Về lịch sử, chùa Hoằng Ân được xây dựng từ thời Lý, tương truyền do Thiền sư Ngô Ân khởi lập.

Chùa Hoằng Ân
Chùa Hoằng Ân

Trong số những ngôi chùa cổ của Hà Nội, người ta thường nhắc nhiều đến chùa Trấn Quốc, chùa Một Cột, chùa Bộc… mà ít ai biết rằng có một ngôi chùa nằm ở phía đông Hồ Tây, làng Quảng Bá đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Đó là chùa Hoằng Ân, nay gọi là chùa Quảng Bá.

Lúc đầu, đây chỉ là một am thờ Phật, đời sau mới dựng thành chùa, nhưng từ thời Lý chùa đã nổi tiếng là một danh lam thắng cảnh của kinh thành Thăng Long. Đến thời Lê, năm Vĩnh Tộ thứ 10, tức là thời Lê Thần Tông chùa bắt đầu được sửa sang lại. Gắn liền với lịch sử của chùa không thể không nhắc đến công chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú (con gái Đoan Quốc Công Thái Tổ Gia dụ Hoàng Đế Nguyễn Hoàng), người có công cho xây dựng lại ngôi chùa trên quy mô lớn. Bởi vậy, hiện nay chùa thờ ba pho tượng quý là bà Nguyễn Thị Ngọc Tú, tưọng Nguyễn Kim (ông nội của bà Tú) và tượng Nguyễn Hoàng (cha đẻ bà Tú).

Chùa Hoằng Ân
Chùa Hoằng Ân

Chùa ở vào vị thế đắc địa: Phía trước là Tây hồ mênh mông lộng gió, xung quanh là vườn quất, hoa đào tươi đẹp. Tự hàng nghìn năm trước, chùa là nơi ngự giá, thăm viếng của các bậc Đế Vương. Triều Lý, năm Thông Thuỵ, đạo sĩ Trần Tuệ Long đắc đạo môn đồ thu xá lợi (nhập xương cốt) tại chùa. Thời Trần Anh Tông, nhà sư Huyền Trang từ núi Yên Tử cũng chọn nơi đây để giảng kinh Thủ Lăng Nghiêm. Triều Nguyễn, Vua Minh Mạng, Vua Thiệu Trị đều chọn chùa là nơi dừng chân vãn cảnh.

Hiểu rõ những giá trị của ngôi chùa, các vị vua triều Nguyễn đều quan tâm và đánh giá rất cao. Thời Lý, chùa có tên là Báo Ân tự. Triều Vua Minh Mạng, năm thứ hai chùa được đổi tên là Sùng Ân tự. Thời Thiệu Trị, chùa đổi tên là Hoằng Ân tự. Tuy nhiên, theo văn bia của chùa dựng ngày 12 tháng 8 năm 1844 (hiện vẫn còn lưu giữ) thì nguyên tên chùa từ thời Lê là Long Ân tự. Đến năm Minh Mạng thứ hai (1821) nhân chuyến du tuần ra Bắc, nhà Vua đến thăm chùa, khi ấy chùa đã có tên là Sùng Ân tự. Năm 1841, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa Sùng Ân mới cho đổi thành chùa Hoằng Ân, ban cho 200 quan tiền để tu sửa những chỗ giột nát. Như vậy, theo văn bia này, chùa còn có hai tên nữa là Long Ân tự và Sùng Ân tự.

Để hiểu rõ hơn về một trong những ngôi chùa cổ nhất Hà Nội, chúng tôi xin trích dịch một văn bản viết bằng chữ Hán-nôm, trình bày trên ba trang giấy dó, có lời Vua Thiệu Trị phê bằng mực đỏ ngay ở trang đầu tiên. Nội dung nói về bài kỷ trên văn bia chùa Hoằng Ân, đánh giá rằng “chùa là một trong những danh thắng của hồ”. Văn bản trên đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, phông Châu bản triều Nguyễn, triều Thiệu Trị thứ I, tập 18 tờ số 229. Nguyên văn:

“Ngày 6 tháng 12 năm Thiệu Trị nguyên niên, chúng thần Viện Cơ mật, Nội các phúc trình: Vừa qua được giao bản thảo văn bia chùa Hoằng Ân do Viện Hàn lâm nghĩ soạn. Chúng thần đã duyệt kỹ, nhuận sắc đã xong, kính chép lại đăng trình.

Bản thảo văn bia chùa Hoằng Ân: Chùa ở Hồ Tây, phía góc tây bắc thành Hà Nội ngày nay, là một trong những danh thắng. Tên cũ là Long Ân tự, năm Vĩnh Tộ thứ 10 thời Tiền Lê, công chúa Ngọc Tú tiên triều xây dựng nên. Năm Minh Mệnh thứ hai, Thánh tổ Nhân Hoàng đế ngự giá Bắc thành, xem xét tình hình nhân dân, nhân đó ghé thăm chùa, ban cho thuý liễn để dựng tấm bia với hai chữ “Long Ân”…Rồi ban cho 200 quan tiền để hương hoả, lại thưởng cấp biển ngạch đổi tên thành Sùng Ân tự. Nay Hoàng thượng có lăng tẩm cũng tên là Sùng Ân, chúng thần Bộ Lễ xin được đổi tên khác. Phụng chỉ: Truyền cho đổi tên là chùa Hoằng Ân, sai thần Viện Hàn Lâm ghi chép đấy đủ sự việc rồi khắc vào bia đá ngày lành tháng 12 năm Thiệu Trị nguyên niên.

Loading...

Châu phê: Long Ân hay Bảo Điện, tên nào đẹp hơn”

Có thể nói, chỉ một văn bản trên đã lý giải được rất nhiều vấn đề. Đó là tên gọi của ngôi chùa, cả những băn khoăn của Vua Thiệu Trị, không biết nên lấy tên nào cho đẹp hơn nữa để xứng đáng với giá trị của chùa :“Long Ân hay Bảo Điện, tên nào đẹp hơn”.   (Chi tiết của văn bản xin xem tệp đính kèm cuối bài).

Chùa Hoằng Ân là nơi ghi lại nhiều dấu tích của lịch sử Phật giáo, Đạo giáo và cũng là cơ sở cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Nền nhà Tổ còn có một căn hầm bí mật cho cán bộ cách mạng trú ẩn. Đó cũng là nơi an táng nhiều Hoà thượng có công trong sự nghiệp hoằng pháp và bảo vệ đất nước: Hoà thượng Thích Trí Độ, Thích Tâm An,Thích Mật Ứng, Hoà thượng Phạm Ngọc Đạt, là người giúp đỡ rất lớn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh những ngày Người ở nước ngoài…

Chùa hiện còn lưu giữ nhiều di vật văn hoá lịch sử quý: 30 pho tượng sơn son thếp vàng, 30 tấm bia đá làm bằng đá xanh mịn, hai quả chuông đồng có niên đại thời Nguyễn và niên đại thời Lê Hiển Tông. Đáng chú ý là quả chuông lớn cao 1mét rưỡi, đường kính 80 cm, vai chuông khắc nổi bốn chữ Hán: Long Ân tự chung (chuông chùa Long Ân). Thân chuông chia làm bốn múi, tượng trưng cho bốn mùa, có khắc bài văn chuông ghi việc hưng công đúc chuông.

Hôm nay đến vãn cảnh chùa, qua những lối nhỏ quanh co và vườn cây trĩu quả, ta gặp một quần thể kiến trúc đẹp. Chùa như hoà vào thiên nhiên trời đât, sương khói Tây hồ khiến cho ta cảm nhận được khí tụ ngàn năm Thăng Long-Hà Nội.

Theo tuvienhuequang

 

* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo