(Tamhoc.com) Sau khi bài viết về Đô đốc Đặng Tiến Đông được đăng tải trên Tâm Học, chúng tôi nhận được phản hồi của một số độc giả về sự thực hư và những tranh cãi về nhân vật Đặng Tiến Đông – một nhân vật đang bị nhầm lẫn tên. Để rộng đường dư luận Tâm Học xin đăng tải bài viết nghiên cứu của nhà báo Trúc Diệp Thanh về vấn đề này cũng như hiểu thêm một số vấn đề về triều đại Tây Sơn hiển hách.

Tuy tồn tại trong thời gian không dài, nhưng thời kỳ Tây Sơn trong lịch sử Việt nam chiếm một vị trí đặc biệt. Nhà Tây Sơn sụp đổ vào cuối thế kỷ 18 tính đến ngày nay cũng mới trong vòng hai thế kỷ so với 4000 năm lịch sử đất nước thời gian ấy cũng chưa xa xôi gì lắm nhưng tư liệu để lại thật ít ỏi mà nguyên nhân chủ yếu là do chính sách “tận pháp trừng trị” của nhà Nguyễn mà trước hết là vua Gia Long muốn xóa sạch mọi vết tích của “ngụy triều”. Vì vậy, những năm đầu thập kỷ 70 (TK 20) giới sử học miền Bắc đứng đầu là GS sử học Phan Huy Lê đã phát hiện nhiều hiện vật đời Tây Sơn ở Lương Xá và chùa Trăm Gian cùng ở huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu khoa học xã hội của cả nước. Tuy nhiên qua khai thác các di bản, di vật đời Tây Sơn ở Lương Xá và chùa Trăm Gian từ năm 1973 đến nay giữa các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã có hai cách đọc và dịch chữ Hán dẫn đến 2 kết luận khác nhau về vị tướng Tây Sơn được nêu trong các di bản – Đô đốc Đặng Tiến Đông

I- Những di bản, di vật đời Tây Sơn ở Lương Xá và ở Chùa Trăm Gian- và hai cách khai thác với hai kết luận khác nhau.                         

Đầu thập kỷ 70 (tk 20), GS Phan Huy Lê dẫn đầu một đoàn nhà sử học khảo sát điền dã ở tỉnh Hà Tây, và đoàn đã phát hiện ở làng Lương Xá một số di bản quý hiếm thuộc đời Tây Sơn và một số di vật có niên đại Tây Sơn ở chùa Trăm Gian gồm một chuông đồng đúc năm 1794 (triều Cảnh Thịnh),  một tượng truyền thần bằng gỗ, dân gian gọi là “tượng Quan Đô” cùng niên đại, một phiến đá lớn có khắc bài văn “Đặng tướng công bi”có từ năm 1927. Qua nghiên cứu đoàn nhận thấy tất cả các di bản, di vật trên có liên quan đến một danh tướng Tây Sơn thuộc Đặng tộc có truyền thống vẻ vang, lâu đời ở Lương Xá. Trong các hiện vật nêu trên, có giá trị nhất là bộ ba di sản tìm thấy ở Lương Xá (nay là thôn Lương Xá, xã Lam Điền, huyện Chương Mỹ, Hà Nội):

đặng tiến đông
Trang đầu quyển 2 Bộ “Đặng tôc thế phả” Chú ý:tên họ chức tước tác giả chép: 東 嶺 侯 鄧 進 暕 (Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản)

          1)-Bộ Đặng gia phả ký trong đó có giá trị nhất là bộ Đặng gia phả hệ toản chính thực lục 6 quyển (còn gọi là bộ Đặng tộc thế phả) được lưu giữ tại từ đường-còn gọi là Phủ thờ Đặng tộc ở Lương Xá. Mở đầu bộ “Đặng tộc thế phả” có bài tựa do Thị trung Đại học sĩ Tình Phái hầu Ngô Thì Nhậm viết. Tiếp theo là 6 quyển: quyển 1-phần Ngoại ký, tức phần ngoài thực lục phả họ Đặng, ghi chép nguồn gốc phát sinh và tiên tổ họ Đặng (riêng phần này ngay trong Đặng tộc cũng còn tranh cãi, theo PGS-TS Đỗ Văn Ninh quyển 1 có nhiều điểm nghi vấn cho thấy mới xuất hiện về sau không trùng thời gian với các quyển còn lại của “Đặng tộc thế phả”). Từ quyển 2 đến quyển 6 mỗi quyển chép chi tiêt thân thế sự nghiệp của một vị tiên tổ họ Đặng bắt đầu từ Nghĩa quốc công Đặng Huấn (quyển 2) và tiếp theo theo dòng dõi cha truyền con nối là các vị: Hà Quận công Đặng Tiến Vinh (quyển 3), Doanh quận công Đặng Thế Tài (quyển 4),  Yên quận công Đặng Tiến Thự (quyển 5),  Dận Quận công Đặng Đình Miên (quyển 6). Thân thế sự nghiệp của 5 danh tướng họ Đặng đời Lê Trung hưng với  hơn 300 trang (sách dịch của Viện Hán nôm) cho thấy người chép phả biên soạn rất công phu với những nội dung rất có giá trị về văn hóa,  lịch sử  trong suốt một giai đoạn 236 năm thuộc nhà Lê,  từ năm  1519 (ngày sinh của Đặng Huấn) cho đến năm  1749 (ngày Dận Quận công qua đời). Bộ “Đặng tộc thế phả” hoàn toàn không có một trang nào nói về Tây Sơn, ngay cả lời Tựa của Tình Phái hầu Ngô Thì Nhậm,  một danh thần của Tây Sơn cũng chỉ ca ngợi Đặng Thai công-người biên soạn bộ phả:”Làm sáng tỏ công đức tổ tiên…chép vào phả nhằm làm gương cho đời sau…”  không có một câu chữ nào nói tác giả là người của Tây Sơn. Cả bộ phả cùng lời Tựa cũng không ghi thời gian! Có thể đây là nguyên nhân khiến bộ phả quý hiếm thuộc đời Tây Sơn được trình bày công khai ở Phủ thờ Đặng tộc nhưng vẫn tồn tại đên hôm nay. Như vậy Bộ Đặng tộc thế phả chỉ có tác dụng nghiên cứu các bậc tiền nhân Đặng tộc cho đến Dận Quân công Đặng Đình Miên (quyển 6 cũng là quyển cuối). Riêng đối với Đặng Đô đốc, tác giả biên soạn lại không có một trang nào giới thiệu thân thế sự nghiệp của bản thân.

Giới nghiên cứu khai thác bộ Đặng tộc thế phả đều thống nhât các nội dung được chép trong bộ phả như trên và đều thống nhất người chép bộ phả là một Đô đốc đời Tây Sơn duy nhất chỉ khác một chi tiết là GS Phan Huy Lê-người đầu tiên công bố kết quả khai thác bộ Đặng tộc thế phả vào năm 1973 đã đọc tên chữ Hán của tác giả bộ phả là Đô đốc Đặng Tiến Đông và tên Đặng Tiến Đông đã được công nhận phổ cập cho đến cuối năm 1999 nhà khảo cổ học Đỗ Văn Ninh (sau này là PGS-TS Đỗ Văn Ninh) là ngừoi đầu tiên phát hiện tên ông chép bằng chữ Hán trong các di bản phải đọc là Giản(Đặng Tiến Giản).(1)Cũng thời gian này học giả Trần Văn Quý (Hà Nội) đã công bố một bằng chứng về cách đọc tên Đặng Đô đốc ở Lương Xá gây chấn động dư luận. Theo ông Trần Văn Quý thì chính tác giả biên soạn Đặng tộc thế phả đã tự mình để thông điệp cho hậu thế biết tên mình là chữ gì và cả ý nghĩa của chữ đó qua câu tự thuật ở trang cuối quyển 6 như sau:

Phiên âm: “…Mậu Ngọ niên,  ngũ nguyệt sơ nhị,  Quý Sửu thì, sinh đệ bát tử “Đông”( ) hậu cải dĩ tự vựng vân:trùng âm tích vũ chi hậu hốt kiến nhật sắc, cố tri danh yên”.

Dịch nghĩa: “Năm Mậu Ngọ, tháng 5, ngày 2, giờ Quý Sửu, sinh con trai thứ 8(của Dận Quận công-TDT) là Đông, sau đổi thành Giản () theo định nghĩa chữ Giản là:sau khi mây mù tích mưa bổng thấy ánh mặt tròi, cho nên đặt tên như thế”(2). Các từ điển Hán ngữ hiện đại đều có chữ “Giản” () với định nghĩa “minh lượng” một dạng ánh sáng,  riêng cuốn Từ Hải (Nxb Thượng Hải 1989-trang 1580)có chữ “Giản” với định nghĩa”Trùng âm tích vũ hậu, hốt kiến nhật sắc dã” hoàn toàn trùng khớp với định nghĩa chữ “Giản” nêu trong Đặng tộc thế phả có trước đó ngót 2 thế kỷ. Đây là căn cứ khoa học (văn bản học) xác định tên Đặng Đô đốc cũng là tác giả biên soạn bộ Đặng tộc phả là “Đặng Tiên Giản” (lúc nhỏ còn có tên Đông). Bên cạnh việc hướng dẫn cho hậu thế biết cách đọc chính xác tên của mình, trên trang đầu mỗi quyễn trong bộ “Đặng tộc thế phả” phả còn có chép một câu thể hiện dòng dõi chức tước của mình như sau: “Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản( )Đô đốc thống lĩnh Thiên hùng đạo Vũ Thắng ở chi Giáp nhất kính cẩn biên soạn” Dù tác phẩm không ghi rõ năm tháng xuất bản nhưng với câu này giới nghiên cứu cũng đã có cơ sở để xác nhận tác giả là danh tướng Tây Sơn và ”Đặng tộc thế phả” được biên soạn dưới triều Tây Sơn, bằng chứng là chức Đô đốc tước Đông Lĩnh hầu là do Bắc Bình vương Nguyễn Huệ phong tặng cho Đặng Tiến Giản theo đạo Sắc đời Thái Đức năm thứ 10 (1787) lưu giữ ở nhà tộc trưởng và “thống lĩnh Đại Thiên hùng” là chức vụ Đặng Tiến Giản được giao năm Quang Trung thứ 3 (1791) (Tây Sơn thuật lược). Như vậy “Đặng tộc thế phả” phải được biên soạn cuối đời Quang Trung, đầu đời Cảnh Thịnh triều Tây Sơn.Với phát hiện bằng chứng như trên, mọi điều giải thích trước đây về cách đọc tên Đặng Đô đốc theo GS Phan Huy Lê là Đô đốc Đặng Tiến Đông đã trở nên vô nghĩa! Có thể xác nhận ở Lương Xá có “cậu ấm Đông” nhưng không hề có “Đô đốc Đặng Tiến Đông”. Đây cũng là điều trùng hợp với thực tiễn lịch sử: sách sử chép về các danh tướng, danh thần Tây Sơn từ cuối đời Tây Sơn qua triều Nguyễn cho đến đầu thập kỷ 70 (TK 20) không hề có tên Đô đốc Đặng Tiến Đông! Việc xác định tên của nhân vật trong các di bản là Đô đốc Đặng Tiến Giản là điều cần thiết. Song điều quan trọng hơn là tìm hiểu xem Đặng Tiến Giản có công trạng gì với Tây Sơn? Ông có phải là Đô đốc Long như GS Phan Huy Lê từng khẳng định (với tên Đặng Tiến Đông)?  Điều quan trọng này lại không thể tìm thấy trong “Đặng tộc thế phả” nhưng may mắn là đã tìm thấy qua 2 di bản được phát hiện đồng thời với bộ “Đặng tộc thế phả” là đạo Sắc và văn bia “Tông đúc thế tự bi” tại 2 địa điểm khác nhau ở Lương Xá:

2)-Đạo Sắc có niên đại: ngày 3 tháng 7 Thái Đức năm thứ 10 (tức năm Đinh Vị/Mùi- 1787) được lưu giữ truyền đời tại nhà tộc trưởng Đặng tộc ở Lương Xá.Nghiên cứu nội dung đạo Sắc bằng chữ Hán cho thấy: Khoản mùa thu năm Đinh Vị/Mùi, Đặng Tiến Giản từ Bắc Hà lặn lội vào Quảng Nam xin yết kiến Nguyễn Huệ, được Huệ ca ngợi, đón tiếp trọng thị gia phong “chức Đô đốc đồng tri tước Đông Lĩnh hầu, vẫn sai giữ chức trấn thủ xứ Thanh Hoa.Từ câu này cho thấy: trước ngày vào Quảng nam đầu quân Tây Sơn, Đặng Tiến Giản là danh tướng nhà Lê đang “giữ chức trấn thủ Thanh Hoa” lãnh dịa của Bắc Hà tiếp giáp với Nam Hà.Đạo Sắc còn có câu :”Bốc nhất lộ chi khả nam, đại bang vu khống; cự bán hà chi dĩ bắc, nghĩa sĩ hội vô.Tương dụng xứ ư niên lai, xá tư nhân kỳ thục khả” Có nghĩa là:”Một nẻo đường cõi nam, đại bang ngăn giữ, nửa bên sông về đất bắc nghĩa sĩ vắng tênh.Đem dùng cho năm sau, bỏ người này ai làm được?”(3) Thông điệp từ câu này cho thấy Nguyễn Huệ đang dự tính đánh ra Bắc Hà (lần thứ 2) trong thời gian gần và trong trận bắc tiến này không thể thiếu vai trò của Đặng Tiến Giản.Văn bia “Tông đức thế tự bi” có nội dung tiếp nối làm rõ dự kiến của Nguyễn Huệ trong đạo Sắc đã trở thành hiện thực.

Loading...

     3)-Văn bia “Tông Đức thế tự bi”: ở sân chùa Thủy Lâm ở Lương Xá có  một tấm bia đá đã có từ hàng trăm năm nhưng mới được giới sử học phát hiện giá trị của nó qua đợt sưu tầm hiện vật điền dã cùng với bản tộc phả và đạo Sắc nêu trên. Qua nghiên cứu cho thấy tấm bia đá này có khắc bài văn khoản 500 từ chữ Hán do 2 danh sĩ Tây Sơn là Thụy Nham hầu Phan Huy Ích biên soạn và Tình Phái hầu Ngô Thì Nhậm nhuận sắc khắc vào bia ngày 15 tháng 6 năm Cảnh Thịnh thứ 5 (tức ngày 9/7/1797). (Hai chữ “Cảnh Thịnh” bị đục nhưng lạc khoản ghi “Hoàng triều đệ nhị đế” thì không khó nhận ra 2 chữ bị đục là Cảnh Thịnh đời thứ 2 triều Quang Trung). Nội dung toàn văn bia nói về công đức của Đặng Đô đốc đối với tiền nhân Đặng tộc đúng như tiêu đề:”Tông đức thế tự bi”. Song giới nghiên cứu đặc biệt lưu ý đoạn văn bia mô tả công trạng của Đặng Tiến Giản sau ngày về với Tây Sơn và đây cũng chính là đoạn có 2 cách dịch và giải thích khác nhau giữa GS Phan Huy Lê và nhóm nhà nghiên cứu khai thác vào cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21.Đoạn này như sau:                                       .

Phiên âm: “Kim triều đại tướng thống Vũ Thắng đạo Thiên Hùng Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản hệ xuât lệnh tộc giáp nhất chi, Yên quận công chi tôn, Dận Quận công chi tử (mất một chữ) thì, hoàng triều Thái tổ Vũ Hoàng đế nghĩa thanh chấn bạc, quy trú Quảng Nam, công nhất kiến quân môn, mật mông tri ngộ, sủng ban ấn kiếm, ủy thống nhung huy, ngưỡng lại thiên uy nhất cử đảng định. Mậu Thân (2 chữ tiếp bị đục) sơ, bắc binh nam mục, công phụng chiếu tiên phong đạo tiến chiến nhi bắc binh hội, công đương kỵ đương tiên túc thanh cung cấm. Võ Hoàng đế giá lâm Thăng Long sách huân hành thưởng đặc tứ bản quán Lương Xá vĩnh vi thực ấp”.

Tấm bia có bài văn “Tông đức thế tự bi” dựng trước sân                                                                                Chùa Thủy Lâm (Lương Xá).(Ảnh tư liệu)
Tấm bia có bài văn “Tông đức thế tự bi” dựng trước sân
Chùa Thủy Lâm (Lương Xá).(Ảnh tư liệu)

Dịch: (Những cụm từ chữ Hán in đậm tạm thời chưa dịch, sẽ dịch tiếp sau khi giải mã):”Vị đại tướng triều ta là Đô đốc Đông Lĩnh hầu Đặng Tiến Giản, thống lĩnh về Thiên Hùng trong đạo Vũ Thắng, xuất thân từ chi thứ nhất một họ lớn, cháu Yên Quận công, con Dận Quận công (mất một chữ) bấy giờ tiếng tăm, nghĩa khí của Thái Tổ Võ Hoàng đế lừng lẫy khắp nơi, Ngài đang đóng quân ở Quảng Nam, ông  một lần vào ra mắt cửa quân, nhờ ơn tri ngộ, yêu ban ấn kiếm, giao cho cầm quân. Ngữa nhờ oai trời, một lần cất quân là quét sạch giặc giả. Mậu Thân, năm đầu niên hiệu… …(2 chữ bị đục), bắc binh nam mục, ông vâng chiếu lãnh đạo tiên phong đánh tan vỡ bắc binh hội, ông một mình một ngựa đi trước vào dẹp yên cung cấm. Võ Hoàng đế ngự giá Thăng Long xét công phong thưởng, đặc biệt ban cho ông làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn”.

Cảm nhận đầu tiên đối với đoạn văn bia như trên là:nếu ai chưa đọc đạo Sắc thì không thể nhận ra văn bia nói đến một chiến công của một danh tướng Tây Sơn: “kim triều” là một khái niệm dùng chung cho mọi triều đại không phản ảnh  riêng  “Tây Sơn”,  lai lịch vị đại tướng thống Vũ Thắng, đạo Thiên hùng…cũng có thể hiểu là danh tướng dưới mọi triều đại không bắt buộc phải là danh tướng Tây Sơn! Thái tổ Võ Hoàng đế là ai?Tiếp theo là những cụm từ ẩn dụ: “bắc binh nam mục”, ”bắc binh hội” là đối tượng nào?

Cũng cần nhắc lại ba di bản nêu trên tìm được ở Lương Xá nhưng ở ba nơi khác nhau nếu chỉ đọc riêng lẽ thì chỉ có đạo Sắc là mang dấu ấn niên đại Tây Sơn còn “Đặng tộc thế phả”, văn bia “Tông dức thế tự bi” thì khó tìm ra dấu vết Tây Sơn. Tuy nhiên nếu đọc cả ba di bản, xâu chuổi lại cho thấy nội dung các di bản có liên quan mật thiết hỗ trợ cho nhau để làm sáng tỏ lai lịch thân thế sự nghiệp của một người duy nhất là danh tướng Đăng Tiến Giản.”Đặng tộc thế phả” cho biết nguồn gôc xuất thân của Đặng Đô đốc.”Đạo Sắc” tiết lộ Đặng Đô đốc là một sĩ phu danh tiếng thuộc nhà Lê sớm giác ngộ về với Tây Sơn và được Nguyễn Huệ ban chức “Đô đốc đồng tri tước Đông Lĩnh hầu “và sớm giao cho cầm quân. Tiếp theo “văn bia” có  đoạn nói về công trạng của Đặng Tiến Giản ngay sau ngày đầu quân cho Tây Sơn. Đây cũng là tư liệu lịch sử sớm nhất nói về công trạng của Đặng Đô đốc,  là đoạn nối tiếp nói lên dự kiến của Nguyễn Huệ nêu trong đạo Sắc đã trở thành hiện thực,  là đoạn quan trọng nhất nhưng  cũng là đoạn khó tiếp cận để hiểu đúng thông điệp của người lập bia để lại cho hậu thế.

Văn bia chỉ xác định trận đánh có Đặng Tiến Giản tham dự với cương vị chỉ huy đạo tiên phong đã dũng cảm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ là trận diễn ra năm Mậu Thân nhưng đánh với đối tượng nào thì chưa rõ ràng, “bắc binh, bắc binh hội” là quân của ai? Người giao nhiệm vụ và sau đó khen thưởng cho Đặng Tiến Giản là “Thái tổ Võ Hoàng đế” là ai? Vì sao 2 ông Phan, Ngô vốn là danh sĩ nổi tiếng thông thái của Bắc hà và cũng là nhân tài của nước Nam vào thế kỷ 18 lại “thiếu chữ” để diễn đạt đúng sự thật qua văn bia để lại cho hậu thế? Thực ra đây không phải là sự sơ xuất của các tác giả biên soạn mà trái lại là sự cố ý rất thông thái xứng tầm danh nhân lịch sử của 2 ông Phan, Ngô. Văn bia “Tông đức thế tự bi” là nhằm tưởng niệm Đô đốc Đặng Tiến Giản-người bạn đồng hương, đồng triều, đồng chí hướng mà 2 ông rất kính trọng như lời tựa của Ngô Thì Nhậm viết cho bộ “Đặng tộc thế phả”. Nhưng thời điểm soạn và khắc văn bia là Cảnh Thịnh năm thứ năm(tức năm 1797), lúc vua Quang Trung băng hà đã 5 năm, Cảnh Thịnh nối ngôi đã tỏ ra nhu nhược hèn kém để gian thần lộng quyền, nhiều danh thần, danh tướng nổi tiếng được Quang Trung Nguyễn Huệ tin dùng đã bị gian thần đố kị, ganh ghét, vu oan giết hại, triều chính rối loạn, thế lực Tây Sơn bị suy yếu nhiều, trong khi đó thế lực Nguyễn Ánh,  kẻ thù không đội trời chung của Tây Sơn lại không ngừng lớn mạnh. Với tầm nhìn xa trông rộng,  các ông Phan, Ngô không thể không thấy nguy cơ gần kề “đại cục đã hỏng”! Để cho tấm bia tưởng niệm Đặng Tiến Giản tồn tại qua biến cố của thời cuộc, các ông Phan, Ngô buộc phải sử dụng ngôn từ ẩn dụ nhằm che dấu vết tích “Tây Sơn”. Văn bia ca ngợi chiến công của một danh tướng Tây Sơn nhưng không hề sử dụng danh hiệu “Tây Sơn” cùng với tên vị anh hùng lừng danh của Tây Sơn là Quang Trung Nguyễn Huệ, đối tượng tác chiến của Tây Sơn cũng được che đậy bằng “bắc binh”, các niên hiệu thuộc triều Tây Sơn đã bị đục bỏ…Sự che đậy khôn khéo này đã có tác dụng làm cho tấm bia tưởng niệm Đặng Tiến Giản được dựng từ cuối thế kỷ 18 đã tồn tại cho đến ngày nay vượt qua hàng trăm năm thử thách dưới triều Nguyễn với chính sách “tận diệt mọi di sản của ngụy triều Tây Sơn”! Tuy nhiên giới nghiên cứu lịch sử cũng không mấy khó khăn để nhận ra văn bia “Tông đức thế tự bi” là nói đến một danh tướng đời Tây Sơn. Điểm mấu chốt để nhận ra sự thật ẩn dấu sau những lời lẽ ẩn dụ như trên là niên đại Mậu Thân của trận đánh. Mặc dù các niên hiệu Quang Trung, Cảnh Thịnh trong văn bia bị đục bỏ nhưng với tên tuổi chức danh 2 ông Thụy Nham hầu Phan Huy Ích Tình phái hầu Ngô Thì Nhậm là chức tước các ông được thụ phong dưới triều Quang Trung. Từ đó suy ra trận đánh năm Mậu Thân là trận diễn ra đầu năm Mậu Thân (tức năm 1788). ”Thái tổ Võ Hoàng đế” là miếu hiệu của vua Quang Trung. “Thái tổ Võ Hoàng đế quy trú Quảng nam” là nói đến Nguyễn Huệ. Năm 1787 Nguyễn Huệ đóng quân ở Quảng nam còn là Bắc Bình vương chưa có danh xưng Hoàng đế nhưng 2 ông Phan, Ngô đã dùng miếu hiệu của vua Quang Trung là “Thái tổ Võ Hoàng đế” để chỉ Nguyễn Huệ.”Võ Hoàng đế”, ”Quang Trung” đều là Nguyễn Huệ ở các vị trí, thời điểm khác nhau. Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế với niên hiệu Quang Trung cuối năm Mậu Thân (1788) ở Phú Xuân. Văn bia chép:”Thái tổ Võ Hoàng đế đóng quân ở Quảng nam” (vào năm Định Vị/Mùi-1787) lúc này chưa có niên hiệu Quang Trung. Như vậy “Thái tổ Võ Hoàng đế” trong văn bia không thể là Quang Trung Nguyễn Huệ mà là Bắc Bình vương Nguyễn Huệ. Văn bia được soạn và khắc năm 1797 lúc Quang Trung-Nguyễn Huệ đã qua đời đã 5 năm, hai ông Phan, Ngô dùng miếu hiệu của vua Quang Trung để chỉ Nguyễn Huệ ở Quảng nam năm 1787 lúc này đã trở thành “tiên đế” là hoàn toàn hợp lý.

Một lý do khách quan khiến việc phán đoán nhân vật thêm khó là hành vi chiến trận của danh tướng ghi trong văn bia: “… đánh tan bắc binh hội tiến trước vào kinh thành dẹp yên nơi cung cấm.Võ Hoàng đế ngự giá Thăng Long xét công khen thưởng …” rât giống với hành vi của Đô đốc Long đánh quân Thanh mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789). Vì vậy đầu những năm 70 thế kỷ trước, sau khi phát hiện các hiện vật đời Tây Sơn ở Lương Xá, qua khai thác đoạn văn bia “Tông đức thế tự bi” như trên, GS Phan Huy Lê đã từng có lời dịch (không kèm nguyên tác, phiên âm chữ Hán) được công bố rộng rãi (tên danh tướng chép trong văn bia được đọc là Đặng Tiến Đông): ”Năm Mậu Thân (tức năm 1788) đầu đời Quang Trung (hai chữ Quang Trung bị đục) quân Bắc (tức quân Thanh) xâm chiếm nước Nam, ông (tức Đặng Tiến Đông) phụng chiếu cầm đạo quân tiên phong đánh làm cho quân Bắc tan vỡ, ông một mình một ngựa tiến lên trước, dẹp yên nơi cung cấm.Vũ Hoàng đế( tức vua Quang Trung) vào Thăng Long xét công khen thưởng ban riêng cho ông làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn “.Lời dịch văn bia như trên cùng với dẫn chứng gia phả, đạo Sắc, tượng truyền thần, chuông đồng..tác giả kết luận:”Không nghi ngờ gì nữa, Đô đốc Đặng Tiến Đông chính là tên thật của Đô đốc Long hay Đô đốc Mưu, vị tướng Tây Sơn chỉ huy đánh thắng quân Thanh ở trận Đống Đa, tiến trước vào Thăng Long sáng 5 Tết năm Kỷ Dậu”(4). Đây là căn cứ để GS Phan Huy Lê cho ra đời giả thuyết:”Đô đốc Đặng Tiến Đông ở Lương Xá chính là Đô đốc Long” một giả thuyết chưa qua thẩm định một cách khoa học  đã được quan chức ngành sử và Đặng tộc thừa nhận nhưng hiện còn có nhiều tranh cãi. Vậy đâu là thông điệp đích thực của 2 ông Phan , Ngô gửi hậu thế khi biên soạn văn bia? Đáp ứng câu hỏi này đòi hỏi giới nghiên cứu sử học phải giải mã các cụm từ ẩn dụ trong văn bia để tìm ra sự thật lịch sử ẩn sau đó.

Chìa khóa để giới nghiên cứu giải mã các cụm từ ẩn dụ trong văn bia là ở 2 chữ Mậu Thân-niên đại trận đánh, văn bia không hề có 2 chữ “Kỷ Dậu”! Phải chăng tác giả biên soạn văn bia nhầm hay bỏ sót? Cần loại bỏ phán đoán vô căn cứ như trên. Hai ông Phan, Ngô là những danh thần hay chữ nổi tiếng cũng là hai nhà sử học thông thái bậc nhất của nước Nam trong thế kỷ 18. Văn bia được soạn thảo và khắc vào năm 1797 dưới triều Tây Sơn chỉ cách các trận đánh lớn diễn ra trong các năm Bính Ngọ, Mậu Thân, Kỷ Dậu vừa tròn một thập kỷ, hai ông không chỉ là là nhân chứng từng chứng kiên 2 lần quân Tây Sơn đánh ra Bắc Hà tiến phạm Thăng Long vào các năm Bính Ngọ (1786), Mậu Thân(1788) mà còn là những danh thần từng sát cánh cộng tác với vua Quang Trung Nguyễn Huệ làm nên chiến công lịch sử chiến thắng 29 vạn quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789). Do đó điều khẳng định trận đánh của Tây Sơn ra Bắc Hà 2 ông Phan, Ngô chép trên văn bia là trận Mậu Thân (1788) không phải là trận đánh năm Kỷ Dậu (1789) cũng là phản ảnh trung thực thời điểm lịch sử các tác giả biên soạn văn bia muốn gửi lại cho hậu thế. Vậy việc trước đây GS Phan Huy Lê phán đoán lắp 2 chữ bị đục là “Quang Trung” để dịch “Mậu Thân đầu đời Quang Trung”,  “bắc binh nam mục là quân Thanh xâm lược nước Nam” từ đó cho rằng trận đánh chép trên văn bia là trận đánh quân Thanh và danh tướng nêu trên văn bia là Đô đốc Long đúng sai thế nào?

Theo thông lệ chép niên đại theo Âm lịch (Can-Chi) khi chưa dùng Dương lịch, sau mỗi năm theo Can-Chi phải kèm theo niên hiệu, đời vua. Đời Tây Sơn, do hoàn cảnh nước Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia: Nam Hà có Nguyễn Nhạc với niên hiệu Thái Đức,  Bắc Hà do Nhà Lê cai quản có niên hiệu theo các vua Lê, riêng năm Mậu Thân, có đến ba vua với ba niên hiệu:ở Nam Hà là Mậu Thân Thái Đức thứ 11, ở Bắc Hà là Mậu Thân  Chiêu Thống thứ hai, đến cuối năm Mậu Thân khi Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế đặt niên hiệu là Quang Trung thì sử Tây Sơn chép Mậu Thân năm đầu niên hiệu Quang Trung . Có căn cứ khoa học để xác định 2 chữ bị đục thuộc niên hiệu nào.Đó là từ chữ “sơ” tiếp sau 2 chữ bị đục. Nếu ghép với các niên hiệu Thái Đức, Chiêu Thống thì””Mậu Thân Thái Đức sơ”, (Mậu Thân Thái Đức năm đầu) hoặc “Mậu Thân Chiêu Thống sơ”(Mậu Thân Chiêu Thống năm đầu) đều không đúng với thực tiễn lịch sử. Từ đó suy ra 2 chữ bị đục chỉ có thể là 2 chữ “Quang Trung”,  ghép lại thành “Mậu Thân Quang Trung sơ” tức Mậu Thân năm đầu niên hiệu Quang Trung hoặc Mậu Thân  Quang  Trung năm thứ nhất. Như vậy dù có ghép hay không ghép 2 từ Quang Trung vào 2 chữ bị đục thì ý nghĩa năm Mậu Thân vẫn hoàn toàn không thay đổi, không thể vì ghép 2 chữ “Quang Trung” vào 2 chữ bị đục và dịch:”Mậu Thân đầu đời Quang Trung” với dụng ý  di dịch năm Mậu Thân sang năm Kỷ Dậu, biến trận đánh khi vua Quang Trung chưa xuất hiện thành trận đánh do vua Quang Trung chỉ huy! Cũng từ kiên định trận đánh trong văn bia là trận năm Mậu Thân để có thể giải mã các cụm từ “Bắc binh nam mục” và “Bắc binh hội”. Khái niệm  “bắc binh” thường được dùng để chỉ quân “bắc triều” hay quân Tàu, vào năm Mậu Thân (1788), quân Tàu là quân nhà Thanh. Theo chính sử:cuối năm Mậu Thân đã có hàng chục vạn quân Thanh, theo cầu viện của Lê Chiêu Thống tràn qua biên giới nước Nam  chiếm đóng Thăng Long nhưng không gặp sự kháng cự nào đáng kể nào vì đại quân Tây Sơn ở Thăng Long đã rút về phòng thủ ở Tam Điệp. Cho đến giao thừa năm Mậu Thân,  Tôn Sĩ Nghị và hàng chục vạn quân Thanh vẫn yên ổn chuẩn bị ăn Tết Nguyên đán năm Kỷ Dậu ở Thăng Long và vùng phụ cận. Cũng theo chính sử, trận đánh của Tây Sơn do vua Quang Trung đích thân chỉ huy nhằm vào quân Thanh xâm lược chỉ mở đầu đêm mồng 3 Tết và kết thúc vào sáng ngày 5 Tết năm Kỷ Dậu khi 29 vạn quân Thanh phần lớn bị tiêu diệt qua 2 trận quyết chiến ở Ngọc Hồi-Đống Đa buộc Tôn Sĩ Nghị cùng tàn quân Thanh phải rút chạy khỏi Thăng Long vào sáng ngày 5 Tết Kỷ Dậu. Chỉ chưa tròn ba ngày 2 đêm, với nghệ thuật cầm quân tài giỏi vô song của vua Quang Trung, vài vạn quân Tây Sơn đã quét sạch 29 vạn quân Thanh xâm lược ra khỏi bờ cõi nước Nam. Đây là trận đánh thần tốc, oai hùng hiếm có trong lịch sử hàng nghìn năm chống ngoại xâm của dân tộc Việt nam cũng là hiếm có trên thế giới , chắc chắn 2 ông Phan , Ngô, những danh thần từng tham dự trong hàng ngũ quân Tây Sơn trong trận này không thể nhầm với trận đầu năm Mậu Thân, đúng một năm về trước. Hơn nữa văn bia mô tả chiến công của Đặng Tiến Giản là dẫn đầu đạo tiên phong đánh đuối “bắc binh hội” chạy khỏi Thăng Long (túc thanh cung cấm)thì càng có căn cứ khẳng định “bắc binh” 2 ông Phan Ngô dùng không phải để chỉ quân Thanh vì quân Thanh xâm lược đã phải rút chạy khỏi Thăng Long vào đầu năm Kỷ Dậu không phải trong năm Mậu Thân.”Nam mục”(南 牧) chữ “mục” trong văn bia được định nghĩa là “chăn dắt” (mục đồng, mục sư) hoặc “cai quản” (châu mục) không nơi nào có định nghĩa “xâm lăng, xâm lược”.

Theo “Hoàng Lê nhất thống chí”, ”Tây Sơn thuật lược” và các sách sử khác chép về Tây Sơn,  trong năm Mậu Thân có sự kiện nổi bật là ở Bắc Hà Nguyễn Hửu Chỉnh xúi dục vua Lê gửi quốc thư đòi lại Nghệ An vốn thuộc nhà Lê cai quản khiến Nguyễn Huệ tức giận khởi binh đánh ra Thăng Long để trừng trị bè lũ phản nghịch Hửu Chỉnh-Chiêu Thống.Hai ông Phan, Ngô tuy đã đầu quân Tây Sơn nhưng là cựu thần nhà Lê khi chép về sự kiện vua Lê đòi lại Nghệ An,  2 ông dùng cụm từ“Bắc binh nam mục” với ý nghĩa chỉ là chuyện đòi lại đất cũ vốn thuộc nhà Lê không phải là hành vi thôn tính đất đai phi chính nghĩa.Nguyễn Huệ thì không nhìn nhận như vậy. Khi nhận và đọc quốc thư do sứ thần vua Lê là Trần Công Xán trình lên ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ tức giận ném xuông đất và nói “Năm trước ta vượt biển ra Bắc, phá Thăng Long, diệt họ Trịnh, cả nước khiếp sợ, không ai dám làm gì. Lúc bấy giờ nếu ta chiếm giữ đất nước xưng đế xưng vương gì mà không được! Nhưng ta vốn mến đức của Tiên đế nên đem cả cõi đất nguyên vẹn trả lại ngài… Nay không cảm ơn những việc  của ta làm, lại chứa chấp kẻ phản ta, chống cự với ta mưu đồ giành lại đất Nghệ An. Xử sự như thế nhân tình có ai nín nhịn được không? Ta đã phái ra 2 vạn binh mã, sai tả quân Vũ Văn Nhậm thống lĩnh, thẳng tới Thăng Long, chặt đầu cha con Chỉnh về dâng…” (Hoàng Lê nhất thống chí trang 230). Đây cũng chính là thời điểm Nguyễn Huệ tiếp nhận và trọng dụng Đặng Tiến Giản như đã nêu trong đạo Sắc và đoạn đầu văn bia. Hai ông Phan, Ngô dùng cụm từ “bắc binh hội” để tránh nói đến “bè lũ phản nghịch Hửu Chỉnh-Chiêu Thống ở Bắc Hà” là tinh tế, chính xác. Đội quân chính quy 29 vạn quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy không thể gọi là “bắc binh hội”. Võ Hoàng đế ngự giá Thăng Long xét công đặc cách ban thưởng cho Đặng Tiến Giản làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn là trường hợp sau khi được giao binh quyền ở trấn Thăng Long, Vũ Văn Nhậm sinh tự kiêu lộng quyền, tháng 5 Mậu Thân, Nguyễn Huệ (tiên đế) cấp tốc ra Thăng Long bắt giêt Nhậm, bố trí phòng thủ Bắc Hà, khen thưởng tướng sĩ. GS Phan Huy Lê gắn việc vua Quang Trung khen thưởng Đô đốc Long sau chiến thắng quân Thanh ở Thăng Long vào việc Nguyễn Huệ khen thưởng Đô đốc Đặng Tiến Giản sau trận đầu năm Mậu Thân chỉ là chuyện “lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia” để thêm ấn tượng cho giả thuyết “Đô đốc Đặng Tiến Đông chính là Đô đốc Long”.

Từ kết quả giải mã như trên đoạn văn bia đã trích dẫn được dịch lại và giải thích như sau: “Mậu Thân năm đầu niên hiệu Quang Trung,  quân Nhà Lê ở Bắc Hà nhòm ngó phương nam (toan tính xâm phạm lĩnh thổ Tây Sơn) ông (Đặng Tiến Giản) vâng chiếu  lãnh đạo tiên phong tiến đánh bè lũ phản nghịch ở Bắc Hà, ông một mình một ngựa tiến trước vào kinh thành dẹp yên cung cấm. Nguyễn Huệ đến Thăng Long xét công phong thưởng, đặc biệt ban riêng cho ông làng quê Lương Xá làm thực ấp vĩnh viễn”.

II- “Tây Sơn thuật lược” với danh tướng Đặng Giản.

Văn bia “Tông đức thế tự bi” là cứ liệu lịch sử hoàn toàn đáng tin cậy song việc giải mã đoạn văn bia để làm sáng tỏ công trạng của Đô đốc Đặng tiến Giản như trên liệu có chính xác? Xin được nêu thêm một tư liệu lịch sử ra đời so với “Tông đức thế tự bi” muộn hơn sau một thế kỷ cùng nói về trận đánh của Tây Sơn ra Thăng Long năm Mậu Thân (1788). Vài thập kỷ gần đây, giới sử học quan tâm đến cuốn “Tây Sơn thuật lược” bằng chữ Hán xuất bản dưới triều Nguyễn có đoạn chép về trận năm Mậu Thân như sau: (trích bản dịch của Tạ Quang Phát đăng trên Tạp san Sử Địa Sàigòn số Xuân Mậu Thân -1968):

 “Năm Đinh Vị (năm đầu Chiêu Thống) Nguyễn Hửu Chỉnh lấy binh Nghệ An đánh đuổi Án Đô vương Trịnh Bồng. Vua Lê tin dùng Chỉnh coi giúp việc nước, phong tước cho Chỉnh làm Bằng Quận công. Mùa đông năm ấy vua Lê sai Ngô Nho (người ở Tri Chỉ), Trần Công Xán (người ở Yên Vĩ, cũng gọi là Lượng) đem lễ vật địa phương cùng quốc thư cho Huệ, nói rằng Nam và Bắc mỗi bên đều giữ lấy cương thổ của mình, không đặng vượt khỏi bổn phận. Huệ giận lắm, truyền mật lệnh ném bọn Nho và CôngXán xuống biển, lại khiến Tiết chế Nhậm đốc xuất bộ quân, Thái úy Điều đốc xuất thủy quân, Đô đốc Đặng Giản làm tiên phong nhắm kinh thành Thăng Long tiến phát.                                                                                                                          

 …Năm Mậu Thân (Chiêu Thống năm thứ hai) tháng giêng,  quân Tây Sơn tiến phạm kinh thành Thăng Long. Vua Lê chạy đi Hải Dương, quân Tây Sơn rượt theo, cha con Hửu Chỉnh đều bị bắt (sau đó Chỉnh bị giết-TDT). Huệ cho Vũ Văn Nhậm trấn Thăng Long, Đặng Giản trấn Thanh Hoa (Giản là người Lương Xá,  dòng dõi của Đặng Nghĩa Huấn)…Mùa hạ, Huệ giết kẻ bầy tôi là Vũ Văn Nhậm. Lúc ấy Nhậm tại trấn, có kẻ tố giác rằng Nhậm lộng quyền. Huệ mượn cớ là đi tuần đất Bắc, Nhậm ra lạy chàoHuệ bèn bắt mà giết đi. Huệ cho quan Đại Tư không Ngô Văn Sở, quan Nội hầu Lân trấn Thăng Long, Huệ từ Thăng Long trở về……Mùa đông tháng 11 (Mậu Thân-1788-LN) Huệ tự xưng Hoàng đế, cải nguyên Quang Trung. Tháng ấy vua Lê dùng quân Mãn Thanh lấy lại kinh thành Thăng Long. Năm Kỷ Dậu (Nguyễn Huệ niên hiệu Quang Trung thứ hai) tháng giêng, Huệ cả phá quân của Tôn Sĩ Nghị nhà Thanh ở Thăng Long. Vua Lê đi lên phương Bắc……Năm Canh Tuất (niên hiệu Quang Trung thứ ba) Huệ cho quan Đại tư mã Ngô Văn Sở, quan Nội hầu Lân cùng với người con thứ là Thùy trấn giữ Thăng Long, cho Tuyên (tức Nguyễn Quang Bàn con thứ-TDT) trấn giữ Thanh Hoa, cho Đặng Giản làm Đại Đô đốc, coi giứ Đại thiên hùng binh, sai làm thuốc súng…”(5)

Đạo”Sắc”phong tước Đông Lĩnh hầu cho Đô đốc Đặng Tiến Giản năm Thái Đức 10(1787)
Đạo”Sắc”phong tước Đông Lĩnh hầu cho Đô đốc Đặng Tiến Giản năm Thái Đức 10(1787)

Vào thời điểm xuất hiện cuốn “Tây Sơn thuật lược” các hiện vật đời Tây Sơn ở Lương Xá và chùa Trăm Gian chưa được phát hiện, song qua đoạn trích dẫn trên cho thấy nhân vật Đặng Giản nêu trong Tây Sơn thuật lược có nhiều điểm trùng hợp với Đô đốc Đặng Tiến Giản nêu trong các di bản ở Lương xá:-Trong trận Tây Sơn đánh ra Thăng Long năm Mậu Thân, Đô đốc Đặng Giản làm tiên phong (Tông đức thế tự bi); sau chiến thắng Mậu Thân Huệ cho Giản trấn Thanh Hoa (Sắc phong năm 1787);-Giản là người Lương Xá, dòng dõi của Đặng Nghĩa Huấn (Đặng tộc thế phả). Không còn nghi ngờ gì nữa: Đô đốc Đặng Giản nêu trong Tây Sơn thuật lược (đầu thế kỷ 20 dưới triều Nguyễn) chính là Đô đốc Đặng Tiến Giản đã được nêu trong các di bản đời Tây Sơn ở Lương Xá có từ cuối thế kỷ 18. Đoạn trích dẫn Tây Sơn thuật lược như trên cũng là cơ sở đáng tin cậy minh chứng cho kết quả giải mã “Tông đức thế tự bi” là chính xác. Ngoài các chi tiết trên,  “Tây Sơn thuật lược” còn bổ sung một số tư liệu quý về Đặng Tiến Giản: sau thời gian trị nhậm ở trấn Thanh Hoa, năm 1791-Quang Trung 3, Đặng Đô đốc được điều về Thăng Long nhậm chức “Đại Đô đốc , coi giữ Đại thiên hùng binh”…Chi tiết này giúp làm sáng tỏ thời điểm Đặng Đô đốc biên soạn cuốn Đặng tộc thế phả cùng một số việc làm tri ân tổ tiên Đặng tộc, đóng góp cho việc xây dựng quê hương làng xã khiến dân làng cùng Đặng tộc cảm kích tạc tượng truyền thần của ông đưa vào thờ  ở ngôi chùa Quảng Nghiêm tự (chùa Trăm Gian). Các chi tiết như trên còn đóng góp một dấu mốc để xác định năm mất của Đặng Đô đốc là vào khoản năm 1794-1797.Cũng như trong các di bản ở Lương Xá, đoạn chép trong Tây Sơn thuật lược về Đặng Đô đốc không hề có câu chữ nào nói Đặng Tiến Giản(Đặng Giản) từng tham dự trận đánh quân Thanh đầu năm Kỷ Dậu.

 

   THAY LỜI KẾT

Đã có bằng chứng chứng minh Đô đốc Đặng Tiến Đông là một nhân vật vô hình không có thật trong lịch sử nhưng lại được đội tên Đô đốc Long là một danh tướng huyền thoại của Tây Sơn để cả nước tôn vinh, Đặng tộc thờ phụng. Trái lại Đô đốc Đặng Tiến Giản là danh tướng Tây Sơn rất có công với đất nước, quê hương và Đặng tộc với gia phả, Sắc phong, bia đá, tượng truyền thần,  chuông đồng và cả phần mộ hiện còn làm bằng chứng thì bị đất nước, quê hương và Đặng tộc lãng quên. Để đảm bảo sự thật lịch sử, trả lại công bằng,  danh dự cho Đô đốc Long và Đô đốc Đặng Tiến Giản thiết nghỉ các cơ quan có thẩm quyền quản lý lĩnh vực văn hóa, lịch sử của Việt nam cần làm ngay:

1-Xóa bỏ tên Đô đốc Đặng Tiến Đông trên tất cả các lĩnh vực Nhà nước tôn vinh (trong sử sách, trong bảo tàng, tên đường phố…).2- Đô đốc Long quê ở đâu hiện còn một số nghi vấn nhưng cần loại ngay giả thuyết:Đô đốc Long là Đặng Tiến Đông quê ở Luơng Xá (Hà Nội). 3- Chính thức công nhận Đô đốc Đặng tiến Giản thuộc Đặng tộc quê ở Lương Xá là danh tướng của Tây Sơn bị chính sử và Đặng tộc bỏ sót.

Chú thích:

(1) “Đô đốc Đặng Tiến Đông hay Đô đốc Đặng Tiến Giản” Đỗ Văn Ninh (Đối thoại sử học Nxb Thanh Niến 2000).                                  .,

(2)“Phải gọi là Đô đốc Đặng Tiến Giản” Trần Văn Quý (Đối thoại sử học-Sđd)

(3) Sắc phong: nguyên tác chữ Hán và lời dịch của Lê Nguyến Lưu đăng trên Tạp chí Huế Xưa và Nay(cơ quan của Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa thiên-Huế số 90/tháng 12-2008).

(4)“Đô đốc Đặng Tiến Đông-một tướng Tây Sơn chỉ huy trận Đống Đa” Phan Huy Lê (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử -Viện Sử học- số 154 /1-1974).

(5) “Tây Sơn thuật lược” bằng chữ Hán xuất bản dưới triều Nguyễn , chưa rõ tác giả, đã đăng trên Tạp chí Nam Phong số 148. Bản dịch ra tiếng Việt đầu tiên do Tạ Quang Phát chuyên viên Hán học Viện Khảo cổ Sàigòn đăng trên Tạp chí Sử-Địa Sàigòn số Xuân Mậu Thân 1968.Đặc San TÂY SƠN (Bình Định) đăng lại trong số Xuân Bính Tý 1996.

Các sách đã tham khảo:

–  Tây Sơn thuật lược                                                                                   

– Đặng gia phả ký-( Viện Nghiên cứu Hán nôm-2000)                                    

– Đối thoại sử học (Nxb Thanh niên 2000)                                                                                   

– Hoàng Lê nhất thống chí (Nxb Văn học)                                                        

– Quang Trung anh hùng dân tộc (Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm-Nxb VH-TT)

-Tư liệu điền dã vùng Huế về thời kỳ Tây Sơn (Nxb Thuận Hóa-1998).

Hà Nội Xuân Quý Tỵ-18/2/2013- TDT.

    Nhà báo Trúc Diệp Thanh 

Tamhoc.com bảo lưu bản quyền bài viết , cần ghi rõ “Nguồn Tamhoc.com” khi xuất bản lại bài viết này.

 

Loading...

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên Comment

  Subscribe  
Nhận thông báo