trong tâm hồn và cầu mong sẽ được tha thứ. 72 ngôi chùa do Ỷ Lan xây dựng thể hiện tấmlòng của bà với Hoàng hậu Thượng Dương và 72 thị nữ vô tội.

Từ một cô Tấm xứ Kinh Bắc, trở thành một vị Nguyên phi được vua sủng ái, rồi sau trở thành Hoàng Thái hậu Nhiếp chính, Ỷ Lan đã có nhiều công lao đối với đất nước và dân chúng trong những thời khắc vận nước có nhiều biến đổi cũng như trong cuộc sống thời bình. Khi Ỷ Lan mất đi, dân chúng kính trọng và tưởng nhớ công ơn bà, đã xây chùa thờ bà ở nhiều nơi và phong bà là Phật Bà Quan Âm.

Khu di tích Đền thờ Nguyên Phi Ỷ Lan ngày nay ở cách Hà Nội 17 km, nằm ở quốc lộ 5 đi Hải Dương- Hải Phòng. Đền được xây dựng từ thế kỷ XI thờ bà ngay khi bà còn đang sống. Đền  và chùa thờ bà còn có tên gọi là Đền “Bà Tấm”, chùa “ Bà Tấm” được xây dựng theo kiến trúc cung đình thời Lý, có 72 cửa, thuộc vào loại đền cổ nhất ở nước ta. Trong khu di tích này có bức tượng  Nguyên phi Ỷ Lan cao 9,1m, nặng 30 tấn được đúc bằng đồng nguyên chất, năm 2010. Hàng năm cứ vào dịp từ 19 đến 21 tháng 2 âm lịch, nhân dân trong vùng và du khách thập phương lại hành hương về Dương Xá tham dự lễ hội truyền thống kỷ niệm ngày Nguyên phi Ỷ Lan đăng quang và ngày 24, 25 tháng 7 âm lịch, ngày mất của bà.

Theo lichsuvietnam
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *