Những câu hát quan họ giao duyên của các liền anh, liền chị đã làm đắm say biết bao lòng người.

quan họ
quan họ

Khi tìm nguồn gốc dân ca Quan họ, nhiều người đã tìm hiểu hai từ Quan họ và coi việc tìm ra nghĩa hai từ này là xong vấn đề nguồn gốc. Nhóm “Tìm hiểu dân ca Quan họ Bắc Ninh“ ủng hộ các thuyết cho rằng Quan là quan quân, quan cách, Họ là họ hàng; ngược với các thuyết cho rằng Quan là quan viên, Họ và dừng lại. Các tác giả đặt câu hỏi: “Kết bạn truyền đời có gia phả, cha truyền con nối, tục kết bạn này phải chăng là nguồn gốc Quan họ ?“ Tập thể tác giả cuốn Dân ca Quan họ Bắc Ninh cho rằng Quan là quan viên, Họ là phường họ. Các tác giả nghiên cứu xem lúc nào thì người Việt có khái niệm quan viên, phường họ để biết Quan họ có từ bao giờ.

Lê Văn Hảo, trong bài đã dẫn, có tóm tắt những cách hiểu ấy như sau : tiếng Quan nghĩa là quan quyền, quan cách, vài thuyết cho là quan quân, vài thuyết cho là quan viên, tựu trung quan đây là khác với đại chúng. Còn tiếng Họ thì được hiểu là : họ hàng, phường họ, và họ (dừng lại). Như vậy, các tác giả trên đặt vấn đề tìm hiểu hai từ này trong nghĩa đương đại của nó. Chúng tôi đồng ý với Lê Thị Nhâm Tuyết rằng : vấn đề tìm hiểu nguồn gốc của cái tên “ Quan họ “ không quan trọng bằng việc tìm hiểu thực chất nội dung lối chơi. Mặc dù như vậy, chúng ta cũng phải cố gắng thử giải quyết. Trước kia, nghiên cứu về thời kỳ Hùng Vương, một số học giả đã mất nhiều công phu tìm tòi về cái tên gọi Hùng Vương hay Lạc Vương. Có người cho “ Lạc “ là con cò để rồi từ đó mà đi xa hơn nữa tới vấn đề tín ngưỡng vật tổ, nguồn gốc và sự thiên di…

Cách nghiên cứu đó được mệnh danh là “ duy danh “. “ thông tục “, và đã được lắp lại trong việc tìm hiểu Quan họ. Sau khi phân tích, chị Nhâm Tuyết cho rằng : “ Nói về sự tích thời kỳ Hùng Vương, từ thượng cổ cũng đã có những từ “ quan lang “ díu đôi với “mị nương “. Nếu đặt một đẳng thức phân số giữa “ quan lang “ và “ mị nương “ (quan-lang = mị nương) thì căn cứ vào nghĩa phân biệt đã nắm được của từ “ mị nương “, chúng ta sẽ hiểu được nghĩa cổ của “ lang “ là người đàn ông quan trọng và “ quan “ là một từ Việt cổ trước khi nhập vào từ “ quan “ Hán-Việt. Còn từ “ Họ “ thì mọi người đều đã hiểu là nó chỉ một cộng đồng gắn theo máu mủ “.

quan họ
quan họ

Cách làm của Lê Thị Nhâm Tuyết hẳn là đúng với cách nhìn nhận khoa học hiện nay. Song, đi vào cụ thể thì còn phải bàn thêm.
Chữ “ quan lang “ mà chúng ta biết hiện nay là biết từ Lĩnh Nam chích quái, một cuốn sách ở thế kỷ XV. Biết đâu rằng thời kỳ Hùng Vương, người ta gọi “ quan lang “ là gì đó rồi đến thế kỷ XV mới đổi la Quan lang. Chữ Họ cũng vậy. Nhân dân ta trước kia không có họ. Chữ Họ (là một cộng đồng gắn theo máu mủ) là từ mới nhập vào sau khi phong kiến phương Bắc sang. Chữ Họ hiểu theo cách đó thì không phải là một từ thuần. Cái không nhất quán trong luận điểm của chị Nhâm Tuyết là ở chỗ muốn tìm từ Quan thuần Việt thì chữ Họ lại không như thế.

Chúng ta có cách gì để tìm hiểu hai từ này trong giọng thuần Việt được chăng ? Không có cách nào khác, chúng tôi đi vào hai bộ ngôn ngữ gần gũi : bộ Tày = Thái và bộ Việt = Mường. Khi lần theo những dấu vết trong ngôn ngữ Việt cổ thì thấy từ “ Họ “ hình như ổn định. Các nhà ngôn ngữ học chưa đưa ra một khuôn dạng nào cổ cho việc tìm hiểu từ “ Họ “. Nhưng đi vào từ “Quan “ thì có nhiều giả định khá phức tạp. Có lẽ ngày xưa tiếng Việt không có âm Quan nên các sách cổ chép tên đặt ngày nay có chữ Quan đều dùng chữ Lan, Việt sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư chép một số tên lang đối chiếu với tên lang hiện tại thì thấy:

Tam Quan (Hà Bắc): sách chép Tam Lan
Văn Quan (Hà Bắc): sách chép Văn Lan,
Hồi Quan (Hà Bắc): sách chép Hồi Lan.

Sách Đại Nam nhất thống chí khi viết về huyện Đông Quan nói rằng thời Minh gọi là Cổ Lan, Lê Hồng Đức đổi là Đông Quan. Về huyện Thanh Quan, sách ấy viết từ Lê về trước là huyện Thanh Lan, Gia Long đổi là Thanh Quan và minh Mệnh đổi là Kiến Xương. Ở sách Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn chép huyện Đông Quan hiện nay thành Đông Lan, chép Quan Điền là Lan Điền.
Bài hát Quan họ cũng có câu: “ Nhất ngon là mía lan Điền “. Nhưng Quan là gì mà Lan lại là gì?

Loading...

Tiếng Việt cũng như bất kỳ ngôn ngữ nào trên thế giới, đều phải qua một quá trình phát triển từ thời đại này qua thời đại khác, với sự biến đổi, chuyển hóa hoặc mất đi những từ ngữ nào đó nói riêng hoặc một phần nào đó trong từ vựng nói chung: “ Từ vựng của tất cả các ngôn ngữ đều ở trong một sự biến đổi vĩnh viễn. Ở mỗi thời kỳ lịch sử lại bị sinh ra một loại từ ngữ, và một số từ ngữ nào đó lại rơi vào sự quên lãng hoặc biến mất “. Hơn nữa, “ ý nghĩa của một số từ và ngữ thay đổi và được người ta hiểu một cách mới, một số từ già cỗi đã biến khỏi từ vựng “/

Khi nghiên cứu tập thơ nôm Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, ta đã gặp khá nhiều từ ngữ của tiếng Việt thế kỷ XV mà ngày nay trở thành “ già cỗi “ và “ biến mất khỏi vốn từ vựng “ hoặc “ chuyển nghĩa “. Tiếng Việt từ thời Nguyễn Trãi cho đến bây giờ cách chúng ta khoảng trên dưới 5 thế kỷ mà ta đã lúng túng trong việc hiểu nghĩa, huống hồ tìm hiểu tiếng Việt thời cổ. Từ Quan họ đang nằm trong hoàn cảnh như vậy. Nhưng chúng ta vẫn cứ xem xét từ Quan họ có những ngữ nghĩa gì liên quan đến lịch sử dân ca Quan Họ. Ngoài cái bề mặt hiện nay ta thấy, cần phải đặt nó trong bối cảnh của một hệ ngôn ngữ lớn hơn.

Trước hết hãy tìm nó trong hệ ngôn ngữ Tày – Thái. Qua tác phẩm văn học dân gian ta có thể có mấy từ có yếu tố Quan : Quan lang, Quan làng, Quan cuông, Quan púng. Quan lang là một lối hát đám cưới của người tày. Lang theo cách hiểu của người Tày là “ chàng rể “. Quan lang là người phù rể đáng trọng nhất, tức ông chủ hôn. Ông quan lang là người thay mặt họ nhà trai chịu mọi thử thách của nhà gái. Quan lang thường là người đã già, có vợ con, đạo đức tốt, đặc biệt là giỏi văn thơ. Nhiệm vụ chính của ông quan lang là bằng tài giới thiệu và ca hát rước cho được dâu về nhà chồng. Một vài nơi, người Tày gọi là thơ lẩu (thơ cưới). Trong tiếng Tày, lẩu có nghĩa là rượu và lẩu là xin cưới ; thơ lẩu là thơ rượu hay thơ cưới xin.

Người Nùng gọi hát đám cưới là cổ lẩu. Cổ lẩu là lối hát đối đáp giữa phù dâu và phù rể. Nó được tiến hành sau khi đã nộp xong các sinh lễ và ăn cơm được độ 15 – 20 phút. Nhiều nơi và nhiều người dùng từ Quan lang biến âm thành Quan làng. Người Tày chỉ dùng từ Quan làng để gọi các ông chủ đám ma, vì vậy ở Cao Bằng phân biệt rất rõ hai từ cũng như hai cách hát này. Như vậy chữ Quan trên đây có nghĩa là ông chủ. Người Thái hiểu chữ Quan có khác chút ít. Chẳng hạn, chữ Quan trong Quan cuông chỉ chức dịch cao cấp đứng hàng thứ tư, thứ năm trông coi một xồng. Có nơi gọi là pụa ; còn có chữ Quan trong Quan púng tức là Quan pọng là chức tạo dòng dõi nhà chúa (chỉ mới thấy ở huyện Mai Châu) đứng đầu một bản một thôn.

Với sự xuất hiện của từ Quan trong tiếng Thái như vậy, ta có thể khẳng định nó là từ mới du nhập. Từ Quan cuông là để thay từ pụa, còn từ Quan púng thì chỉ mới có ở Mai Châu, một địa điểm sát cạnh địa vực cư trú của người thuộc ngữ hệ Việt – Mường. Những lý do khiến chúng tôi không thể đồng ý với những ý kiến cho rằng từ Quan trong Quan họ đã mượn từ quan trong hệ ngôn ngữ Tày – Thái. Điều này sẽ rõ hơn khi xét tới từ Họ. Từ Họ trong tiếng Thái cũng để chỉ một chức dịch. Họ luông là chức dịch đứng thứ ba trong hàng bô lão, nom một xổng. Họ hé, hé là người cai quản số dân hàng mường đến làm phiền hầu hạ nhà chùa. Hé có thể là người nhà quan, có thể cử ngay trong số dân đến làm phiên. Ở Tây Bắc, chức này do một người nhà quan đảm nhiệm gọi là Ho he. Thế là Ho hay Họ trong tiếng Tày tiếng Thái là một chức dịch cai trị ít có liên quan đến văn hóa và cũng không phải là một chức vụ đáng trọng, một chức vụ bắt nguồn từ tinh thần dân chủ công xã. Nếu kết hợp sẽ thấy cách kết hợp ấy không phổ biến trong dân chúng ; thứ hai, nặng về chức dịch ; thứ ba, không cổ xưa như một vài người đã hiểu lầm (cho rằng có từ thời Hùng Vương) ; thứ tư, không khớp với toàn bộ sinh hoạt Quan họ, chẳng hạn trong sinh hoạt dân ca Quan họ, bên gái vẫn được bên trai gọi là Quan họ liền chị, trong khi đó Quan và Ho trong ngôn ngữ Tày – Thái chỉ để gọi những người con trai. Do đó ta phải nghiên cứu thêm một hệ ngôn ngữ khác.

Trong những năm gần đây. Giới nghiên cứu ngôn ngữ đã dựng nên được một hệ thống ngôn ngữ Việt – Mường. Đó là một thuận lợi cho việc tìm hiểu tiếng Việt cổ. Trong họ Việt – Mường này thì ngôn ngữ gần nhất với tiếng Việt hiện đại là tiếng Việt thời Lý hiện tìm thấy ở người Đan Lai – Ly Hà, thuộc Nghệ Tĩnh. Sau đó đến tiếng Mường, tiếng Thổ (Nghệ Tĩnh), tiếng Nguồn, tiếng Sách, tiếng Mày, tiếng Poọng, tiếng Chứt.

Căn cứ vào sự xác định thanh điệu tiếng Việt của Ôđricua và dựa vào phương pháp ngữ thời học Phạm Đức Dương đã có những ý kiến sơ bộ xếp họ ngôn ngữ Việt – Lương trên đây theo một thứ tự lịch đại (chẳng hạn như tiếng Chứt là tiếng Việt thế kỷ III, bài nói của Phạm Đức Dương ở Viện Văn học, 1975). Sau đây ta sẽ tìm nghĩa chứ “ Quan họ “ trong hệ ngôn ngữ này.

Chúng tôi giả thiết rằng Quan và Họ là hai từ cổ được dùng để chỉ một dân ca có từ lâu đời. Về sau, người ta không hiểu nghĩa của nó, nên hiểu ra nhiều cách khác nhau. Tuy vậy, cái vỏ bề ngoài là Quan và Họ vẫn giữ được. Bây giờ ta hãy tìm quy luật chuyển âm để tìm hiểu.

Xem qua cột thứ hai, ta nhận thấy sự xuất hiện phụ âm đầu h hoặc gần h là giống nhau trong các ngôn ngữ Việt – Mường, và âm o hay gần giống o cũng vậy, (trừ trường hợp đặc biệt u sẽ nói sau). Vậy, theo chúng tôi, ho là một âm cổ mà sau này đã chuyển ra ta hay tao trong tiếng Việt hiện đại. Chúng ta bỏ qua cột thứ ba, nhìn sang cột thứ tư, ta sẽ thấy trong ngôn ngữ Việt – Mường, để chỉ một tập hợp người nào đó, đã dùng những từ bon, buôn, buan, mà ngày nay trong Quan họ còn sử dụng từ “ bọn“. Ngoài chữ “bọn”, xem sang cột cuối, ta thấy cũng có thể dùng chữ “ đám “ hay chữ  “ lan “. Nên, theo chúng tôi, chữ Quan trong Quan họ chỉ là sự chuyển âm từ “bon, buôn, buan, bọn, đám, tan” mà thành.

Quan họ chỉ có nghĩa là: bon ha = buôn ho = BỌN TA. Có dân ca nào trên đất nước ta đặt tên như vậy chăng? – Người Nùng Phàn Sinh ở cách đất Quan họ vài mươi kilômét có cách đặt tên cho dân ca như vậy. Đó là lối bát Xoong hau như chúng tôi đã từng nhắc đến. Xoong hau nghĩa là đôi chúng ta. Chữ hau là chúng ta, là ta như đã thấy có trong bản thống kê trên. Trong một chương trước, chúng tôi đã so sánh dân ca Quan họ với Xoong hau, và đặc biệt đã nhấn mạnh sự giống nhau giữa hai cách kết bọn, cách hát đôi; và nếu đi sâu vào cách ăn mặc quần áo ngày hội Quan họ, ta sẽ thấy bộ quần áo ấy là bộ quần áo Xoong hau thường mặc. Nó giống từ bộ xà tích đeo hông đến cái nón bằng che nửa miệng, đến câu chào hỏi, đến lối hát giữa chợ và mời bạn về nhà, từ tổ chức nhà chứa đến tổ chức kết nghĩa.

”Bọn ta” có nghĩa là gì? Cả hai bên Quan họ đều gọi nhau là Quan họ, tức đều gọi nhau là Bọn ta. Chính là vì họ đã có quan hệ về kết nghĩa. Tục kết nghĩa quy định kết nghĩa với nhau thì coi nhau như anh em một nhà, giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất. Vì vậy, Quan họ nữ đến nhà nam thì cha mẹ nam coi như con cái trong nhà, tiếp đãi ân cần, nếu trai đã có vợ, vợ cũng phải công nhận Quan họ nữ là con em trong nhà, không được ghen tuông. Bọn ta chính là vì thành hoàng đã chứng nhận cho họ làm con một nhà. Họ đã đưa trầu rượu đến dâng thành hoàng và xin được làm bạn với nhau, chưa nói đến trường hợp là cùng thờ chung thành hoàng, họ tự coi là người cùng một thị tộc do làm ăn mà phải tách xa. Bọn ta còn chính là vì khi hát phải có lề lối, chứ không như Quan họ hát ngoài đồi thì gọi là Đúm hay hát thông thường khác thì gọi là Ghẹo.

Như vậy, như chúng tôi đã phân tích, từ Quan họ có liên quan đến nguồn gốc Quan họ chứ không phải không có mối liên hệ gì.
Theo nghĩa đó, Quan họ được kể bắt đầu có Bọn ta tổ chức két nghĩa dưới sự công nhận của thành hoàng và của dân làng. Quan họ được kể bắt đầu từ khi hát có lề lối, đối ứng, đối giọng. Trong đối ứng, nhằm mục đích cầu may, cầu vui, cầu phúc, cầu cho người an vật thịnh trong niềm tin của đôi dân. Giai đoạn trước đó là tiền Quan họ, giai đoạn sau đó là quá trình phát triển của Quan họ.

Theo dancaquanhobacninh

Hãy chia sẻ những tình cảm, bài viết chân thực và lắng đọng về quê hương của mình cho chúng tôi qua địa chỉ Tamhoc.com@gmail.com. Tác phẩm được đăng sẽ nhận được một phần quà hấp dẫn.

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo