Cách nay 65 năm, theo Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập. Chiến thắng Phai Khắt, Nà Ngần và những chiến công oanh liệt được ghi vào những trang chói lọi của Lịch Sử dân tộc ta.

Phai Khắt, Nà Ngần
Phai Khắt, Nà Ngần

Ngay sau khi ra đời, thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, “trận đầu nhất định phải thắng”, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã lập chiến công oanh liệt: Ngày 25-12-1944, hạ đồn Phai Khắt; ngày 26-12-1944, hạ đồn Nà Ngần. Những chiến thắng này báo hiệu cho toàn dân tiến lên trên con đường vũ trang tranh đấu để chuẩn bị cho thời kỳ đứng lên giành lấy chính quyền, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc. Hai chiến thắng đó đã mở đầu truyền thống đánh thắng trận đầu, đánh liên tục và nhiệm vụ nào cũng hoàn thành của quân đội ta. Và những tháng ngày “trứng nước” đó, đội quân 34 chiến sĩ nhanh chóng phát triển trong nhiệm vụ vũ trang tuyên truyền, mở rộng cơ sở chính trị trong quần chúng, hợp nhất với Đội Cứu quốc quân thành Việt Nam giải phóng quân, cùng các “đội quân đàn em” khác trên mọi miền đất nước đóng vai trò nòng cốt hỗ trợ cho toàn dân ta vùng dậy khởi nghĩa giành thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, chính thức tuyên bố với toàn thể quốc dân Việt Nam và các nước trên thế giới: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần, lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.

Để giữ vững quyền tự do và độc lập vừa giành được, dân tộc ta đã phải trải qua hai cuộc kháng chiến ròng rã 30 năm (1945-1975) đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đều có tiềm lực và sức mạnh kinh tế, quân sự hơn ta gấp nhiều lần.

Khi bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược, quân đội ta ước chừng tám vạn người mà thực chất mới chỉ là đội quân du kích, trang bị vũ khí rất thiếu thốn, thô sơ. Vừa xây dựng, vừa chiến đấu, đội quân ấy liên tiếp mở các cuộc phản công và tiến công trên khắp chiến trường: đập tan cuộc càn quét, cướp phá của gần hai vạn quân Pháp khi chúng tiến công Việt Bắc trong Thu Đông 1947; tập trung lực lượng mở chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 đập vỡ tuyến phòng thủ đường số 4 mà thực dân Pháp cố công xây dựng, chấm dứt thời kỳ ta buộc phải chiến đấu trong vòng vây. Tiếp đó, quân ta mở ba chiến dịch tiến công: chiến dịch Trần Hưng Đạo, chiến dịch Hoàng Hoa Thám, chiến dịch Hà Nam Ninh; tiến công gần 30 tiểu đoàn bộ binh, pháo binh và các đơn vị kỹ thuật của quân Pháp tại mặt trận Hòa Bình và giành thắng lợi vang dội. Trong cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, để đập tan nỗ lực quân sự cuối cùng của phía Pháp, Đảng ta chủ trương điều một bộ phận chủ lực mở các cuộc tiến công nhằm những hướng địch sơ hở ở miền rừng núi, đồng thời đẩy mạnh chiến tranh du kích vùng sau lưng địch ở đồng bằng. Lực lượng vũ trang ba thứ quân của ta đã thực hiện thành công chủ trương chiến lược này, giành thắng lợi to lớn và toàn diện trong tổng tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, góp phần quyết định buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt tham vọng tái chiếm Đông Dương, sau chín năm ròng rã lao vào cuộc chiến tranh xâm lược và chịu nhiều tổn thất nặng về sinh lực, của cải và uy tín.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kéo dài 21 năm, Quân đội Nhân dân Việt Nam Anh hùng một lần nữa vào trận với quyết tâm to lớn: cùng toàn dân giải phóng miền nam, bảo vệ miền bắc, thống nhất đất nước. Truyền thống, kinh nghiệm tích lũy từ những năm kháng chiến chống thực dân Pháp tiếp tục được những người lính “Bộ đội Cụ Hồ” phát huy lên tầm cao mới trong những điều kiện mới. Trên chiến trường miền Nam, dựa vào thế trận chiến tranh nhân dân ngày càng phát triển trên ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị), kết hợp chặt chẽ và nhịp nhàng phương thức tác chiến của chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, lực lượng vũ trang ba thứ quân đã đẩy mạnh tiến công địch về quân sự, lập nên những chiến công vang dội gắn với những địa danh đã trở thành bất tử, như: Ấp Bắc, Ba Gia, Đồng Xoài, Núi Thành, Vạn Tường, Plây Me, Đất Cuốc, Bàu Bàng, Đắc Tô – Tân Cảnh, “Tam giác sắt” Củ Chi – Bến Cát, chiến khu Dương Minh Châu, Đường 9 – Khe Sanh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Đường 9 – Nam Lào… Đó còn là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, giáng đòn chí tử vào ý chí xâm lược của kẻ thù bằng cách đánh chiến lược mới rất độc đáo và sáng tạo của chiến tranh nhân dân Việt Nam; là cuộc tiến công chiến lược 1972 đập vỡ tuyến phòng thủ vòng ngoài kiên cố nhất của địch ở Quảng Trị, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Trên vùng trời, vùng biển miền Bắc, lực lượng phòng không-không quân, phòng thủ biển ba thứ quân đương đầu và chống trả đích đáng máy bay, tàu chiến Mỹ; đập tan cuộc tập kích khổng lồ của Mỹ bằng pháo đài bay B52 trên bầu trời Hà Nội – Hải Phòng, lập nên chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trong những ngày tháng cuối năm 1972. Những chiến công oanh liệt trên hai miền Nam, Bắc của quân và dân ta đã buộc đế quốc Mỹ dù còn ngoan cố vẫn phải ký Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ ra khỏi miền Nam.

Phai Khắt, Nà Ngần
Phai Khắt, Nà Ngần

Sau Hiệp định Pa-ri, sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc chuyển biến mau lẹ, “một ngày bằng hai mươi năm”. Chớp thời cơ chiến lược, Bộ Chính trị Trung ương Đảng hạ quyết tâm động viên cao độ sức mạnh cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam. Ba đòn tiến công chiến lược của các binh đoàn chủ lực hợp thành cùng với phong trào nổi dậy mạnh mẽ của nhân dân vùng tạm chiếm, đã kết thành sức mạnh “triều dâng thác đổ” trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh, đưa đến toàn thắng ngày 30-4-1975, hoàn thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Không chỉ chiến đấu giải phóng dân tộc, quân đội ta suốt 30 năm chiến tranh còn sát cánh chiến đấu với nhân dân và quân đội hai nước Lào, Cam-pu-chia. Những người lính tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam, vâng theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “giúp bạn là giúp mình”, đã không tiếc tuổi xuân, không tiếc mồ hôi, máu xương, đồng cam cộng khổ với bạn trong bao năm vì nền độc lập, tự do của nhân dân Lào, Cam-pu-chia, góp phần bồi đắp tình đoàn kết bền chặt giữa ba nước Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia trên bán đảo Đông Dương.

Loading...

Bước ra từ cuộc kháng chiến 30 năm, Quân đội Nhân dân Việt Nam lại vào cuộc chiến đấu mới: cùng toàn dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khắc phục hậu quả chiến tranh, ổn định tình hình mọi mặt, phục hồi và phát triển sản xuất, nêu cao tinh thần cảnh giác, đập tan mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc thống nhất; hoàn thành nhiệm vụ quốc tế vẻ vang giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng…

Hiện nay, quân đội ta đang cùng toàn Đảng, toàn dân nỗ lực xây dựng, củng cố và tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp thế trận an ninh nhân dân, xây dựng Quân đội Nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tích cực tham gia công cuộc phát triển kinh tế – xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, góp phần quan trọng vào thành tựu của sự nghiệp đổi mới.

Kể từ buổi 34 chiến sĩ tuyên thệ dưới lá cờ Tổ quốc giữa rừng Việt Bắc năm xưa cho đến hôm nay, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã trải qua chặng đường 65 năm chiến đấu, xây dựng và phát triển. Trong 65 năm đó, mang theo lời thề trong tim, đồng hành cùng dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bằng trí tuệ, tài năng, lòng dũng cảm và mồ hôi, xương máu của mình lập nên những chiến công hiển hách, tô thắm trong trang sử vàng truyền thống của một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Đó là một đội quân cách mạng mang trong mình khát vọng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc của nhân dân và sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu thắng lợi. Quân đội Nhân dân Việt Nam đã, đang và nhất định sẽ hoàn thành, hoàn thành xuất sắc lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Theo Baomoi

 

*Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm  Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo