Đền Nguyệt Hồ là một trong những di tích cổ gắn liền với hàng ngàn năm lịch sử và văn hiến của quê hương Bắc Giang. Ngôi đền nằm ở vùng đất có nhiều di tích thuộc thượng lưu dòng sông Thương. Dọc ven dòng sông này có rất nhiều các điểm di tích thờ Mẫu nhưng được quan tâm và chú ý nhiều hơn là đền Nguyệt Hồ, thuộc xã Hương Vĩ, huyện Yên Thế.

 

Những năm gần đây đền Nguyệt Hồ là điểm nhấn tâm linh tín ngưỡng của đông đảo nhân dân và du khách thập phương. Hàng năm, có tới hàng ngàn lượt khách từ khắp các tỉnh, thành trong nước hành hương tìm về đền Bà Chúa Nguyệt Hồ để xin lộc, cầu tài, cầu bình an trong cuộc sống.

Theo thần tích và truyền thống ở vùng Bo (Yên Thế), sự tích chúa Nguyệt Hồ được ghi chép lại như sau: Cuối đời Hùng Duệ Vương, quân Thục ồ ạt mang quân sang xâm chiếm giang sơn họ Hùng. Hùng Duệ Vương bèn hạ chiếu đi các nơi tìm người tài giỏi để giúp vua trừ giặc. Lúc bấy giờ ở vùng Bo có ông Cao và ông Quý ra ứng tuyển và được vua chọn đi dẹp giặc. Bái tạ ơn vua, hai ông kéo quân về đây ngày đêm luyện tập binh mã chờ thời cơ diệt giặc. Khi quân Thục kéo sang,  hai bên giao chiến ác liệt, thế giặc mạnh, quân ta yếu, hai ông Cao – Quý chỉ huy quân sĩ rút lui theo triền sông Thương rồi lựa thế đất hiểm trở quay lại giết giặc. Thuyền chiến dùng dằng chưa đi được  vì các bà con gái lưu luyến yêu mến vùng đất này nên đã rời thuyền trở lại vùng Bo. Hai ông chỉ huy quân sĩ quay lại đánh giặc, bị bất ngờ phản công, quân Thục tự nhiên vỡ trận thua to, những kẻ tháo lui đều bị quân sĩ truy đuổi tiêu diệt hết. Thắng giặc, hai ông trở về khao thưởng quân sĩ rồi hồi triều báo công với vua. Trước khi hồi triều, hai ông phi thẳng ngựa đến khu Rừng Từ để nhìn bao quát vùng Bo một lần nữa rồi bỗng nhiên hoá tại đó. Phu nhân và con gái biết tin nhớ thương nên cũng tự hóa theo, hôm đó vào ngày 15-2. Sau khi đánh thắng quân Thục, nhà vua phong cho các danh tướng là Thượng Đẳng Phúc Thần và truyền cho các địa phương, nơi các danh tướng đánh giặc, xây dựng đền miếu để thờ phụng mãi mãi. Triều vua Lê Đại Hành có sắc phong cho các vị thần ở vùng Bo là: “Cao Sơn Quý Minh đại đức hùng lược trác vĩ Đại Vương Thượng đẳng thần”. Đến triều Nguyễn địa phương xây dựng miếu thờ ở Huyết Hồ, xin triều đình cho thờ nữ thần là Nguyệt Nga phu nhân và con gái của vị thần họ Cao. Triều vua Tự Đức năm thứ ba (1850) ban sắc phong cho Nguyệt Nga phu nhân và ban cho dân xã vùng Bo phụng thờ. Sau lại có sắc phong cho Nguyệt Nga công chúa. Đời vua Duy Tân năm thứ nhất (1907) cũng có sắc phong cho Nguyệt Nga phu nhân.

Đền bà chúa Nguyệt Hồ có lịch sử từ lâu đời, xưa ngôi đền có một cung đặt tượng thờ Nguyệt Nga công chúa và bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu. Qua thời gian, ngôi đền đã được nhân dân địa phương và các nhà hảo tâm công đức tu sửa tôn tạo nhiều lần thêm phần khang trang. Quần thể di tích hiện nay gồm các hạng mục công trình: Cổng đền, khu sân đền, hồ Nguyệt, khu đền chính gồm toà đại bái và hậu cung, kiến trúc theo lối cổ truyền thống. Trong hậu cung đặt tượng bà chúa bản đền, chúa Nguyệt Hồ (tức Nguyệt Nga công chúa) và bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu gồm hàng Thánh Mẫu tới hàng Quan, hàng Chầu, ông Hoàng, các cô, cậu và Đức Thánh Trần. Hai cung ngoài toà đại bái cũng bài trí tượng thờ theo đạo thờ Mẫu. Như vậy, theo bề dày lịch sử, đền Nguyệt Hồ đã được phủ lên nhiều lớp tín ngưỡng, ngoài thờ “Bà chúa Nguyệt Hồ – Chúa Bói”, còn thờ “Tam toà Thánh Mẫu”, thờ Cô, thờ Cậu, thờ Sơn Trang, thờ các ông Hoàng và đức Thánh Trần Triều… Từ lâu đền Nguyệt Hồ đã được phủ lên một lớp tín ngưỡng “thờ Mẫu”. Theo các nhà nghiên cứu thì tín ngưỡng thờ Mẫu vốn là tín ngưỡng của người Việt cổ có từ lâu đời và ngày càng phát triển.

Tiệc của bà chúa Nguyệt Hồ là ngày 15-2 âm lịch. Trong ngày lễ chính, nhân dân vùng Bo rước kiệu từ đình Bố Hạ về đền Hạ, đền Trung và đền Thượng. Sau khi tế lễ tại đền Trung lại rước kiệu về đền Nguyệt Hồ. Tại đây phần tế lễ chúa Nguyệt Hồ được tiến hành với những nghi lễ độc đáo. Bài văn cúng dâng chúa Nguyệt Hồ được thể hiện qua hình thức hát văn. Người được chọn diễn xướng hát văn phải có giọng hát hay, đàn giỏi, gia đình không có tang bụi. Trong nghi thức thờ Mẫu ở đền bà chúa Nguyệt Hồ còn có  lệ hầu bóng được diễn ra trong các dịp đầu năm và trong ngày lễ hội. Khách về lễ Mẫu và hầu bóng chủ yếu là khách thập phương từ Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Nội… tụ hội về đây để được dâng văn hầu chúa Nguyệt Hồ.

Loading...

Hội đền Nguyệt Hồ nằm trong không gian chung của tín ngưỡng  thờ Mẫu theo tuyến hành lễ đền Nguyệt Hồ – đền Suối Mỡ – đền Bắc Lệ – đền Mỏ Ba – đền Thượng Đồng Đăng và cuối cùng xuôi về đền Bà Chúa Kho – Bắc ninh.

                                                                                  Nguồn: Báo Bắc Giang

  Văn hầu chúa Nguyệt hồ

Thắng cảnh nguyệt hồ ai đi thắng cảnh nguyệt hồ

Đẹp bờ chúa bói vườn đào động tiên

 

Ai lên tới tỉnh Lạng Sơn

Ai qua tỉnh bắc phải vào lạng cao

Hỏi thăm ga Kép đi vào

Hỏi thăm ga Kép đi vào

Đền thờ chúa bói vườn đào động tiên

Bốn mùa hoa trái dâng lên.

 

Chúa sai thập nhị tiên nàng

Khăn điều áo thắm vội vàng bước ra

Đông phương cô cả dâng hoa

Đông phương cô cả hái hoa

Cô đôi dâng thuốc cô ba dâng trầu

Cô nàng tư gối xếp theo sau

Bài sai đối triệu lục cung

Nàng ân nàng ái vốn dòng sơn trang

Chúa bà hay măng trúc măng giang.

Về đồng làm lễ dâng nhang

Dâng lên cho tới thượng thiên tam tòa

Tay dâng nhang lễ mẫu từ bi

Tam tòa tiên thánh chứng tâm cho thanh đồng.

Dáng người tiên nữ đang đi về bản đền đây.

Dáng dáng người tiên nữ đang đi về bản đền đây

Chiều quang sáng tỏ lưng trời

Một bầu xuân sắc tốt tươi rườm rà

Lên ngàn xanh lắm quả nhiều hoa.

Ngàn xanh lắm quả nhiều hoa

Chúa bà đốt đuốc vào ra sớm chiều

Đồ mây nặng trĩu lưng đeo

Đồ mây nặng trĩu lưng đeo

Gót tiên hải sảo mĩ miều xinh tươi

Con dao quai túi dắt bên người.

Đôi chân chúa bà đã bước tới đây

Gieo mầm nhân nghĩa bắc cầu vinh hoa

Chúa đẹp như sao bắc đẩu ngân hà….

Hạt mưa nắng giữa rừng xanh xanh. Mặt nước lung linh sông hồ. Đi tìm chim, chim líu lo hót lên đất nước hồ xanh xanh. Họa mi chim ghé bay xà, rồi bay về đường không còn xa. Bay về chim hót cho ai tiếng ca vang lừng.

Một đời làm phúc cứu dân

Thánh tiên truyền xuống đặt tên chúa Nguyệt Hồ

Uy nghi đưa tới kinh đô

Xem cửa nhà gia sự  hôm nay

Mồ mả đất cát chúa bà chỉ cho

Nhân duyên chồng vợ căn do

Xem nhân duyên chồng vợ căn do

Hợp tan tan hợp chỉ cho rõ ràng.

Còn những việc trong ngoài hay dở

Việc trong nhà nhầm lẫn chúa soi cho

Chúa phán rằng đệ tử đừng lo

Có căn có số thì phải ra mà trình đồng.

Dâng tam đầu cửu vĩ thuyền rồng

Dâng tam đầu cửu vĩ thuyền rông

Ngựa voi lốt trắng người hầu theo sau

tiến xong dâng cả quạt chầu.

Chèo vào chúa dạo cảnh bồng lai

Tới hồ ba bể mười hai cửa rừng

Rừng hoa quế, rừng lan, rừng cúc

Dạo chơi trong rừng đào, rừng trúc, đồi thông

Rừng thông điệp điệp trùng trùng

Núi rừng quan quách cảnh rừng bao la

Đầu non thác đổ mưa sa ầm ầm

Có chim kêu, vượn hót hổ gầm

Chim kêu vượn hót hổ gầm

Múa rìu vang động đầu ghềnh cuối hang

Con đường đi uốn khúc qua sườn đồi

Đường đi uốn lượn quanh đồi

Dân cư thì vắng vẻ, bản làng đông hơn

Mấy nhà sàn mấy nóc đứng trơ

Nóc nhà sàn mấy nóc đứng trơ

Bên thì chúa ngự, mười hai cô theo hầu

Non xanh cảnh đẹp muôn màu

Trần gian còn nhớ ơn người

Nhớ bà chúa Nguyệt miệng chúa cười nở hoa

Nay chúa đi dưới bóng trăng ngà.

 

Xe loan thánh giá hồi cung.

 

[youtube id=”25ebRbI1jxk” width=”620″ height=”360″]

 

 

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo