Truyện Ỷ THIÊN ĐỒ LONG KÝ truyen Y THIEN DO LONG KY ythiendolongky

TẬP 1:

THIÊN NHAI TƯ QUÂN BẤT KHẢ VONG

Chữ tình buộc lấy chữ sầu, Chân trời góc biển tìm đâu bây giờ Xuân du hạo đãng, thị niên niên hàn thực, lê hoa thời tiết.
Bạch cẩm vô văn hương lạn mạn, ngọc thụ quỳnh bao đôi tuyết.
Tĩnh dạ trầm trầm, phù quang ái ái, lãnh mạn dung dung nguyệt.
Nhân gian thiên thượng, lạn ngân hà chiếu thông triệt.
Hồn tự cô xạ chân nhân, thiên tư linh tú, ý khí thù cao khiết.
Vạn nhị sâm sai thùy tín đạo, bất dữ quần phương đồng liệt.
Hạo khí thanh anh, tiên tài trác lạc, hạ thổ nan phân biệt.
Dao đài qui khứ, động thiên phương khán thanh tuyệt.
Tiết trời lạnh hoa lê đang rộ, Khách nhàn du lãng đãng chơi xuân.
Hương thơm bay tỏa không gian, Cành cây trắng xóa lộc non nở đầy.
Ánh trăng lạnh canh khuya thanh tĩnh, Chiếu trên cao thấp thoáng sông ngân.
Tâm tình một vẻ miên man, Trời cho tính khí cao sang vẻ người.
Chen lẫn vẻ muôn hoa rực rỡ, Vẻ thanh cao vẫn tự vươn cao.
Thanh anh trác lạc hơn người, Dẫu trong ngọc đá có chiều nọ kia.
Dao đài ai kẻ đi về, Hương trời đôi lứa đã kề bên nhau.
Bài từ “Vô Tục Niệm” này vốn là của một vị võ học danh gia, cũng là một đạo sĩ ở vào cuối đời Nam Tống họ Khưu tên Xứ Cơ, đạo hiệu Trường Xuân Tử. Ông là một trong Toàn Chân thất tử và là nhân vật xuất sắc của phái Toàn Chân. Trong “Từ Phẩm” đã bình về bài từ này như sau:
“Trường Xuân, người đời vẫn coi là một vị tiên, nên lời từ mới hay và xuất sắc đến thế” Bài từ tuy nói về hoa lê, nhưng thật ra chính là để ca tụng một thiếu nữ xinh đẹp mặc áo trắng, coi nàng “thực không phải người phàm, thiên tư linh tú, khí độ cao khiết”, lại nói nàng “hạo khí thanh anh, tiên tài trác lạc”, “bất dĩ quần phương đồng liệt” (không giống như những người khác). Người con gái đẹp mô tả trong bài từ này, chính là truyền nhân của phái Cổ Mộ, Tiểu Long Nữ. Nàng vốn ưa mặc đồ trắng, chẳng khác gì gió thổi qua cây ngọc, đóa quỳnh nở trong tuyết, chỉ hiềm tính khí lạnh lùng, nên mới tả hình dung là “lãnh mạn dung dung nguyệt”. Khưu Xứ Cơ tặng nàng ba chữ “Vô Tục Niệm” thật mười phần xác đáng.
Trường Xuân Tử Khưu Xứ Cơ ở ngay bên cạnh nàng tại Chung Nam Sơn, một lần gặp mặt nên viết ra bài từ này. Lúc bấy giờ Khưu Xứ Cơ tạ thế đã lâu, Tiểu Long Nữ cũng đã làm vợ Thần Điêu đại hiệp Dương Quá.
Trên sơn đạo núi Thiếu Thất, tỉnh Hà Nam, có một thiếu nữ, đang cúi đầu lẩm nhẩm bài từ này. Cô gái ước chừng mười tám, mười chín tuổi, mặc áo màu vàng nhạt, cưỡi một con lừa đen, đi chầm chậm lên núi, vừa đi vừa nghĩ thầm: “Chỉ có người như Long tỉ tỉ mới xứng đáng lấy được chàng mà thôi”.
Chữ “chàng” hiển nhiên là nói đến Thần Điêu đại hiệp Dương Quá. Cô gái lỏng dây cương, cứ để cho con lừa tự ý, thẳng đường lên núi. Một lúc lâu sau, cô lại lẩm bẩm: “hoan lạc thú, ly biệt khổ, tựu trung cánh hữu si nhi nữ. Quân ứng hữu ngữ, diểu vạn lý tằng vân, thiên sơn mộ tuyết, chích ảnh hướng thùy khứ?” Gặp nhau lòng những vui vầy, Xa nhau dạ những luống đầy khổ đau.
Cõi tình mê đắm ai đâu?
Chim kia thiếu bạn tiếng sầu lẻ loi.
Từng mây muôn dặm xa xôi, Núi cao tuyết trắng nơi nơi cũng là.
Một mình cô tịch gần xa, Trăm năm bến cũ biết là về đâu?
Cô gái lưng đeo đoản kiếm, sắc mặt có nhuốm đôi chút phong trần, hiển nhiên đã viễn du lâu ngày. Gương mặt xinh tươi, đang ở vào tuổi vô tư lự, nhưng sao dung nhan như có gì muộn phiền, đầu mày cuối mắt không thể che dấu được.
Nàng họ Quách, tên chỉ có một chữ Tương, chính là con thứ của đại hiệp Quách Tĩnh và nữ hiệp Hoàng Dung, còn có ngoại hiệu là Tiểu Đông Tà. Nàng một lừa, một kiếm, lang thang một mình, những tưởng phiền muộn trong lòng vơi đi, ai ngờ sầu lại thêm sầu, nơi danh sơn lẻ bóng lại càng hiu quạnh.
Núi Thiếu Thất thuộc tỉnh Hà Nam cũng khá cao, đường lên núi là những bậc thang bằng đá rộng rãi, qui mô lớn lao, công trình không phải nhỏ, là do vua Đường Thái Tông đến thăm chùa Thiếu Lâm mà bỏ ra tạo dựng, dài cả thảy tám dặm. Quách Tương cưỡi lừa uể oải trèo lên, thấy trước mặt từ ngọn trên núi ào ào đổ xuống năm dòng thác tung tóe như ngọc, lại nhìn những ngọn núi khác chỉ nhỏ như đàn kiến. Theo đường sơn đạo chuyển vào một khúc quanh, thì thấy một tòa tự viện tường vàng ngói xanh.
Nàng đứng ngắm dãy chùa một hồi, nghĩ thầm: “Thiếu Lâm tự vốn là nguồn gốc võ học của thiên hạ, nhưng sao hai kỳ luận kiếm Hoa Sơn, trong số ngũ tuyệt không thấy cao tăng nào của chùa Thiếu Lâm cả? Không lẽ hòa thượng trong chùa không tài cán gì, sợ mất uy danh, nên không dám phó hội? Hay là tăng lữ tu hành tinh thâm, không còn tham luyến hư danh, võ công tuy cao, nhưng không muốn tranh cường đổ thắng với người ngoài?”.
Nàng xuống lừa, lững thững đến trước cửa chùa, chỉ thấy cây cối rậm rạp, bóng râm che phủ một khu rừng bia. Bia đá quá nửa đã bị hủy phá, nét chữ mơ hồ, không biết viết những gì. Nàng nghĩ thầm: “Chữ khắc sâu trên đá, theo năm tháng cũng mòn, thế nhưng sao những gì khắc trong tim ta, thời gian càng lâu càng sâu đậm?”.
Chợt thấy một tấm bia lớn khắc việc Đường Thái Tông ban cho chùa Thiếu Lâm ngự trát, khen tăng nhân về việc lập công trừ loạn. Trong bia nói là khi Đường Thái Tông còn là Tần Vương, đem binh đánh Vương Thế Sung, hòa thượng chùa Thiếu Lâm đầu quân, xuất sắc nhất có cả thảy mười ba người. Trong số đó chỉ có Đàm Tông nhận phong làm Đại Tướng Quân, còn mười hai người còn lại không muốn làm quan, Đường Thái Tông ban cho mỗi người một áo cà sa bằng lụa tía. Nàng tưởng tượng ngay từ thời Tùy Đường mà võ công chùa Thiếu Lâm đã danh vang thiên hạ, mấy trăm năm nay lại càng thêm tinh xảo, không biết trong chùa có bao nhiêu ngọa hổ tàng long.
Quách Tương từ khi chia tay với vợ chồng Dương Quá, Tiểu Long Nữ ở trên đỉnh Hoa Sơn tới giờ đã ba năm không nghe chút tin tức gì của hai người. Trong lòng mong nhớ, nàng thưa với cha mẹ, nói là muốn đi ngao du sơn thủy, nhưng thực ra là để nghe ngóng tin tức của Dương Quá. Nàng thực tâm cũng chẳng cần phải gặp mặt cặp vợ chồng này, chỉ cần nghe tin họ hành hiệp ra sao cũng đã thỏa mãn. Thế nhưng từ khi từ biệt, hai người không lộ diện giang hồ, chẳng biết ẩn cư nơi nào. Thành thử Quách Tương đi từ bắc xuống nam, lại từ đông sang tây, tưởng chừng đã đặt chân quá nửa đất trung nguyên, thủy chung vẫn không nghe thấy ai nói đến Thần Điêu đại hiệp Dương Quá cả.
Một hôm nàng đến đất Hà Nam, chợt nhớ ra chùa Thiếu Lâm có một nhà sư tên Vô Sắc là bạn thân của Dương Quá, hồi mình sinh nhật mười sáu tuổi, nể mặt họ Dương nên ông đã sai người đem tặng một món quà. Tuy chưa bao giờ gặp mặt nhà sư này nhưng cũng nên lên hỏi thử một câu, biết đâu ông ta lại rõ tung tích của hai người. Vì thế Quách Tương mới lên chùa Thiếu Lâm.
Đang lúc xuất thần, bỗng nghe thấy từ chòm cây bên cạnh rừng bia truyền ra tiếng leng keng, loảng xoảng và tiếng người niệm kinh Phật:
Thị thời Dược Xoa cộng vương lập yếu, tức ư vô lượng bách thiên vạn ức đại chúng chi trung, thuyết thắng diệu già tha viết: do ái cố sinh ưu, do ái cố sinh bố; nhược li ư ái giả, vô ưu diệc vô bố…[1] (Khi đó Thế Tôn đứng giữa thiên vạn ức người mà giảng rằng: Vì yêu mà sinh ra buồn phiền, vì yêu mà sinh ra sợ hãi, nếu như dứt được yêu, chẳng buồn cũng chẳng sợ…) Quách Tương nghe bốn chữ kệ đó, bỗng thấy ngơ ngẩn, trong lòng cũng nhẩm theo: “do ái cố sinh ưu, do ái cố sinh bố; nhược li ư ái giả, vô ưu diệc vô bố”. Chỉ nghe thấy tiếng loảng xoảng cùng tiếng tụng kinh xa dần.
Quách Tương cúi đầu: “Để ta hỏi ông ta làm cách nào có thể thoát khỏi tình yêu, làm cách nào để không buồn không sợ?”.
Thuận tay nàng buộc lừa vào một gốc cây, vạch lùm cây đuổi theo. Chỉ thấy đằng sau tàn cây là một đường mòn lên núi, có một tăng nhân gánh một đôi thùng lớn, đang đi chầm chậm. Quách Tương rảo bước chạy theo, đến cách nhà sư chừng bảy, tám trượng, bỗng giật mình. Chỉ thấy người đó gánh một đôi thùng sắt lớn, so với thùng gánh nước thường phải hơn gấp đôi, vậy mà trên cổ, cánh tay, cẳng chân còn quấn quít đầy xích lớn, mỗi khi đi đứng tiếng kêu loảng xoảng. Hai chiếc thùng không cũng đã đến hơn hai trăm cân, trong lại đầy nước, phải nặng đến kinh người. Quách Tương kêu lên:
– Đại hòa thượng, xin dừng chân, tiểu nữ có điều muốn thỉnh giáo.
Nhà sư đó quay đầu lại, hai người nhìn nhau, đều tỏ vẻ ngạc nhiên. Hóa ra vị hòa thượng đó là Giác Viễn, ba năm trước, hai người đã gặp nhau tại đỉnh Hoa Sơn. Quách Tương biết ông ta tuy tính hơi cổ hủ nhưng nội công tinh thâm, không kém bất cứ cao thủ nào hiện thời, nên nói:
– Tưởng ai hóa ra là Giác Viễn đại sư. Tại sao ông lại ra nông nỗi này?
Giác Viễn khẽ gật đầu, mỉm cười, chắp tay hành lễ, nhưng không trả lời, quay mình bước đi. Quách Tương vội gọi:
– Giác Viễn đại sư, ông không nhận ra tôi sao? Tôi là Quách Tương đây mà!
Giác Viễn quay lại mỉm cười, khẽ gật đầu nhưng không ngừng bước. Quách Tương lại hỏi:
– Ai lấy xích buộc ông vậy? Sao lại hành hạ ông như thế?
Giác Viễn đưa tay trái ra sau đầu xua xua mấy cái, như ám chỉ cô ta đừng hỏi nhiều.
Quách Tương thấy chuyện kỳ quái, lẽ nào không tìm cho ra đầu đuôi? Lập tức cất bước đuổi theo, tính sẽ chặn trước mặt nhà sư. Nào ngờ Giác Viễn tuy toàn thân đầy xích, lại gánh đôi thùng sắt, vậy mà dẫu Quách Tương hết sức chạy, thủy chung vẫn không vượt qua được ông ta. Tính trẻ con của cô gái nổi lên, thi triển khinh công gia truyền, hai chân nhún một cái, người bay vọt lên, vươn tay chụp vào thùng nước. Mắt trông tưởng ra tay ắt sẽ trúng, nào ngờ vẫn còn cách đến hai tấc. Quách Tương kêu lên:
– Đại hòa thượng giỏi thật, nhất định tôi phải đuổi kịp ông mới thôi.
Chỉ thấy Giác Viễn rảo bước đi, tiếng xích sắt leng keng như tiếng nhạc, mỗi lúc một xa về phía sau núi.
Quách Tương đuổi theo một lúc hơi thở đã dồn dập, thế nhưng vẫn cách ông ta đến hơn một trượng, trong lòng không khỏi bội phục: “Cha mẹ ta lúc ở trên núi Hoa Sơn, đã từng nói là vị hòa thượng này võ công cực cao, lúc đó ta không tin, đến nay thử một chuyến, thấy lời hai ông bà quả thật không sai”.
Chỉ thấy Giác Viễn quẹo vào đằng sau một ngôi nhà nhỏ, đổ hai thùng nước vào trong một miệng giếng. Quách Tương hết sức kỳ quái, kêu lên:
– Đại hòa thượng, ông không điên đấy chứ? Đổ nước vào trong giếng để làm gì thế?
Giác Viễn thần sắc bình hòa, lắc đầu. Quách Tương chợt hiểu ra, cười:
– À, hóa ra ông đang luyện một môn nội công rất cao thâm.
Giác Viễn lại lắc đầu lần nữa. Quách Tương hơi bực mình, nói:
– Rõ ràng tôi nghe ông tụng kinh, tức không bị câm, sao bây giờ không trả lời tôi?
Giác Viễn chắp tay chào, vẻ mặt hơi sượng sùng, không đáp lời, quảy đôi thùng đi xuống chân núi. Quách Tương thò đầu nhìn vào trong giếng, chỉ thấy nước trong vắt, không thấy điểm gì đặc biệt, ngẩn ngơ nhìn theo lưng Giác Viễn, lòng đầy nghi hoặc.
Cô ta đuổi theo một hồi thấy đã hơi mệt nên ngồi xuống thành giếng, quan sát phong cảnh bốn bề. Nơi đó cao hơn những tòa nhà trong chùa Thiếu Lâm, nhưng thấy núi Thiếu Thất vươn thẳng lên trời, trải ra như một bức bình phong, bên dưới khói tỏa lung linh, tiếng chuông theo gió vang lại, khiến bao nhiêu nỗi phiền tục bay đi cả. Quách Tương thầm nghĩ: “Người đệ tử của ông hòa thượng này đi đâu, nếu ông ta không nói, ta đi hỏi thiếu niên này vậy”.
Nghĩ vậy cất bước hạ sơn, định đi kiếm đệ tử của Giác Viễn là Trương Quân Bảo hỏi cho ra lẽ. Đi được một quãng, lại nghe tiếng xích leng keng, Giác Viễn lại gánh nước đi tới. Quách Tương lẻn ra sau một gốc cây, nghĩ thầm:” Để ta rình xem ông ta định làm trò quỉ quái gì”.
Tiếng xích sắt tới gần, chỉ thấy Giác Viễn gánh đôi thùng sắt, tay cầm một quyển sách, chú tâm vào đọc. Quách Tương đợi ông ta đến gần bên, hết sức nhảy vọt ra, kêu lên:
– Đại hòa thượng, ông đọc sách gì thế?
Giác Viễn thất thanh kêu lên:
– Ôi chà, làm tôi hết hồn, hóa ra là cô.
Quách Tương cười:
– Tưởng ông giả câm, sao bây giờ lại nói được?
Giác Viễn hơi có vẻ sợ hãi, nhìn quanh một lượt, xua tay. Quách Tương hỏi:
– Ông sợ cái gì?
Giác Viễn chưa kịp trả lời, đột nhiên từ trong rừng cây có hai nhà sư mặc áo màu xám tro bước ra, một cao một lùn. Nhà sư cao gầy quát:
– Giác Viễn không giữ giới pháp, dám tự tiện mở mồm nói chuyện với người ngoài chùa, nhất là lại nói chuyện với một thiếu nữ trẻ tuổi? Mau đi gặp thủ tọa giới luật đường.
Giác Viễn lủi thủi, chỉ gật đầu, đi theo hai tăng nhân nọ.
Quách Tương vừa tức, vừa giận, lớn tiếng hỏi:
– Trên đời này sao lại có lề luật đâu cấm người ta nói chuyện bao giờ? Tôi quen biết vị đại sư này, tôi nói chuyện với ông ta, việc gì đến các ông?
Nhà sư cao gầy trừng mắt nhìn, nói:
– Từ một nghìn năm nay, chùa Thiếu Lâm không cho phép nữ lưu bước chân vào. Mời cô nương xuống núi, đừng để chúng tôi phải làm phiền.
Quách Tương nổi giận:
– Nữ lưu thì đã sao? Đàn bà con gái không phải người à? Các ngươi tại sao làm khó dễ vị Giác Viễn đại sư này? Đã lấy xiềng xích trói người ta, lại còn không cho người ta nói chuyện?
Nhà sư đó cười nhạt:
– Việc của bản tự, đến hoàng đế cũng chẳng can thiệp được. Không dám để cô nương phải nhọc lòng hỏi đến.
Quách Tương càng giận hơn:
– Vị đại sư này là người thực thà trung hậu, thấy người ta hiền lành, các ngươi hiếp đáp. Hừ hừ, Thiên Minh thiền sư đâu? Vô Sắc, Vô Tướng hòa thượng đâu? Các ngươi đi gọi họ ra đây để ta hỏi họ xem thế là thế nào?
Hai nhà sư nọ nghe thấy thế đều giật mình. Thiên Minh thiền sư là phương trượng của chùa, Vô Sắc thiền sư là thủ tọa La Hán đường, còn Vô Tướng thiền sư là thủ tọa Đạt Ma đường. Ba người địa vị tôn quí nên tăng lữ trong chùa trước nay chỉ gọi là lão phương trượng, thủ tọa La Hán đường và thủ tọa Đạt Ma đường, chứ không dám gọi bằng pháp danh. Ngờ đâu một cô gái trẻ tuổi lại dám lên núi hô hoán thẳng tên như thế.
Hai tăng nhân này đều là đệ tử của thủ tọa giới luật đường, được lệnh tọa sư sai đi giám thị Giác Viễn. Nghe thấy Quách Tương ăn nói không kiêng nể gì ai, nhà sư cao gầy quát:
– Nữ thí chủ nếu còn làm rộn chốn Phật môn thanh tịnh thì đừng trách tiểu tăng vô lễ.
Quách Tương nói:
– Bộ tưởng ta sợ sư sãi các ngươi hay sao? Mau mau tháo dây xích xiềng trói Giác Viễn đại sư ra thì ta để yên, nếu không ta sẽ lôi Thiên Minh lão hòa thượng ra hỏi đấy.
Nhà sư lùn nghe thấy Quách Tương ăn nói lếu láo, bên hông lại đeo đoản kiếm, nên gằn giọng:
– Cô tháo binh khí để lại, chúng tôi không cãi lý với cô, mau xuống núi đi.
Quách Tương tháo đoản kiếm ra, hai tây nâng lên cười nhạt:
– Hay lắm, xin tuân lệnh tôn đài.
Gã sư lùn từ nhỏ xuất gia, trước nay nghe sư bá, sư thúc, sư huynh đều nói là Thiếu Lâm tự là nguồn gốc chung của võ học, lại nghe là dù thanh vọng lớn đến thế nào chăng nữa, võ lâm cao thủ tài ba đến mấy chăng nữa, cũng không ai dám đeo binh khí tiến vào trong chùa Thiếu Lâm. Cô gái trẻ tuổi này tuy chưa bước chân vào cổng chùa, nhưng cũng đã thuộc phạm vi của Thiếu Lâm, hẳn là cô ta cũng sợ nên líu ríu giao đoản kiếm. Nghĩ thế nên y đưa tay nhận kiếm. Tay gã vừa chạm vào bao kiếm bỗng thấy cánh tay chấn động như bị điện giật. Một luồng sức mạnh từ đoản kiếm truyền lên, hất về phía sau, chân đứng không vững khiến gã ngã bổ chửng. Gã đang đứng tại triền núi dốc, bị ngã liền lộc cộc lăn xuống mấy trượng, may cố gượng mới dừng lại được.
Nhà sư cao gầy vừa tức vừa sợ, quát:
– Ngươi ăn tim sư tử, uống mật báo hay sao mà dám tới Thiếu Lâm tự gây rối hả?
Y xoay người lại, tiến lên một bước, tay phải tung ra một chưởng, tay trái cũng đi theo đè lên tay phải, hai tay cùng đánh ra, chính là thế thứ hai mươi tám trong “Sấn Thiếu Lâm” Phiên Thân Phách Kích.
Quách Tương tay cầm cán kiếm, dùng cả kiếm lẫn bao nhằm vai gã điểm tới. Nhà sư hạ vai xuống phản kích, vươn tay chộp lấy bao kiếm. Giác Viễn đứng bên thấy thế hoảng hốt kêu lên:
– Xin đừng động thủ, đừng động thủ! Hãy từ từ nói chuyện phải quấy.
Lúc đó tăng nhân đã nắm được bao, đang định vận kình đoạt kiếm, chỉ thấy lòng bàn tay bị chấn động, hai cổ tay hơi tê đi, kêu lên một tiếng: “Hỏng rồi”, Quách Tương chân trái đã quét ngang, đá y văng xuống sườn núi.
Y bị đòn so với gã sư lùn nặng hơn nhiều, lăn xuống, trên đầu, trên mặt bị va vào đá máu chảy lênh láng, mãi mới ngừng lại được. Quách Tương nghĩ thầm: “Ta lên chùa Thiếu Lâm vốn chỉ muốn dò hỏi tin tức đại ca, vô cớ cùng bọn họ động thủ, xem ra không ổn rồi”.
Liếc mắt thấy Giác Viễn mặt mày buồn thiu đứng tại bên cạnh, nên rút đoản kiếm ra, chặt những xích buộc ở tay ông ta. Tuy đoản kiếm đó không phải là vật hi hữu, quí báu, nhưng cũng là một loại binh khí rất sắc bén, chỉ nghe loảng xoảng mấy tiếng, dây xích đã đứt thành ba khúc. Giác Viễn luôn mồm kêu:
– Không được đâu! Không được đâu!
Quách Tương hỏi lại:
– Cái gì mà không được?
Rồi chỉ tay về phía hai tăng nhân cao lùn đang chạy vào chùa mà nói:
– Hai tên ác hòa thượng đó hẳn là vào chùa phi báo, mình phải chạy ngay. Đồ đệ họ Trương của ông đâu? Dắt cậu ta theo với.
Giác Viễn chỉ xua tay. Bỗng phía sau có tiếng người nói:
– Đa tạ cô nương quan tâm, tôi đang ở đây.
Quách Tương quay lại, thấy đằng sau lưng một thiếu niên chừng mười sáu, mười bảy tuổi, mày rậm mắt to, thân thể cao lớn, nhưng mặt vẫn còn trẻ con, chính là Trương Quân Bảo, người ba năm trước đã gặp trên núi Hoa Sơn. So với bây giờ, cậu ta đã cao lớn hơn nhiều, nhưng dung mạo không thay đổi mấy. Quách Tương mừng quá, vội nói:
– Bọn ác hòa thượng ở đây chèn ép sư phụ ngươi, mình nên chạy ngay đi.
Trương Quân Bảo lắc đầu:
– Không ai chèn ép sư phụ tôi đâu.
Quách Tương chỉ Giác Viễn:
– Hai gã ác hòa thượng đó lấy xích buộc sư phụ ngươi, lại một câu cũng không cho nói, chẳng chèn ép thì là gì?
Giác Viễn nhăn nhó lắc đầu, chỉ xuống chân núi, ý muốn Quách Tương mau mau thoát thân, đừng để bị rắc rối. Quách Tương biết rằng trong chùa Thiếu Lâm số người võ công cao hơn nàng không biết bao nhiêu, nhưng thấy việc bất bình trước mắt, không thể xuôi tay bỏ qua; lại ngại cao thủ trong chùa chạy ra ngăn trở, nên một tay nắm Giác Viễn, một tay nắm Trương Quân Bảo, dậm chân nói:
– Chạy mau, chạy mau, có chuyện gì xuống núi đã rồi hãy nói cũng được.
Hai người chỉ đứng yên không trả lời. Bỗng thấy cửa chùa ở triền núi bên dưới chạy ra bảy tám tăng nhân, tay cầm tề mi đại côn, kêu lên:
– Con nhỏ mất dạy nào dám đến chùa Thiếu Lâm mà phá phách?
Trương Quân Bảo đưa tay làm loa kêu lớn:
– Các vị sư huynh không được vô lễ, đây là…
Quách Tương hoảng hốt:
– Đừng nói tên tôi ra.
Nàng nghĩ chuyện ngày hôm nay xem chừng không nhỏ, thể nào rồi cũng đồn ra đến tai cha mẹ, nên thêm một câu:
– Bọn mình nên theo đường núi chạy ngay, tuyệt đối đừng đề cập đến tên cha mẹ, bạn bè tôi.
Chỉ nghe thấy sườn núi phía sau cũng có tiếng người la ó, lại thêm bảy tám nhà sư nữa chạy ra. Quách Tương thấy trước sau đều có sư bao vây, nhíu mày, trách:
– Các ngươi cứ lừng chà lừng chừng, không có chút khí phách gì của nam nhi, chạy hay không nào?
Trương Quân Bảo nói:
– Sư phụ, cô nương đây có lòng tốt…
Ngay lúc đó, cửa chùa bên dưới lại ra thêm bốn nhà sư áo vàng, phấp phới chạy thẳng lên, tay không cầm binh khí nhưng thân pháp nhanh nhẹn, gió thổi vào áo phần phật, xem ra võ công không phải tầm thường. Quách Tương thấy tình thế như vậy, xem chừng chạy thoát thân một mình cũng không xong, nên ngưng khí đứng yên, chờ xem chuyện gì xảy ra. Nhà sư chạy đầu đến cách cô ta chừng bốn trượng, lớn tiếng nói:
– Thủ tọa La Hán đường sư tôn truyền rằng, người đến chùa mau bỏ binh khí, xuống lều tranh dưới núi nói rõ sự tình, để nghe pháp dụ.
Quách Tương cười nhạt:
– Gớm, các đại hòa thượng chùa Thiếu Lâm quan cách quá, nghe thật lọt tai. Xin hỏi các đại hòa thượng là quan của hoàng đế Đại Tống, hay là quan của hoàng đế Mông Cổ đấy?
Khi đó đất đai phía bắc sông Hoài không còn thuộc về nhà Đại Tống nữa, khu vực chùa Thiếu Lâm cũng đã thuộc về Mông Cổ từ lâu. Thế nhưng quân Mông nhiều năm qua còn bận công thành Tương Dương chưa được, phải lo điều binh khiển tướng không hơi sức đâu mà lo chuyện chùa chiền, nên chùa Thiếu Lâm mọi sự vẫn y như ngày trước.
Gã tăng nhân nghe Quách Tương mỉa mai thật là chua cay, nên không khỏi đỏ mặt, cảm thấy đối với người ngoài mà truyền dụ như vậy quả không ổn, nên chắp tay nói:
– Không biết nữ thí chủ có chuyện gì mà quang lâm tệ tự, xin để binh nhận, mời xuống vi đình dưới chân núi uống trà nói chuyện.
Quách Tương thấy y đổi giọng hòa nhã, nên cũng muốn làm hòa, nên nói:
– Các ông không cho tôi vào chùa thì thôi. Hừ, hay là trong chùa có báu vật, tôi trông thấy sẽ được thơm lây chăng?
Nói rồi liếc nhìn Trương Quân Bảo, nói nhỏ:
– Có chạy hay không thì bảo?
Trương Quân Bảo lắc đầu, nhếch mép về phía Giác Viễn, ý nói muốn ở lại hầu hạ sư phụ. Quách Tương lớn tiếng nói:
– Thế thì thôi ta không lo cho nữa, ta đi đây.
Nói rồi rảo bước chạy xuống núi.
Nhà sư áo vàng đi đầu né sang nhường lối. Người thứ hai và người thứ ba giơ tay ngăn lại, cùng nói:
– Hãy khoan, để binh khí lại.
Quách Tương nhướng mày, tay để lên cán kiếm. Nhà sư thứ nhất nói:
– Chúng tôi không dám giữ binh nhận của nữ thí chủ đâu. Khi xuống đến chân núi, chúng tôi lập tức đem bảo kiếm giao lại. Đây là qui củ của chùa Thiếu Lâm hàng nghìn năm nay, xin lượng thứ cho.
Quách Tương nghe y ăn nói lễ độ, trong lòng thầm tính: “Nếu như mình không để kiếm lại, thế tất phải đánh nhau, ta chỉ có một mình, đâu phải là địch thủ của tăng chúng chùa Thiếu Lâm. Thế nhưng nếu để kiếm lại, chẳng há đem thể diện ông ngoại, cha mẹ, đại ca ca, Long tỉ tỉ bỏ đi sao?”.
Nàng còn đang trù trừ chưa quyết, chỉ thấy trước mắt một bóng vàng thấp thoáng, một người thét:
– Đã đeo kiếm đến chùa Thiếu Lâm, lại đả thương người, trên đời này đâu có lý nào như thế.
Kình phong xô tới, năm ngón tay đã chộp lấy bao kiếm. Giá như tăng nhân đó để yên không ra tay, Quách Tương thấy trước mắt tình thế bất lợi, ắt sẽ tạm nhịn cái khí nhất thời, sau sẽ cùng với ông ngoại, cha mẹ bàn luận rồi quay lại tính chuyện. Thế nhưng đối phương đột nhiên ỷ mạnh, chẳng lẽ để y khơi khơi đoạt kiếm sao?
Cầm nã thủ pháp của nhà sư đó quả thực xảo diệu, vừa nắm được bao kiếm, nghĩ là thể nào Quách Tương cũng giựt lại, một hòa thượng cùng một cô gái co co kéo kéo, trông rất bất nhã, nên y vận kình đẩy sang bên trái, thuận thế lại kéo về bên phải. Quách Tương bị y vừa nắm vừa đẩy như thế quả nhiên không cưỡng lại được phải lỏng tay ra, vội chụp lấy cán kiếm, chỉ soẹt một tiếng, hàn quang lấp lánh. Tăng nhân nọ tay phải tuy cầm được bao kiếm nhưng hai ngón tay trái đã bị đoản kiếm thuận thế cắt đứt, đau quá phải ném bao kiếm, lui sang một bên.
Chúng tăng nhân thấy đồng môn bị thương, vừa kinh vừa giận, múa trượng giơ côn cùng xông lại. Quách Tương nghĩ thầm: “Thôi thì đến đâu thì đến, hôm nay chuyện xem không xong rồi”. Nghĩ rồi sử dụng tài nghệ gia truyền “Lạc Anh kiếm pháp”, vừa múa vừa xông xuống chân núi. Các nhà sư xếp thành ba vòng, chia nhau đỡ gạt.
Lạc Anh kiếm pháp vốn do Hoàng Dược Sư theo Lạc Anh chưởng pháp mà chế ra, tuy không tinh diệu bằng Ngọc Tiêu kiếm pháp, nhưng cũng là một tuyệt kỹ của đảo Đào Hoa. Chỉ thấy ánh xanh lấp loáng, kiếm hoa từng điểm, như phất phới đang rơi khắp bốn bề. Trong chốc lát đã có hai tăng nhân bị thương. Thế nhưng phía sau lại có mấy nhà sư xông lên, thế từ cao đánh xuống. Nếu theo lý thì Quách Tương không thể nào đương cự nổi, nhưng tăng chúng Thiếu Lâm lấy từ bi làm gốc, không muốn hại đến tính mệnh cô ta, chiêu số đánh ra không dùng sát thủ, chỉ cốt đánh ngã, dạy dỗ một phen, giữ binh khí lại, đuổi xuống chân núi. Thế nhưng Quách Tương kiếm quang mù mịt, không dễ gì tới được gần.
Lúc đầu tăng chúng nghĩ rằng cô gái tuổi còn trẻ, nên coi thường. Đến lúc thấy kiếm pháp tinh kỳ, biết là không thuộc giòng giõi danh môn cũng là đồ đệ danh sư, không nên đắc tội, phải ra chiêu dè dặt, một mặt cấp báo cho thủ tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư.
Đang lúc đó, một vị sư già thân thể cao gầy chầm chậm đi tới, hai tay luồn trong tay áo, mỉm cười xem hai bên giao đấu. Hai tăng nhân chạy đến trước mặt ông ta, nói khẽ vài câu. Quách Tương lúc này đã thở hồng hộc, kiếm pháp lăng loạn, kêu lớn:
– Vậy mà dám gọi là nguồn gốc võ công thiên hạ, hóa ra hơn một chục hòa thượng vây đánh một người, lấy đông thắng ít.
Vị lão tăng đó chính là thủ tọa La Hán đường Vô Sắc thiền sư, nghe vậy, liền nói:
– Mọi người dừng tay!
Những nhà sư nghe thế vội ngưng lại nhảy ra ngoài. Vô Sắc thiền sư nói:
– Cô nương tên họ là gì, lệnh tôn và lệnh sư là ai? Đến chùa Thiếu Lâm chẳng hay có chuyện gì thế?
Quách Tương nghĩ thầm “Ta không nên nói tên họ cha mẹ cho ông ta biết. Việc ta đến chùa Thiếu Lâm để thăm hỏi tin tức của đại ca cũng không thể nói ra cho mọi người nghe được. Mình đã gây rắc rối thế này, cha mẹ và đại ca biết được thể nào cũng rầy rà, chi bằng mình cứ lặng thinh là hơn. “ Vì thế nàng đáp:
– Tên họ tôi không thể cho ông biết được, chẳng qua tôi thấy trên núi phong cảnh đẹp đẽ, nên lên ngắm cảnh đấy thôi. Nào ngờ chùa Thiếu Lâm so với nội viện hoàng cung còn khó khăn hơn, chẳng làm gì cũng đòi giữ binh khí người ta lại. Xin hỏi đại sư, tôi đã bước chân vào cổng chùa chưa? Ngày trước Đạt Ma tổ sư truyền võ nghệ, chẳng qua cũng chỉ để cho tăng chúng thân thể khỏe mạnh, khiến việc tu hành cho tinh tiến, nào hay danh tiếng càng to, võ công càng cao, thì cái việc cậy đông cậy mạnh lại càng lớn. Hay lắm, nếu các ông muốn giữ binh khí của tôi, thì tôi để lại, trừ phi giết tôi đi, chứ việc hôm nay đừng tưởng trên giang hồ không ai biết đến.
Cô ta bản chất nhanh mồm khéo miệng, việc này lại không phải hoàn toàn lỗi ở nàng, chỉ một câu khiến Vô Sắc thiền sư cứng họng không trả lời được. Quách Tương nhìn mặt đặt tên, nghĩ thầm: “Việc quấy phá này chính ta mới là người sợ lộ ra ngoài, nhưng xem ra Thiếu Lâm tự còn ngại hơn. Hơn một chục hòa thượng vây đánh một cô gái trẻ tuổi, nghe có gì là hay ho?”. Nghĩ thế bèn hứ một tiếng, ném đoản kiếm xuống đất, quay mình bước đi.
Vô Sắc thiền sư lạng người tiến lên, phất tay áo một cái đã cuộn được thanh kiếm, hai tay cầm lấy lưỡi kiếm, nói:
– Cô nương nếu không nể tình thầy trò chúng tôi, thanh bảo kiếm này xin cầm lại. Lão nạp cung kính tiễn cô xuống núi.
Quách Tương nghe vậy cười đáp:
– Xem ra lão hòa thượng thông đạt tình lý, thế mới gọi là phong phạm của bậc danh gia.
Cô ta thấy mình được thế nên thuận mồm khen Vô Sắc một câu, rồi thò tay nhắc kiếm, bỗng thấy giật mình. Nguyên lai lòng bàn tay đối phương sinh ra một hấp lực, tuy cô ta đã cầm được cán kiếm nhưng không sao nâng lên được. Nàng ra sức vận kình ba lần nhưng vẫn không sao lấy được đoản kiếm, bèn nói:
– Hay nhỉ, ông định khoe công phu chăng.
Đột nhiên tay trái vung ra, nhẹ nhàng hướng vào hai huyệt Thiên Đỉnh, Cự Cốt ở bên trái cổ ông ta phất tới. Vô Sắc kinh hãi, né người tránh, khí kình hơi lỏng ra nên Quách Tương thuận thế mà lấy được đoản kiếm.
Vô Sắc nói:
– Công phu Lan Hoa Phất Huyệt Thủ hay thực. Chẳng hay cô xưng hô Đào Hoa đảo chủ như thế nào?
Quách Tương cười đáp:
– Đào Hoa đảo chủ ư? Tôi gọi ông ta là Lão Đông Tà.
Đào Hoa đảo chủ Đông Tà Hoàng Dược Sư chính là ông ngoại của Quách Tương, tính tình khác người, trước nay vốn không câu nệ lễ phép, thường đùa cô cháu ngoại gọi là Tiểu Đông Tà, Quách Tương liền gọi lại ông ngoại là Lão Đông Tà, Hoàng Dược Sư không những không la rầy, còn tỏ ra hoan hỉ.
Vô Sắc lúc thiếu thời vốn là lục lâm, tuy đã nương thân cửa thiền mấy chục năm tu trì, Phật học uyên thâm, nhưng hào khí xưa vẫn chưa dứt, nếu không làm sao kết bạn được với Dương Quá? Thấy cô gái này không chịu khai sư thừa lai lịch, định thử một chuyến, nên lớn tiếng nói:
– Tiểu cô nương tiếp ta mười chiêu, để xem nhãn lực lão hòa thượng thế nào, có nói ra được môn phái của cô chăng?
Quách Tương hỏi lại:
– Nếu như mười chiêu mà không nhìn ra, thì ông tính sao?
Vô Sắc thiền sư lớn tiếng cả cười:
– Nếu như cô nương tiếp được lão nạp mười chiêu, thì cô muốn chuyện gì ta cũng nghe theo.
Quách Tương chỉ Giác Viễn:
– Tôi cùng vị đại sư này trước đây có duyên một lần gặp gỡ, nên muốn thay ông ta cầu chút tình. Nếu như mười chiêu mà ông không nói được sư phụ tôi là ai, chỉ xin ông đáp lời, đừng làm khó dễ vị đại sư này nữa.
Vô Sắc hết sức ngạc nhiên, nghĩ thầm Giác Viễn tính tình ngơ ngơ ngẩn ngẩn, mấy chục năm qua tại Tàng Kinh Các giữ sách, trước nay chưa từng cùng người ngoài giao thiệp, tại sao lại quen được với cô gái này? Bèn nói:
– Chúng tôi vốn đâu có làm khó dễ gì y. Tăng chúng trong chùa phạm giới luật, dù ai cũng vậy, cũng phải chịu phạt chứ đâu phải là làm khó dễ.
Quách Tương bĩu môi, cười:
– Hừ, nói qua nói lại, ông cũng đều né tránh cả.
Vô Sắc vỗ tay một cái, nói:
– Được rồi, theo lời cô. Nếu như lão nạp thua, sẽ thay sư đệ Giác Viễn gánh ba nghìn một trăm linh tám gánh nước. Cô nương lưu ý, ta xuất chiêu đây.
Khi đang nói chuyện, Quách Tương đã thầm tính trong lòng: “Lão hòa thượng này khí ngưng thần tĩnh, võ công cao cường, nếu như để ông ta xuất chiêu, ta ắt phải hết sức chống đỡ, không thể nào không lộ võ công của cha mẹ mình ra. Chi bằng ta chiếm tiên cơ, đánh ra mười chiêu liền”. Nghe ông ta vừa nói hai câu “Cô nương lưu ý, ta xuất chiêu đây” nên không đợi ông ta ra quyền cước, nghe vèo một tiếng đoản kiếm đã nhắm thẳng vào ngực đâm tới, sử dụng một chiêu trong Lạc Anh kiếm pháp của đảo Đào Hoa, tên là Vạn Tử Thiên Hồng, mũi kiếm đâm ra liên tiếp rung động, để cho đối thủ không biết công vào chỗ nào. Vô Sắc biết là lợi hại, không dám trả miếng, nên chỉ nghiêng mình tránh ra.
Quách Tương lại kêu: “Chiêu thứ hai này”, đoản kiếm quay lại, từ dưới đâm lên trên, chính là một chiêu trong kiếm pháp phái Toàn Chân tên là Thiên Thần Đảo Huyền. Vô Sắc nói:
– Hay lắm, đó là Toàn Chân kiếm pháp.
Quách Tương nói:
– Chưa hẳn thế đâu!
Đoản kiếm vừa đâm vào khoảng không, thấy Vô Sắc phản thủ vi công, đưa tay ra toan nắm lấy cổ tay mình, trong lòng hơi sợ: “Lão hòa thượng quả nhiên giỏi thực, trong khi kiếm chiêu hung hiểm như thế, vậy mà dám đưa tay không ra công kích”. Vừa thấy bàn tay ông ta đến trước mặt, đoản kiếm vội vàng vung lên mấy vòng, sử dụng chiêu Ác Cẩu Lan Lo[2]ä thuộc chữ Phong trong Đả Cẩu Bổng Pháp.
Cô ta từ nhỏ vẫn thường giao hảo với bang chủ tiền nhiệm Cái Bang là Lỗ Hữu Cước, cùng nhau uống rượu đánh đố, có khi còn cùng y tỉ thí võ nghệ. Tuy Cái Bang có qui củ, Đả Cẩu Bổng Pháp là thần kỹ trấn bang, không phải bang chủ không được truyền thụ, nhưng khi Lỗ Hữu Cước sử dụng, Quách Tương cũng học lóm được một chiêu nửa thức. Huống gì mẹ nàng Hoàng Dung là bang chủ tiền nhiệm, bang chủ hiện tại Gia Luật Tề là anh rể nàng, môn Đả Cẩu Bổng Pháp này nàng xem không biết bao nhiêu lần. Tuy không rõ quyết khiếu bên trong nhưng cứ nhái theo cách thức đánh ra, cũng làm cho người ta kinh hãi.
Ngón tay Vô Sắc vừa sắp chạm đến cổ tay nàng, bỗng thấy bạch quang lấp loáng, thế kiếm đâm tới hết sức thần diệu, năm ngón tay suýt bị chặt đứt, nhưng vì ông ta võ công trác tuyệt, biến chiêu thật nhanh, trong lúc nguy cấp nhảy lùi về sau hai bước, nhưng nghe soẹt soẹt, ống tay áo bên trái đã bị đoản kiếm cắt rách một đường dài. Vô Sắc thiền sư nhìn chỗ áo rách mà mặt mày biến sắc, lưng toát mồ hôi lạnh.
Quách Tương rất lấy làm đắc ý, cười hỏi:
– Cái đó là kiếm pháp gì thế?
Thực ra trong thiên hạ không có loại kiếm pháp đó, vốn nàng chỉ học lén được một thế Đả Cẩu Bổng Pháp, dùng lẫn vào trong, nhưng Đả Cẩu Bổng Pháp quá ư áo diệu, tuy nàng dùng chẳng đi đến đâu, nhưng cũng làm cho một vị cao tăng Thiếu Lâm danh tiếng lẫy lừng hết sức nghi hoặc, không biết phải đối đáp thế nào cho phải.
Quách Tương nghĩ thầm: “Ta chỉ cần sử dụng vài chiêu Đả Cẩu Bổng Pháp là thể nào cũng đánh bại được lão hòa thượng này, tiếc rằng ngoài thế này ra, ta không biết thêm thức nào nữa”.
Không đợi cho Vô Sắc nghỉ mệt, đoản kiếm lại vung lên nhẹ nhàng đâm tới, tư thái phiêu phiêu như tiên, mũi kiếm nhắm hạ bàn đối phương điểm liên tiếp mấy nhát, chính là một thế học trong Ngọc Nữ kiếm pháp của Tiểu Long Nữ tên là Tiểu Viên Nghệ Cúc (trồng cúc trong vườn nhỏ).
Ngọc Nữ kiếm pháp vốn do nữ hiệp Lâm Triêu Anh sáng tác, không những kiếm chiêu lăng lệ mà tư thế lại thoát tục, phong nhã, chúng tăng chưa nhìn thấy bao giờ, khiến vừa kinh hãi lại vừa vui mừng. Đạt Ma kiếm pháp, La Hán kiếm pháp của chùa Thiếu Lâm đều theo đường cương mãnh, còn Ngọc Nữ kiếm pháp đã rất ít xuất hiện trên giang hồ, bản chất so với kiếm pháp của Thiếu Lâm hoàn toàn tương phản. Thực ra nếu cứ kiếm pháp mà luận, vị tất đã thắng được các lộ kiếm thuật Thiếu Lâm, chỉ vì thoạt nhìn, trông hết sức đẹp mắt, chẳng khác gì trong kinh Phật viết là: dung nghi uyển mị, trang nghiêm hòa nhã, đoan chính khả hỉ, quan giả vô yếm (hình dung ẻo lả, trang nghiêm hòa nhã, đoan chính càng nhìn càng vui, xem không biết chán).
Vô Sắc thiền sư thấy kiếm thuật vừa tinh diệu, vừa mỹ lệ cũng muốn xem thêm thức khác, nên né mình tránh ra, chờ nàng đánh thêm. Bỗng Quách Tương đổi kiếm chiêu, chạy qua đông lại nhảy sang tây, liên tiếp đâm ra mấy nhát. Trương Quân Bảo đứng bên nhìn mà xuất thần, bỗng kêu “Ồ” một tiếng. Nguyên lai chiêu Quách Tương vừa sử dụng là chiêu Tứ Thông Bát Đạt, ba năm trước trên đỉnh núi Hoa Sơn, Dương Quá đã dạy cho Trương Quân Bảo, Quách Tương đứng ở bên cạnh xem, nay đem ra sử dụng. Thế nhưng lúc đó Dương Quá dạy Trương Quân Bảo là chưởng pháp, bây giờ Quách Tương lại biến thành kiếm pháp, tuy uy lực kém đi mấy phần, nhưng cũng rất tinh kỳ, khiến Vô Sắc trong lòng phải thầm kinh hãi.
Tính ra, Quách Tương đã sử dụng năm chiêu nhưng Vô Sắc chưa nhìn ra chút đầu mối nào. Khi còn trẻ, ông ta tung hoành giang hồ, lịch duyệt nhiều, mười mấy năm qua giữ chức thủ tọa La Hán đường, lại càng gia tâm nghiên cứu các nhà, các phái, so sánh võ công của chùa với bên ngoài, lấy trường bổ đoản, sửa lại những chỗ còn khiếm khuyết. Thành ra ông ta rất tự tin, nghĩ rằng dù cao nhân phương nào, chỉ cần vài chiêu là có thể nhìn ra lai lịch. Ông ta ước định với Quách Tương mười chiêu, là đã tính già lắm rồi. Nào ngờ cha mẹ, thầy bạn của Quách Tương đều là đệ nhất lưu cao thủ đương thời, chỉ cần sử dụng võ công mỗi người một chiêu, chỗ này một chút, chỗ kia một chút đã khiến cho Vô Sắc hoa cả mắt, rối cả trí, còn nói gì đến chuyện nói ra môn phái.
Khi tám thức, bốn đường kiếm của chiêu Tứ Thông Bát Đạt vừa chấm dứt, Vô Sắc nghĩ thầm: “Nếu như ta cứ để cho cô ta xuất chiêu, chỉ e rằng quái chiêu sẽ liên miên bất tuyệt, nói chi mười chiêu, đến một trăm chiêu chắc gì đã tìm ra manh mối. Chỉ có cách là ta tấn công mãnh liệt, cô ta không thể không giở võ công bản môn ra chống đỡ”.
Lập tức chuyển thân qua bên trái, tung ra một chiêu Song Quán Thủ, hổ khẩu hai nắm tay chầu vào nhau, vẽ thành một hình vòng, đánh thẳng vào.
Quách Tương thấy kình lực của ông ta rất mạnh, không dám chống đỡ, uốn mình một cái đã theo khoảng trống giữa hai cánh tay đối phương mà lọt ra ngoài. Trước đây cô đã từng thấy Anh Cô đấu với Dương Quá tại Hắc Long Đàm, thế yếu không chống nổi mạnh nên đã sử dụng Nê Thu Công (công phu con trạch ở trong bùn) để thoát thân, nay cũng theo như thế. Tuy thân pháp và công phu của cô không bằng Anh Cô, nhưng Vô Sắc thiền sư vốn không định tâm dùng sát thủ, nên để cho Quách Tương nhẹ nhàng thoát ra.
Vô Sắc cất tiếng khen:
– Thân pháp hay lắm, tiếp thử một chiêu nữa xem nào!
Tả chưởng xòe ra, cùi chỏ thu vào ngực, hổ khẩu hướng lên trời, chính là thế Hoàng Oanh Lạc Giá trong Thiếu Lâm quyền. Ông là võ học đại sư của chùa Thiếu Lâm, thân phận hai bên bất đồng, tuy sở học bác tạp hơn Quách Tương nhiều, nhưng mỗi chiêu, mỗi thức sử dụng đều thuần chính võ công bản môn. Thiếu Lâm quyền rất rộng lớn, thoạt xem bình thường không có gì lạ nhưng luyện đến chỗ tinh thâm, uy lực thật không biết đến chừng nào.
Bàn tay trái của ông vừa xòe ra, Quách Tương đã thấy thượng bán thân bị lọt vào trong chưởng lực, vội vàng xoay kiếm lại, dùng cán kiếm thay ngón tay, sử dụng một chiêu Nhất Dương Chỉ học lỏm được của Võ Tu Văn, dùng kình điểm ba huyệt Uyển Cốt, Dương Cốc, Dưỡng Lão trên cổ tay Vô Sắc. Thực ra công phu điểm huyệt Nhất Dương Chỉ nàng chỉ học được chút vỏ bên ngoài, rất là thô thiển. Thế nhưng một chỉ điểm ba huyệt chính là tinh yếu của công phu này.
Trước đây Nhất Dương Chỉ của Nhất Đăng đại sư vang danh thiên hạ, Vô Sắc thiền sư dĩ nhiên phải biết. Khi Quách Tương vừa xuất chiêu, ông kinh hãi, vội vàng rụt tay về. Kỳ thực, nếu như Vô Sắc cứ để yên cho Quách Tương điểm ba huyệt đạo, sẽ thấy ngay là Nhất Dương Chỉ của nàng là giả, nhưng trong lúc hai bên toàn lực tương đấu, ông đâu dám đem danh tiếng cả đời mình ra thử.
Quách Tương đắc ý cười:
– Đại hòa thượng cũng biết là lợi hại nhỉ?
Vô Sắc chỉ hừ một tiếng, đánh ra chiêu Đơn Phụng Triều Dương. Chiêu này hai tay mở rộng, giơ từ cao đánh xuống, kình lực ào ào tràn tới. Thanh đoản kiếm trong tay Quách Tương cầm không nổi tuột khỏi tay rơi xuống đất. Nàng biết là đối phương không nỡ ra tay hạ sát thủ, nên không kinh hoảng, song chưởng đan chéo vào nhau, dường như có dường như không, chính là lộ thứ năm mươi bốn có tên Diệu Thủ Không Không, trong bảy mươi hai đường Không Minh Quyền, kiệt tác đắc ý của Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông.
Đường quyền này do Chu Bá Thông tự sáng tác, chưa lưu truyền trong giang hồ, nên tuy Vô Sắc kiến thức uyên bác nhưng cũng không biết đến. Ông liền vẽ song chưởng thành hình vòng cung, đánh ra chiêu Thiên Hoa Thất Tinh, nhanh như điện đã tràn tới bao phủ chưởng lực của Quách Tương. Nếu Quách Tương không dùng nội lực chống đỡ, tay sẽ bị bẻ quặt về sau, gãy thành hai đoạn. Thiên Hoa Thất Tinh là một chiêu cơ bản trong công phu Thiếu Lâm, trông tưởng chậm nhưng thật là nhanh, tưởng nhẹ nhưng thật là nặng. Chiêu này tuy là tư thức trong Sấm Thiếu Lâm nhưng ý kình nội lực lại từ tinh yếu trong Thần Hoa Thiếu Lâm mà ra.
Quách Tương thủ chưởng bị khống chế, nghĩ thầm: “Không lẽ ông dám đánh gãy xương tay ta ư?”.
Thuận thế giơ tay lên, dùng chiêu Thiết Bồ Phiến Thủ, lấy chưởng đối chưởng phản kích lại. Chiêu này nàng học của vợ Võ Tu Văn là Hoàn Nhan Bình, vốn do Thiết Chưởng Thủy Thượng Phiêu Cừu Thiên Nhận truyền lại. Thiết Chưởng Công là võ công cương mãnh hạng nhất trong mọi môn phái, Vô Sắc thiền sư chuyên nghiên cứu chưởng pháp, lẽ nào không biết. Vừa thấy cô gái sử dụng chưởng pháp của Thiết Chưởng Bang, ông giật nảy mình, vội vàng thu chưởng lại, một là không muốn cô ta bị thương, hai là đối với Thiết Chưởng Công cũng có ba phần e ngại. Ông ta là người trung hậu, thấy Quách Tương mỗi chiêu mỗi thức đều đâu ra đấy, không nghĩ rằng một cô gái mới hai mươi tuổi đầu không thể nào học được nhiều như thế, nên nhảy lùi lại nửa trượng.
Quách Tương thản nhiên mỉm cười:
– Ra chiêu thứ mười đây, ông xem tôi ở môn phái nào?
Tay trái giơ lên, thân hình hơi chồm tới, tay phải luồn vào toan chộp lầy cằm của Vô Sắc. Vô Sắc cùng chúng tăng không nhịn được phải ngạc nhiên kêu ồ một tiếng. Chiêu đó có tên là Khổ Hải Hồi Đầu, chính là một chiêu trong La Hán Quyền của phái Thiếu Lâm chính tông, môn phái khác không có được. Dụng ý của chiêu này là tay trái ấn đầu đối phương, tay phải đỡ lấy cằm, vặn một cái, nặng ắt gãy cổ, nhẹ cũng trật khớp, là một chiêu sát thủ rất lợi hại. Vô Sắc thiền sư thấy cô ta giở một chiêu trong La Hán Quyền, thật chẳng khác nào múa búa trước cửa Lỗ Ban, đem Hiếu Kinh đọc cho Khổng Tử nghe, nghĩ vừa bực mình, vừa tức cười. Pho quyền pháp này ông đã thành thục từ mấy chục năm trước, luyện đã đến mức không còn phải suy nghĩ, ra chiêu là ra, dù có đang nằm ngủ cũng có thể giải được chiêu này. Ông nghiêng người bước qua một bên, tay trái đặt ngang mặt Quách Tương, vươn một cái đã nắm được vai phải, tay trái nhanh như chớp luồn ra sau cổ. Chiêu này tên là Hiệp Sơn Siêu Hải, là chiêu để giải thế Khổ Hải Hồi Đầu có một không hai, hai tay vừa ra là đã nâng ngang địch nhân lên khỏi mặt đất. Đúng ra thì Quách Tương có thể theo đó mà sử dụng thế Bàn Trửu, nắm ngược lại cùi chỏ đối phương để thoát thân, lại còn có thể chế ngự địch được nữa, nhưng Vô Sắc thiền sư phản công quá nhanh, chỉ trong chớp mắt, đã nhấc bổng nàng lên. Quách Tương hai chân rời khỏi mặt đất, còn thi triển công phu nào được, dĩ nhiên thua rồi.
Vô Sắc thiền sư thuận tay chế ngự Quách Tương nhưng bỗng giật mình: “Chao ôi! Ta chỉ mong thủ thắng, nhưng không nghĩ đến việc tìm ra sư thừa môn phái của cô ta. Trong mười chiêu, cô ta sử dụng mười môn quyền pháp khác nhau, biết gọi là môn phái nào? Không thể nói cô ta thuộc phái Thiếu Lâm”.
Quách Tương ra sức giãy dụa, la lối:
– Thả tôi ra!
Chỉ nghe một tiếng cạch, từ trong người cô một vật gì rơi ra. Quách Tương lại kêu tiếp:
– Lão hòa thượng, có buông tôi ra không nào?
Vô Sắc thiền sư coi chúng sinh bình đẳng, không nói gì nam nữ không phân biệt, mà cả đến ngựa bò heo chó, ông cũng coi như nhau, cười đáp:
– Tuổi tác lão nạp đáng ông nội của cô rồi còn ngại gì nữa?
Nói rồi hai tay nhẹ nhàng hất ra, ném Quách Tương ra ngoài hai trượng. Phen này động thủ, tuy Quách Tương bị khống chế nhưng trong mười chiêu Vô Sắc cũng không nhận ra được cô ta thuộc môn phái nào, đang toan mở lời nhận thua, vừa cúi đầu, bỗng thấy dưới đất cái gì đen sì, nhìn kỹ hóa ra hai pho tượng la hán bằng sắt.
Quách Tương vừa đặt chân chấm đất, hỏi liền:
– Lão hòa thượng, ông có nhận thua chưa?
Vô Sắc ngửng đầu lên, mặt mày tươi tỉnh, cười đáp:
– Tại sao ta lại thua? Ta biết lệnh tôn là đại hiệp Quách Tĩnh, lệnh đường là nữ hiệp Hoàng Dung. Đào Hoa đảo Hoàng đảo chủ là ông ngoại của cô. Phương danh Quách nhị tiểu thư, chỉ có một chữ Tương lấy từ hai chữ Tương Dương. Lệnh tôn học từ Giang Nam thất quái, Đào Hoa đảo chủ, Cửu Chỉ thần cái, và phái Toàn Chân. Quách nhị tiểu thư gia học uyên nguyên, thân thủ quả nhiên không giống người thường.
Ông nói một hồi khiến Quách Tương đứ người, trợn tròn đôi mắt, một hồi lâu không nói được câu nào, nghĩ thầm: “Lão hòa thượng này quả nhiên tà môn, ta đánh mười chiêu lung tung như thế mà ông ta vẫn nhận ra được”.
Vô Sắc thiền sư thấy cô ta ngơ ngẩn, cười hì hì nhặt đôi la hán bằng sắt lên, nói:
– Quách nhị cô nương, lão hòa thượng không lừa cô bé con đâu. Ta nhận ra cô là ở đôi la hán này. Dương đại hiệp vẫn mạnh khỏe chứ, lâu nay cô có gặp ông ta không?
Quách Tương sựng người, nhưng hiểu ra ngay, nói liền:
– À, thì ra ông chính là Vô Sắc thiền sư, đôi la hán sắt này chính ông gửi tặng cho tôi làm quà sinh nhật, nên đã nhận ra. Ông có gặp đại ca của tôi và Long tỉ tỉ không? Tôi đi lên đây chính là mong gặp được ông để hỏi thăm tin tức hai người. Ôi, ông không hiểu ra, tôi nói đại ca ca và Long tỉ tỉ là nói đến vợ chồng đại hiệp Dương Quá đó.
Vô Sắc nói:
– Mấy năm trước, Dương đại hiệp có ghé tệ tự chuyện trò ít ngày, cùng lão hòa thượng rất tương đắc. Về sau nghe tin ông ta kháng địch tại thành Tương Dương, lão nạp vâng lệnh Dương đại hiệp, lập được chút công lao nho nhỏ. Không hiểu lúc này ông ta ở đâu?
Cả hai người đều hỏi tin tức Dương Quá, ông hỏi một câu, tôi hỏi một câu, chẳng ai trả lời câu hỏi của người kia. Quách Tương thẫn thờ một hồi, rồi nói:
– Ông cũng chẳng biết đại ca tôi ở đâu ư? Vậy thì ai biết được bây giờ?
Nàng định thần lại nói tiếp:
– Ông là bạn thân của đại ca tôi, thảo nào võ công cao minh như vậy. Ồ, tôi chưa cám ơn ông đã gửi quà sinh nhật, hôm nay xin cảm tạ vậy.
Vô Sắc cười đáp:
– Bọn mình thật đúng là không đánh nhau thì không biết là người quen. Khi nào cô gặp Dương đại hiệp, đừng có mách là lão hòa thượng cậy lớn hiếp bé.
Quách Tương lặng nhìn ngọn núi ở xa xa, lẩm bẩm một mình:
– Không biết đến bao giờ mới gặp lại được anh ta!
Hồi Quách Tương sinh nhật mười sáu tuổi, Dương Quá nảy ra một ý tưởng ngộ nghĩnh, mời hết thảy đồng đạo giang hồ tụ tập tại Tương Dương để chúc mừng. Khi đó vô số võ lâm cao thủ trong cả hắc đạo lẫn bạch đạo, nể mặt Dương Quá nên đến chúc thọ. Người nào bận quá không đi được thì cũng phái người đem quà quí giá đến biếu. Vô Sắc thiền sư sai người mang đến một đôi la hán đúc bằng sắt rất tinh xảo. Đôi la hán này trong bụng có máy, lên dây cót là có thể đấu với nhau một bài Thiếu Lâm La Hán quyền. Hơn một trăm năm trước, một dị tăng trong chùa đã hao phí không biết bao nhiêu tâm huyết mới chế tạo được, thực khéo léo không gì sánh bằng. Quách Tương thích lắm, lúc nào cũng mang theo trong người, không ngờ hôm nay từ trong bọc rơi ra, khiến cho Vô Sắc thiền sư nhận ra thân phận. Chiêu quyền pháp Thiếu Lâm sau cùng nàng sử dụng chính là học từ đôi la hán này.
Vô Sắc cười nói:
– Tuân theo qui củ của tệ tự từ trước tới nay, không dám mời Quách nhị cô nương vào chùa vãn cảnh, xin mở lượng bao dung.
Quách Tương điềm nhiên đáp:
– Không sao cả, điều tôi muốn hỏi ông, thì cũng đã hỏi rồi.
Vô Sắc lại chỉ Giác Viễn:
– Còn chuyện Giác Viễn sư đệ đây, từ từ ta sẽ giải thích cho cô nương nghe. Thôi thế này, để lão hòa thượng tiễn cô xuống núi, mình tìm một quán ăn, để lão đứng mời cô uống một bữa rượu, cô nghĩ thế nào?
Vô Sắc thiền sư tại chùa Thiếu Lâm địa vị hết sức cao, vậy mà đối với một cô gái nhỏ lại hết sức tôn kính, đã thân tiễn nàng xuống núi, lại còn đứng mời ăn, nên chúng tăng nghe vậy đều lấy làm lạ.
Quách Tương nói:
– Đại sư không việc gì phải khách sáo thế. Tiểu nữ ra tay không biết nặng nhẹ, khiến đắc tội cùng mấy vị hòa thượng, không bắt tội là may. Nay xin từ biệt, mong có dịp sẽ gặp lại.
Nói xong cúi mình thi lễ, rồi quay xuống núi. Vô Sắc cười:
– Cô không muốn tôi đưa tiễn, nhưng tôi lại muốn. Sinh nhật cô nương năm trước, lão hòa thượng vâng lệnh Dương đại hiệp đi đốt lương thảo của quân Mông Cổ tại Nam Dương, sau khi lửa cháy, về chùa ngay, không đến Tương Dương chúc mừng được, trong lòng vẫn thấy chưa an. Hôm nay có dịp quang lâm tệ tự, nếu không cung kính tiễn đưa ba mươi dặm, thì còn là gì đạo tiếp đãi quí khách?
Quách Tương thấy ông ta thành ý, lại thấy ngôn ngữ hào sảng, nên cũng muốn cùng ông ta kết bạn vong niên, nên chỉ mỉm cười, nói:
– Thế thì đi vậy!
Hai người song hành cùng xuống núi, đi qua một tòa nhà tranh, bỗng nghe đằng sau có tiếng chân người vọng đến. Quay lại, chỉ thấy Trương Quân Bảo đi lẳng lặng ở đằng xa, không dám tới gần. Quách Tương cười:
– Trương huynh đệ, cậu cũng tiễn khách xuống núi đấy ư?
Trương Quân Bảo đỏ mặt, chỉ đáp cụt lủn:
– Vâng!
Vừa lúc ấy, từ cửa trước một tăng nhân rảo bước chạy xuống. Y xem ra thi triển toàn lực khinh công nên trông rất gấp rút. Vô Sắc hơi nhíu mày, nói:
– Làm gì mà hốt hoảng quá vậy?
Nhà sư đó chạy đến trước mặt Vô Sắc, cúi chào xong nghiêng người nói nhỏ mấy câu. Vô Sắc biến sắc, nói lớn:
– Có chuyện như vậy sao?
Tăng nhân nói:
– Phương trượng mời thủ tọa về chùa thương nghị.
Quách Tương thấy vẻ mặt Vô Sắc xem chừng khó xử, biết là trong chùa ắt có chuyện khẩn cấp, nên nói:
– Lão thiền sư, chuyện giao thiệp bạn bè, cốt là ở lòng, chứ những lề thói phàm tục có đáng gì! Ông có chuyện xin cứ về. Sau này có dịp gặp lại, có duyên giải cấu, mình lại uống rượu, luận võ, có gì mà không được?
Vô Sắc mừng nói:
– Thảo nào Dương đại hiệp coi trọng cô như thế, cô quả là bậc nhân trung anh tuấn, nữ trung trượng phu, lão hòa thượng muốn được cùng cô kết làm bạn.
Quách Tương mỉm cười:
– Ông là bạn của đại ca tôi, thì cũng là bạn của tôi rồi.
Thế rồi hai người thi lễ từ biệt. Vô Sắc quay trở về chùa. Quách Tương đi theo con đường nhỏ đi xuống núi, Trương Quân Bảo lẽo đẽo đi sau, cách chừng năm sáu bước, không dám đi ngang hàng. Quách Tương hỏi:
– Trương huynh đệ, vì cớ gì mà bọn họ lại hiếp đáp sư phụ của cậu thế? Sư phụ cậu nội công tinh thâm, sao lại sợ họ?
Trương Quân Bảo tiến lên hai bước đáp:
– Trong chùa giới luật tinh nghiêm, ai ai trong tăng chúng nếu như phạm tội đều bị phạt cả, chứ đâu phải cố ý hiếp đáp sư phụ đâu.
Quách Tương lấy làm lạ, hỏi lại:
– Sư phụ cậu là người chính nhân quân tử, trong thiên hạ đâu có mấy ai tốt như ông ấy, mà lại phạm tội gì? Chắc là ông ấy chịu phạt giùm người khác, nếu không, chắc là bị phạt lầm rồi?
Trương Quân Bảo thở dài:
– Nguyên ủy chuyện này cô nương cũng đã biết rồi, chính là vì bộ Lăng Già[3] kinh.
Quách Tương nói:
– À, có phải là cuốn kinh mà hai gã Tiêu Tương Tử và Doãn Khắc Tây ăn trộm đó không?
Trương Quân Bảo nói:
– Chính đó. Hôm đó trên đỉnh Hoa Sơn, tiểu nhân được đại hiệp Dương Quá chỉ điểm, tự tay khám toàn thân hai gã đó, nhưng khi xuống núi rồi, không còn thấy tung tích gì của họ cả. Thầy trò chúng tôi không còn biết gì hơn, chỉ còn về chùa bẩm báo phương trượng. Bộ Lăng Già kinh là do chính tay tổ sư Đạt Ma viết ra, thủ tọa giới luật đường trách sư phụ tôi giữ kinh không cẩn thận, đã làm mất bảo vật vô giá đó, nên phạt thật nặng, âu cũng là chuyện phải thôi.
Quách Tương thở dài một tiếng:
– Việc xử tội sám hối như thế, sao lại phải được.
Tuy nàng chỉ lớn hơn Trương Quân Bảo vài tuổi nhưng đã tự coi như đàn chị, nên hỏi thêm:
– Nếu chỉ như thế, tại sao lại không cho sư phụ cậu không được nói năng gì?
Trương Quân Bảo nói:
– Đó là giới luật truyền từ đời này sang đời khác của chùa, hễ gánh nước, không được nói chuyện. Tôi nghe các vị lão thiền sư trong chùa nói là, tuy là bị phạt, nhưng thực ra đối với người có tội rất tốt. Nếu như không nói chuyện, việc tu tập càng mau tinh tiến, còn trên vai gánh nước, làm cho thể phách cường tráng.
Quách Tương cười:
– Nếu nói như thế, sư phụ cậu không phải chịu phạt, mà lại là đang luyện công, còn tôi thì đúng là nhiều chuyện.
Trương Quân Bảo vội nói:
– Lòng tốt của cô nương, thầy tôi và tôi mười phần cảm kích, vĩnh viễn không dám quên.
Quách Tương thở nhẹ một hơi, nghĩ thầm: “Vậy mà người đời đã quên hẳn ta rồi”. Bỗng nghe thấy trong rừng có tiếng lừa kêu, chính là con lừa đen đang ăn cỏ. Quách Tương nói:
– Trương huynh đệ, cậu không cần phải tiễn tôi xa hơn nữa.
Nàng chu miệng huýt một tiếng, gọi con lừa lại gần. Trương Quân Bảo vẫn còn lưu luyến chưa muốn rời, nhưng cũng không biết chuyện gì để nói.
Quách Tương lấy đôi thiết la hán trong bọc ra, nói:
– Ta cho cậu cái này, cầm lấy đi.
Trương Quân Bảo ú ớ:
– Tôi… tôi…
Quách Tương đặt đôi la hán vào tay y, nhún người một cái, đã nhảy lên lưng lừa. Đột nhiên tại bậc đá trên sườn núi có tiếng người gọi:
– Quách nhị cô nương, xin dừng chân.
Chính là Vô Sắc thiền sư từ cửa chùa chạy xuống. Quách Tương nghĩ thầm:
– Lão hòa thượng này thật câu nệ đa lễ, việc gì mà phải nhất định đưa tiễn ta?
Vô Sắc đi rất nhanh, chỉ nháy mắt đã đến trước mặt Quách Tương. Ông ta nói với Trương Quân Bảo:
– Ngươi về chùa đi, đừng chạy lăng quăng trong núi.
Vô Sắc đợi y đi khỏi, lấy trong tay áo ra một tờ giấy, nói:
– Quách nhị cô nương, cô xem có biết ai viết giấy này không?
Quách Tương xuống lừa, tiếp lấy nhìn qua, hóa ra là một tờ hoa tiên vẫn dùng đề thơ, trên có hai hàng chữ lằng ngoằng:
Võ công phái Thiếu Lâm, xưng hùng Trung Nguyên, Tây Vực đã lâu. Mười ngày sau, Côn Lôn Tam Thánh sẽ đến lĩnh giáo.
Nét bút rất cứng cỏi. Quách Tương hỏi:
– Côn Lôn Tam Thánh là ai thế, ba người này khẩu khí xem chừng phách lối lắm nhỉ?
Vô Sắc nói:
– Hóa ra là cô nương không quen biết những người này.
Quách Tương lắc đầu:
– Tôi không biết, mà cả cái tên Côn Lôn Tam Thánh cũng chưa nghe cha mẹ tôi nói đến bao giờ.
Vô Sắc nói:
– Cái đó mới là lạ.
Quách Tương hỏi:
– Lạ là thế nào?
Vô Sắc đáp:
– Cô nương với ta nhất kiến như cố, có nói thật cho cô biết cũng không sao. Cô nương thử đoán xem tờ giấy này từ đâu mà có?
Quách Tương nói:
– Phải chăng Côn Lôn Tam Thánh sai người mang đến?
Vô Sắc đáp:
– Nếu như sai người mang đến thì không có gì kỳ quái. Người đời thường nói là cây cả gió to, chùa Thiếu Lâm mấy trăm năm nay vẫn được gọi là võ học chi nguyên, nên không lúc nào không có cao thủ đến thử tài. Mỗi khi có nhân vật võ lâm đến, chúng tôi đều hết sức tử tế, nói đến chuyện tỉ võ đều từ chối. Đã là người tu hành phải tránh sân nộ, không thể sính cường tranh thắng. Còn nếu ngày nào cũng đánh nhau với người ta, thì nói là đệ tử cửa Phật sao được?
Quách Tương gật đầu:
– Phải lắm!
Vô Sắc nói tiếp:
– Ngặt một nỗi võ sư đã lên đến trên chùa, nếu như không hiển được chút thân thủ thì chẳng cam lòng. La Hán đường của Thiếu Lâm chính là để tiếp những võ sư bên ngoài đến viếng cảnh chùa.
Quách Tương cười:
– Hóa ra đại hòa thượng giữ chức vụ đi đánh nhau với người ngoài.
Vô Sắc sượng sùng:
– Võ sư đến đây dù cao cường đến đâu, thì bản đường đệ tử cũng có thể đảm đương được cả, không cần phải đến lão hòa thượng ra tay. Hôm nay vì chưng cô nương thân thủ bất phàm, nên lão mới thử một chút.
Quách Tương cười đáp:
– Hóa ra đại sư coi trọng tôi quá.
Vô Sắc nói:
– Không phải đến đây để nói chuyện đó với cô đâu. Không dám dấu, tờ giấy này chúng tôi lấy từ bàn tay pho tượng Hàng Long La Hán ở La Hán Đường.
Quách Tương lấy làm lạ, hỏi:
– Ai lại để trên tay tượng Phật như thế nhỉ?
Vô Sắc lắc đầu:
– Cũng không biết nữa. Trong mấy trăm tăng chúng chùa Thiếu Lâm chúng tôi, nếu như có ai lẻn vào, chẳng lẽ không thấy? La Hán Đường lúc nào cũng có tám đệ tử ngày đêm luân phiên canh gác. Khi có người trông thấy tờ giấy này lập tức phi báo lão phương trượng, ai ai cũng lấy làm lạ, nên mới triệu lão về chùa thương nghị.
Quách Tương nghe đến đây, đã hiểu ý, nên nói:
– Phải chăng ông nghi tôi thông đồng với Côn Lôn Tam Thánh ở bên ngoài gây rối, để cho ba gã kia lẻn vào La Hán Đường để tờ giấy này, phải thế không?
Vô Sắc nói:
– Tôi đã gặp cô rồi quyết không thể nào nghi cho cô được. Thế nhưng việc cũng trùng hợp lạ kỳ, cô nương vừa rời chùa, thì tờ giấy này lại xuất hiện tại La Hán Đường, thành thử phương trượng và Vô Tướng sư đệ không khỏi không nghi.
Quách Tương nói:
– Tôi không biết ba gã này là ai. Đại hòa thượng, ông việc gì phải sợ? Mười ngày nữa, nếu như họ có gan đến đây, thì cứ xem hai bên cao thấp thế nào.
Vô Sắc nói:
– Sợ thì có gì đâu mà sợ. Nếu như cô nương với họ không có liên quan gì, tôi không có gì phải áy náy cả.
Quách Tương thấy ông ta quả có lòng tốt, chỉ ngại Côn Lôn Tam Thánh là chỗ quen biết với mình, khi động thủ ắt có nhiều điều cấm kỵ, ngại rằng sẽ đắc tội với bạn bè, nên nói:
– Nếu như họ thực lòng đến tìm hiểu võ nghệ, thì không nói làm gì. Còn không, cứ việc cho họ một phen khốn khổ. Cứ theo tờ giấy này khẩu khí xem ra cuồng vọng lắm. Cái gì mà “một phen lãnh giáo” là sao?
Nàng nói tới đây, chợt nghĩ ra một việc nên tiếp:
– Hay là có ai trong chùa cấu kết, lén bỏ vào tờ giấy này chăng? Nếu thế cũng không lấy gì làm lạ.
Vô Sắc nói:
– Chuyện đó chúng tôi cũng đã nghĩ tới rồi, nhưng nhất định không thể có. Tay của Hàng Long La Hán cao đến hơn ba trượng, ngày thường muốn phủi bụi trên pho tượng này, cũng phải bắc giá cao. Nếu có kẻ nào nhảy lên tới đó, khinh công giỏi như thế không phải là nhiều. Nếu như trong chùa có phản đồ thì tài nghệ cũng không đạt tới mức đó.
Lòng hiếu kỳ của Quách Tương nổi lên, rất muốn xem thử ba gã Côn Lôn Tam Thánh xem họ là hạng người nào, tăng chúng chùa Thiếu Lâm cùng họ tỉ thí võ nghệ, kết quả ai thắng ai bại, ngặt là chùa Thiếu Lâm không tiếp nữ khách, xem ra cái trò vui này không cách nào coi tận mắt được.
Vô Sắc thấy cô cúi đầu suy nghĩ, lại tưởng cô đang trù liệu kế sách hộ cho chùa Thiếu Lâm, nên nói:
– Chùa Thiếu Lâm cả nghìn năm qua đã chịu không biết bao nhiêu sóng to gió cả, còn tồn tại đến hôm nay. Nếu bọn Côn Lôn Tam Thánh kia nhất định cùng chúng tôi qua lại một phen, chùa Thiếu Lâm thể nào cũng cùng với họ chu toàn. Quách cô nương, nửa tháng nữa, cô ở trên chốn giang hồ sẽ nghe tin tức, để xem Côn Lôn Tam Thánh có lật đổ được chùa Thiếu Lâm không?
Nói tới đây, hào khí của ông lại nổi lên bừng bừng như thời trai trẻ. Quách Tương cười đáp:
– Đại hòa thượng bỗng dưng nổi giận, ông nói năng như thế sao còn gọi là đệ tử nhà Phật được nữa? Tốt lắm, tôi mong nửa tháng nữa sẽ nghe được tin vui.
Nói xong nàng quay mình nhảy lên lưng lừa. Hai người nhìn nhau cùng cười. Quách Tương giục con lừa đi lững thững xuống chân núi, trong lòng đã định bụng không thể nào không lên xem trận đấu.
Cô nghĩ thầm: “Làm cách nào mười ngày sau mình lẻn được vào chùa Thiếu Lâm để xem cái cảnh đáng xem này? Chỉ e mấy gã Côn Lôn Tam Thánh chẳng có chân tài thực học, bị mấy nhà sư đánh cho vài cái đã thua, thì có gì là thú. Chỉ mong bọn họ chỉ cần được bằng một nửa gia gia, ông ngoại, hoặc đại ca, thì cái màn Côn Lôn Tam Thánh đại náo Thiếu Lâm tự kia mới đáng đến coi”.
Nghĩ đến Dương Quá, trong lòng lại thấy u uất, ba năm qua đi khắp nơi tìm kiếm, vẫn không thấy bóng dáng tăm hơi.
Im lìm cổ mộ núi Chung Nam, Vạn Hoa hoa rụng tiếng mang mang.
Hang núi Tuyệt Tình sao vắng lặng, Đìu hiu trăng lạnh bến Phong Lăng.
(Chung Nam sơn, cổ mộ trường bế, Vạn Hoa huyễn, hoa lạc vô thanh.
Tuyệt Tình cốc, không sơn tịch tịch, Phong Lăng độ, lãnh nguyệt minh minh) Thế nhưng, trong đầu nàng cũng đã nghĩ không biết bao nhiêu lần: “Thực ra, dẫu ta có kiếm được y, thì cũng để làm gì? Chẳng càng thêm buồn khổ, thêm sầu não? Y đi xa xôi biệt tăm biệt tích chẳng tốt hơn ư? Đã biết rằng đi tìm y có khác gì đi tìm hoa trong gương, trăng dưới nước, nhưng sao ta vẫn cứ nghĩ đến, vẫn muốn đi tìm”.
Nàng cứ để cho con lừa tự thả bước, đi lang thang trong vùng núi Thiếu Thất, theo hướng tây đã vào địa giới của Tung Sơn. Quay đầu nhìn lại ngọn đông phong của núi Thiếu Thất chỉ thấy cao vút xanh xanh, núi nọ liền núi kia bất tận. Cứ như thế nàng đi mấy ngày liền, một ngày kia đã tới đài Tam Hưu, nghĩ thầm: “Sao lại tam hưu, mà là ba cái hưu (điều tốt lành) nào? Đời người có thiên hưu, vạn hưu đâu phải chỉ tam hưu?”.
Lại rẽ qua hướng bắc, đi qua một đỉnh núi, thấy đến mấy trăm gốc cổ bách, cây nào cũng thẳng cao vòi vọi, ánh mặt trời chiếu xuống thành những đốm hoa, thật là rực rỡ. Quách Tương đang ngắm cảnh, bỗng nghe thấy từ bên kia sườn núi văng vẳng nghe đâu tiếng đàn vọng đến, lấy làm lạ lùng, nghĩ thầm: “Ở nơi hoang tịch này, sao lại có cao nhân nhã sĩ đến đây gẩy đàn”. Nàng từ bé được mẹ dạy, cầm kỳ thư họa, môn nào cũng biết, tuy chưa sâu sắc, nhưng tính thông tuệ, lại trời sinh hay nhìn xa nghĩ rộng, mỗi khi cùng mẫu thân luận cầm, đàm thư, thỉnh thoảng cũng có những tư tưởng độc đáo, tìm ra được những điều chưa ai nghĩ đến. Lúc này nghe thấy tiếng đàn, nổi tính hiếu kỳ, nên xuống lừa, theo tiếng đàn tìm đến.
Đi qua hơn mươi trượng, lại nghe thấy lẫn trong tiếng đàn có lẫn vô số tiếng chim, lúc đầu chưa chú ý, nhưng nghe kỹ, tiếng đàn dường như cùng tiếng chim đối đáp, líu líu lo lo, dặt dìu uyển chuyển. Quách Tương náu mình sau gốc cây, nhìn về phía có tiếng đàn phát ra, chỉ thấy một người đàn ông mặc áo trắng ngồi quay lưng lại giữa ba gốc tùng già, trong lòng để một cây tiêu vĩ cầm, đang gảy đàn. Trên những cành cây chung quanh người đó đậu đầy chim sẻ, hoàng oanh, đỗ quyên, bát ca, và còn vô số những con chim khác nàng không biết tên cùng với tiếng đàn, hoặc kẻ hỏi người đáp, hoặc cùng cất giọng xướng theo. Quách Tương nghĩ thầm: “Mẹ ta nói rằng trong các điệu đàn có một khúc tên là “Không Sơn Điểu Ngữ”, thất truyền đã lâu, phải chăng chính là khúc đàn này?”.
Nghe một lát, tiếng đàn mỗi lúc một vang thêm, nhưng mỗi lần tiếng đàn lên cao, thì đàn chim lại ngưng tiếng, chỉ nghe thấy tiếng vỗ cánh, đông tây nam bắc bốn phía bay lại vô số là chim, con thì đậu trên cành, con thì bay lượn lên xuống, lông chim bay phất phới, thật là lạ mắt. Tiếng đàn tuy bình hòa trung chính nhưng bên trong có ẩn một phong vị vương giả.
Quách Tương trong lòng càng thêm kinh hãi: “Người này có thể dùng tiếng đàn để tập hợp đàn chim, phải chăng bản đàn này là Bách Điểu Triều Phượng? Tiếc thay không có ông ngoại ở đây, nếu không sẽ dùng cây ngọc tiêu thiên hạ không ai sánh kịp đem ra hòa nhịp, có thể gọi là song tuyệt đời nay”.
Người đó đàn đến khúc cuối, tiếng đàn nhỏ dần, tất cả chim chóc trên cây cùng bay ra múa may một lượt. Bỗng dưng nghe một tiếng keng, tiếng đàn dứt hẳn, đàn chim bay thêm một hồi rồi từ từ bay đi mỗi con một phía.
Người đó tiện tay đưa lên dây đàn gảy thêm vài đoạn ngắn, ngẩng đầu lên nhìn trời thở dài, nói:
– Vỗ trường kiếm, dương mi lên, nước trong đá trắng sao xa cách? Thế gian này nếu không có kẻ tri âm, dù sống đến nghìn tuổi, phỏng có ích gì?
Nói đến đây, đột nhiên từ đáy chiếc đàn người đó rút ra một thanh trường kiếm, ánh xanh lấp lánh, chiếu ra trong rừng. Quách Tương nghĩ thầm: “Nguyên lai người này văn võ toàn tài, không biết kiếm pháp của y ra sao”.
Chỉ thấy y chậm rãi đi tới bãi đất trống trước một câu cổ tùng, mũi kiếm chỉ xuống đất, gạch tới gạch lui, hết vạch này tới vạch khác. Quách Tương lấy làm lạ: “Trên thế gian có loại kiếm pháp kỳ quái đến thế sao? Chẳng lẽ chỉ trỏ kiếm xuống đất vạch một hồi, có thể khắc địch chế thắng? Người này quả thật quái dị không thể nào đo lường được.” Y vạch một hồi, thấy gạch ngang mười chín nét, rồi đổi qua gạch dọc, tất cả cũng mười chín nét. Kiếm chiêu trước sau không thay đổi, dù dọc hay ngang cũng chỉ thẳng băng như chữ nhất. Quách Tương theo dõi kiếm thế của y, cũng đưa tay vạch lên đất mười chín nét, bỗng dưng bật cười, y đâu có sử dụng quái dị kiếm pháp nào đâu, mà chỉ dùng kiếm vạch thành một bàn cờ dọc ngang mỗi chiều mười chín nét.
Người đó vẽ bàn cờ xong, dùng mũi kiếm vẽ tại góc trái bên trên và góc phải bên dưới mỗi nơi một vòng tròn, lại tại góc phải bên trên và góc trái bên dưới mỗi nơi vẽ một vạch chéo. Quách Tương đã thấy y vẽ đây là một bàn cờ vây, biết y đang bố trí trận thế tại bốn góc, hình tròn là bên trắng, hình chéo là bên đen. Lại thấy y đặt một vòng tròn cách ba ô trên góc trái, lại cách dưới hai ô vạch một hình chéo. Đi đến nước thứ mười chín, y chống kiếm đứng, cúi đầu suy nghĩ, đang phân vân không biết nên bỏ quân giữ thế hay cố sức tranh góc cạnh.
Quách Tương nghĩ thầm: “Người này cũng chẳng khác gì ta, thật là tịch mịch, ở trong núi hoang gảy đàn, lấy chim chóc làm tri âm; đánh cờ lại cũng không có đối thủ, chỉ tự mình đánh với mình.” Người đó suy nghĩ một hồi, quân trắng không cách gì lơi ra được, trên góc trái đấu với quân đen thật kịch liệt, nhất thời chưa tìm ra cách nào hay, từ bắc xuống nam không thể nào tranh được phúc địa ở Trung Nguyên. Quách Tương xem cờ xuất thần, từ từ nhích lại gần, nhưng vì quân trắng lúc bố cục bị thua một nước, trước sau vẫn bị rơi vào hạ phong, đến nước thứ hai mươi ba thì gặp phải liên hoàn kiếp, bên quân trắng lâm vào thế nguy, nhưng y vẫn cố gắng chống đỡ. Người đời thường nói “Cờ ngoài bài trong”, ý nói người đứng ngoài coi đánh cờ bao giờ cũng sáng nước hơn. Quách Tương đánh cờ cũng chỉ bình bình, nhưng nhìn thấy thế cục nếu bên trắng còn đánh giằng dai không khỏi toàn quân bị mất, nên buột miệng nói:
– Sao không bỏ Trung Nguyên đi để lấy Tây Vực?
Người nọ giật mình, thấy trên bàn cờ phía tây còn một chỗ trống lớn, nên lợi dụng bên kia đang chặn bắt, để luôn hai quân, chiếm lấy chỗ yếu, tuy bỏ nửa chừng nhưng biến được thành thế không thắng không bại. Người đó được Quách Tương một lời nhắc nhở, ngửng mặt lên trời cười một hồi dài, luôn mồm: “Hay lắm, hay lắm”. Nói rồi hạ luôn mấy quân. Y chợt nghĩ ra có người đang ở bên cạnh, nên ném trường kiếm xuống đất, quay lại nói:
– Vị cao nhân nào đó đã chỉ dạy, tại hạ thật là cảm kích.
Nói rồi hướng về phía Quách Tương đang ẩn náu vái chào một cái.
Quách Tương thấy người này mặt dài mắt sâu, thân hình gầy guộc, độ chừng trên dưới ba mươi tuổi. Nàng vốn dĩ khoáng đạt, cũng không tị hiềm nam nữ, nên từ trong bụi hoa bước ra, mỉm cười:
– Mới rồi được nghe tiên sinh nhã tấu, không sơn điểu ngữ, bách cầm lai triều, thật lấy làm bội phục. Lại thấy tiên sinh vạch đất thành bàn cờ, đen trắng giao phong, khiến cho phải say mê theo dõi mà quên cả hình hài, nên nhịn không được nên góp một lời, xin rộng lòng tha thứ.
Người nọ thấy Quách Tương chỉ là một cô gái tuổi trẻ, lấy làm lạ lùng, nhưng nghe cô nói về tiếng đàn, quả nhiên không sai một mảy nên càng cao hứng, nói:
– Cô nương thông thạo cầm lý, nếu như không từ chối, xin cho được nghe một điệu.
Quách Tương cười đáp:
– Mẹ tôi tuy đã dạy tôi đánh đàn, nhưng so với thần kỹ của ngài, thì kém xa lắm. Thế nhưng đã được nghe tiếng đàn kỳ diệu của ngài, không đáp lễ một bản, thì xem ra không phải lẽ. Được rồi, tôi xin đàn một bản, nhưng xin ông đừng cười nhé.
Người kia đáp:
– Đâu dám.
Hai tay bưng cây dao cầm[4], đưa tới trước mặt Quách Tương. Quách Tương thấy chiếc đàn đó đã có nhiều vết loang lổ, hiển nhiên đã cũ lắm rồi, nên lên dây xong bắt đầu gẩy một khúc “Khảo Bàn”. Thủ pháp nàng không có gì thần kỳ, nhưng người đó nghe vừa mừng vừa sợ, nghe tiếng đàn mà tưởng đến lời từ:
Suối kia róc rách vỗ bàn, Lòng ta thanh thản như làn nước khe.
Dù ai nói tỉnh nói mê, Một mình mình biết chẳng hề nhãng quên.
Khảo bàn tại giản, Thạc nhân chi khoan, Độc mị ngụ ngôn, Vĩnh thỉ vật huyên[5]”.
Bài từ đó ở Thi Kinh mà ra, là bài ca của một ẩn sĩ nói đại trượng phu đi du ngoạn trong khe suối, đi đâu thì đi, tuy tịch mịch không ai bầu bạn, mặt mày tiều tụy, nhưng chí hướng cao khiết, không bao giờ thay đổi. Người đó nghe tiếng đàn nói đúng tâm sự mình, không thể không cực kỳ cảm kích. Tiếng đàn đã dứt rồi mà y vẫn còn đứng ngơ ngơ ngẩn ngẩn.
Quách Tương nhẹ nhàng để chiếc dao cầm xuống, quay mình đi ra khỏi rừng tùng, cất tiếng hát:
Vỗ bàn lồng lộng gò đây, Lòng ta son sắt như cây trục này.
Dù người nói tỉnh nói say, Một mình mình biết ai hay làm gì.
Khảo bàn tại lục, Thạc nhân chi trục, Độc mị độc túc, Vĩnh thỉ vật cáo[6].
Nàng vẫy con lừa lại nhảy lên đi thẳng vào trong khu rừng sâu.
Nàng đi lại trong giang hồ đã ba năm qua, từng gặp nhiều chuyện lạ lùng, người này dùng tiếng đàn để gọi chim, lại vạch đất thành bàn tự mình đánh cờ, với nàng cũng chẳng qua như mây khói trước mặt, cánh bèo làn gió khi tụ khi tan, qua đi không để lại dấu vết gì.
Lại hai ngày qua, bấm đốt ngón tay tính ra từ hôm nàng tiến vào làm huyên náo chùa Thiếu Lâm đã được mười ngày, cũng là ngày Côn Lôn Tam Thánh ước định đến chùa giảo nghiệm võ công. Quách Tương chưa nghĩ ra cách nào để có thể lẻn vào chùa xem trò vui, nghĩ thầm: “Mẹ ta chuyện gì cũng chỉ liếc mắt một cái, là đã nghĩ ra ngay mười bảy, mười tám diệu kế. Sao ta ngu đến vậy, đến một kế cũng nghĩ không ra. Được rồi, không cần biết, cứ đến bên ngoài chùa Thiếu Lâm xem xét rồi hãy hay. Có khi bọn họ mắc đối phó ngoại địch khẩn cấp, nên quên bẵng ngăn ta lên chùa không chừng.” Nàng ăn qua loa mấy món lương khô, lại cưỡi con lừa đen nhằm hướng chùa Thiếu Lâm. Khi nàng còn cách chùa độ chừng mươi dặm, bỗng nghe tiếng vó ngựa dồn dập, từ phía sơn đạo bên trái có ba người nối đuôi nhau chạy tới. Ba con ngựa bước chân nhanh nhẹn, chỉ trong chớp mắt đã vượt ngang bên Quách Tương, chạy thẳng lên phía chùa Thiếu Lâm. Trên lưng ngựa là ba người trạc độ trên dưới năm mươi, mặc áo ngắn bằng vải xanh, trên yên ngựa người nào cũng mang theo túi vải đựng binh khí.
Quách Tương chợt động tâm, nghĩ thầm: “Ba người này đều có võ công, hôm nay lại đeo binh khí lên chùa Thiếu Lâm, hẳn là Côn Lôn Tam Thánh rồi! Nếu ta chậm một bước, thì chắc không được coi cái màn vui này.” Nàng giơ tay đánh lên mông con lừa một cái, con vật ngửng đầu hí một hồi dài, lao đầu chạy lẽo đẽo theo ba con ngựa.
Những người cưỡi ngựa ra roi, ba con ngựa chạy thẳng lên núi, cước lực thật nhanh, chỉ nháy mắt đã bỏ con lừa của Quách Tương một quãng thật xa, không cách gì đuổi kịp. Một ông già quay đầu lại nhìn Quách Tương một cái, trên mặt lộ vẻ lạ lùng.
Quách Tương lại ra sức chạy theo hai, ba dặm nữa, nhưng tung tích ba con ngựa kia không còn thấy đâu. Con lừa chạy một hồi lâu, miệng thở phì phò, xem chừng không còn chịu nổi. Quách Tương mắng nó: “Thật là đồ súc sinh không ra giống gì, bình thời thì nổi chứng chạy loạn lên, lúc cô nương cần ngươi, thì ngươi lại chạy không bằng ai”. Nàng thấy có giục nó cũng chẳng đến đâu, nên dừng lại một tòa thạch đình bên đường nghỉ ngơi một lát, để cho con lừa xuống suối bên cạnh uống nước. Một lúc sau, bỗng nghe tiếng vó ngựa vang lên, ba con ngựa hồi nãy lại qua một khúc quanh, chạy ngược trở lại. Quách Tương lấy làm lạ: “Sao ba người này vừa mới lên đã quay trở lại, không lẽ họ chịu không nổi một đòn hay sao?” Ba con ngựa tung vó, dựng bờm chạy thẳng đến tòa thạch đình, ba người trên ngựa xoay mình nhảy xuống. Quách Tương nhìn ba người này, thấy một người thân hình thấp lùn, mặt đỏ như chu sa, mũi đỏ như kẻ nghiện rượu, nhưng miệng cười hề hề xem chừng ôn hòa, dễ thân cận; một người thì gầy cao như cây tre miễu, mặt mày xanh xao, trong màu trắng có ẩn màu xanh lục, tưởng như cả đời không ra nắng bao giờ. Hai người này thân hình dung mạo, không có chỗ nào giống nhau. Người thứ ba tướng mạo bình bình không có gì lạ, chỉ có da mặt vàng vọt, có vẻ như người đang bệnh hoạn.
Lòng hiếu kỳ của Quách Tương nổi lên, nên hỏi:
– Này ba vị lão tiên sinh, quí vị đã đến chùa Thiếu Lâm chưa? Sao vừa mới lên đã trở xuống?
Lão già mặt xanh lườm nàng một cái, xem chừng khó chịu vì cô đã hỏi lăng nhăng. Ông già thấp lùn mũi đỏ, mặt hồng hào cười hỏi:
– Sao cô nương biết là chúng tôi lên chùa Thiếu Lâm?
Quách Tương nói:
– Từ đây trở lên, không lên chùa Thiếu Lâm thì còn đi đâu?
Ông già mặt đỏ gật đầu:
– Cô nói thế cũng đúng. Còn cô nương đang định đi đâu?
Quách Tương nói:
– Các ông lên chùa Thiếu Lâm thì tôi cũng lên chùa Thiếu Lâm.
Ông già mặt xanh nói:
– Chùa Thiếu Lâm xưa nay không để đàn bà con gái bước chân vào sơn môn một bước, lại không cho người ngoài đeo binh khí vào chùa.
Giọng nói có vẻ ngạo mạn, thân hình ông ta lại cao nên nhìn qua đầu nàng, chứ không nhìn vào nàng lấy một lần. Quách Tương trong lòng bực mình, nói:
– Thế sao các ông đeo binh khí thì được? Cái bao vải ở bên cạnh yên ngựa kia, chẳng phải để binh khí thì là gì?
Lão già mặt xanh lạnh lùng nói:
– Ngươi sao lại sánh được với bọn ta?
Quách Tương cười khẩy một tiếng:
– Ba người các ông thì là cái gì? Ở đâu mà phách lối vậy? Côn Lôn Tam Thánh đã đấu với các hòa thượng chùa Thiếu Lâm chưa? Ai thắng ai bại?
Ba ông già đó vẻ mặt lập tức hơi biến sắc. Ông già mặt đỏ hỏi lại:
– Tiểu cô nương, làm sao cô biết được chuyện Côn Lôn Tam Thánh?
Quách Tương nói:
– Tự nhiên tôi phải biết chứ.
Ông già mặt xanh bất thần tiến lên một bước, gay gắt nói:
– Ngươi họ gì? Môn hạ của ai? Đến Thiếu Lâm tự làm gì?
Quách Tương vênh mặt lên, nói:
– Ông hỏi làm gì?
Ông già mặt xanh tính tình nóng nảy, giơ tay lên, định tát cho cô gái một cái, nhưng nghĩ ra ỷ lớn ăn hiếp nhỏ, đàn ông bắt nạt đàn bà không vẻ vang gì, mình là hạng người như thế không lẽ hơn thua với một cô bé con? Thân hình hơi nhích một tí, y giơ tay chộp lấy thanh đoản kiếm Quách Tương đeo ở bên hông. Ông ta ra tay nhanh đến nỗi không ai có thể lường được, Quách Tương chỉ thấy một làn gió nhẹ vèo qua, một bóng người thấp thoáng, bội kiếm đã bị ông ta lấy mất.
Nàng không kịp đề phòng, lại không ngờ ông già làm thế, từ trước đến nay hành tẩu giang hồ chưa từng gặp phải bao giờ. Kỳ thực với võ công duyệt lịch như nàng, nếu tại giang hồ đi lại quả thực hết sức bất lợi, nhưng trong võ lâm, mười người thì đến tám chín biết nàng là con gái của Quách Tĩnh, Hoàng Dung. Đến sau khi Dương Quá truyền tin chúc mừng sinh nhật, bàng môn tả đạo ai ai cũng đều biết, nên nếu không nể mặt Quách Tĩnh, Hoàng Dung thì cũng phải nể mặt Dương Quá. Hơn nữa ngoài dung nhan mỹ lệ, tính cô lại hào sảng hiếu khách, nơi thị tứ dù người kéo xe, bán tương cho đến đồ tể, phu phen, nếu đã gặp cũng đều mua rượu cùng uống với họ một chén. Thành thử trên chốn giang hồ tuy phong ba hiểm ác, nàng cũng đều tai qua nạn khỏi, gặp dữ hóa lành, trước nay chưa bị làm khó dễ bao giờ.
Bây giờ bỗng nhiên bị ông già mặt xanh đoạt mất kiếm, nhất thời cô không biết phải làm sao, nếu tiến lên đoạt lại, thì biết võ công không bì kịp, còn nếu bỏ qua, thì trong lòng chịu sao được?
Ông già mặt xanh dùng ngón tay giữa và ngón tay trỏ tay trái kẹp lấy bao đoản kiếm, lạnh lùng nói:
– Thanh kiếm của ngươi, ta tạm giữ. Ngươi có gan vô lễ với ta như vậy, chắc là tại cha mẹ hay sư trưởng thiếu dạy dỗ. Ngươi bảo họ đến gặp ta để lấy lại thanh kiếm, để ta tử tế bảo cho họ biết, hầu dạy cho cha mẹ sư trưởng của ngươi một trận.
Câu nói đó làm cho Quách Tương tức giận đến nỗi mặt đỏ bừng. Nghe ông ta nói đã coi nàng là một đứa trẻ con nhà mất dạy, nên nghĩ thầm: “Giỏi nhỉ! Ngươi mắng chửi ta, lại còn dám chửi cả ông ngoại và cha mẹ ta, chắc ngươi có tài thông thiên, nên mới phách lối đến mức không sợ trời không sợ đất gì cả”..
Nàng định thần, cố nhịn, hỏi:
– Tên ông là gì?
Ông già mặt xanh hừ một tiếng, nói:
– Cái gì mà lại “Tên ông là gì?” Ta dạy cho ngươi biết, ngươi phải hỏi là:”Xin thỉnh giáo tôn tính đại danh của lão tiền bối?” Quách Tương giận nói:
– Tôi chỉ hỏi cho biết tên ông vậy thôi. Ông không nói thì thôi, ai phải cầu cạnh? Thanh kiếm đó có đáng gì đâu? Ông già đầu không biết xấu, ăn cắp, ăn cướp của người khác, tôi không thèm lấy lại đâu.
Nói xong nàng quay lưng, toan đi ra khỏi thạch đình. Bỗng thấy trước mặt một bóng thấp thoáng, ông già lùn mặt đỏ đã chặn ngay trước mặt, cười hì hì:
– Con gái tính tình không nên nóng nảy như vậy, sau này về làm dâu nhà người ta, đâu có thể giữ mãi cái tính trẻ con như thế? Được rồi, để ta nói cho cô nghe, chúng tôi là ba người sư huynh đệ, mấy ngày qua đường xá xa xôi từ Tây Vực đến Trung Nguyên … Quách Tương dẩu môi đáp:
– Ông không cần nói tôi cũng biết. Đất Thần Châu Trung Nguyên chúng tôi, không ai biết ba người các ông bao giờ.
Ba ông già nhìn nhau, ông già mặt đỏ hỏi:
– Xin hỏi cô nương, tôn sư là ai thế?
Quách Tương khi ở chùa Thiếu Lâm không chịu nói tên cha mẹ của mình, lúc này trong bụng tức lắm, nên nói:
– Cha tôi họ Quách, đơn danh một chữ Tĩnh. Mẹ tôi họ Hoàng, đơn danh một chữ Dung. Tôi không có sư phụ, chỉ nhờ cha mẹ dạy qua loa thôi.
Ba ông già lại nhìn nhau. Ông già mặt xanh lẩm bẩm: “Quách Tĩnh? Hoàng Dung? Họ thuộc môn phái nào thế nhỉ? Là đệ tử của ai?” Quách Tương lúc này trong lòng bực không sao chịu nổi, nghĩ thầm tên tuổi cha mẹ mình ai ai cũng biết, đừng nói chi người trong võ lâm, mà đến dân thường, ai không biết Quách đại hiệp nghĩa thủ Tương Dương? Thế nhưng nhìn thần sắc của ba ông già này, không phải là giả vờ không biết. Nàng nghĩ một hồi, chợt vỡ lẽ: “Ba gã Côn Lôn Tam Thánh từ Tây vực xa xôi, trước nay chưa hề vào Trung Thổ. Tuy họ võ công cao như thế nhưng cha mẹ ta cũng chưa đề cập đến tên tuổi họ bao giờ, cho nên không biết được tên hai ông bà thật cũng không có gì lạ. Ắt là họ ở sâu trong núi Côn Lôn, chăm chỉ tập luyện võ công, xưa nay không hề nghe đến chuyện bên ngoài.” Nghĩ như vậy, trong lòng mới thấy nhẹ nhõm, nộ khí tiêu tan. Nàng vốn dĩ không phải là người tính tình nhỏ nhặt, chấp nhất, nên nói:
– Tôi họ Quách, tên Tương, là chữ Tương trong tên thành Tương Dương đó. Hay lắm, tôi đã cho các ông biết tên tôi rồi. Xin hỏi ba vị lão tiên sinh tôn tính đại đanh là gì?
Ông già mặt đỏ cười hì hì nói:
– Phải đó, cô bé con ngoan lắm, dạy một lần là nhớ ngay, thế mới là đạo lý tôn trọng bậc trưởng bối.
Nói rồi chỉ ông già mặt vàng:
– Vị này là đại sư ca của anh em ta, họ Phan, tên là Thiên Canh. Ta là nhị sư huynh, họ Phương, tên gọi Phương Thiên Lao.
Tay chỉ ông già mặt xanh nói:
– Còn đây tam sư đệ, họ Vệ, tên là Thiên Vọng. Bọn ta có ba anh em, trong tên ai cũng có chữ Thiên cả.
Quách Tương à một tiếng, nhẩm lại một lượt, rồi hỏi:
– Các ông chẳng hay đã lên đến chùa Thiếu Lâm chưa? Các ông đã tỉ thí võ nghệ với các hòa thượng trên chùa chưa? Hai bên, bên nào võ công cao cường hơn?
Ông già mặt xanh Vệ Thiên Vọng hừ một tiếng, gay gắt hỏi lại:
– Sao cái gì ngươi cũng biết thế? Bọn ta muốn tỉ thí võ nghệ với các hòa thượng chùa Thiếu Lâm, thiên hạ ít ai biết, làm sao ngươi lại biết? Nói mau, nói mau!
Nói rồi ông ta sấn tới trước mặt Quách Tương, tay phải nắm chặt, hung hăng trừng mắt nhìn cô gái. Quách Tương nghĩ thầm:
– Đời nào ta để cho y uy hiếp? Có nói cho ngươi hay cũng không có gì quan trọng, nhưng ngươi càng dữ dằn, ta càng không thèm nói.
Cô trợn mắt nhìn y một cái, thản nhiên nói:
– Tên của ông nghe không hay, sao không đổi thành “Thiên Ác” có hơn không?
Vệ Thiên Vọng giận dữ:
– Cái gì?
Quách Tương đáp:
– Hung thần ác sát như ông trên đời ít có, đã giựt mất kiếm của tôi, lại còn hầm hầm, có phải là sao Thiên Ác trên trời xuống đây hay không?
Vệ Thiên Vọng gầm gừ trong họng mấy tiếng như con thú, ngực bỗng phồng lên thật lớn, tóc và lông mày như muốn dựng cả lên. Ông già mặt đỏ Phương Thiên Lao vội kêu lên:
– Tam đệ, không được nổi nóng.
Lập tức nắm vai Quách Tương lôi về phía sau vài thước, lấy thân mình chắn giữa hai người. Quách Tương thấy Vệ Thiên Vọng như thế, nếu y quả thực ra tay ắt nàng không sao chống đỡ được, trong lòng không khỏi hơi khiếp sợ. Vệ Thiên Vọng tay phải rút kiếm ra khỏi bao, tay trái hai ngón tay kẹp lấy mũi kiếm, vận sức vào đốt ngón tay, nghe cách một tiếng, đầu kiếm đã gãy làm hai, rồi bỏ cả hai mảnh trở lại bao, nói:
– Ai thèm lấy cái thứ kiếm vô dụng của ngươi làm gì!
Quách Tương thấy kình lực ngón tay của y lợi hại như thế không khỏi hãi sợ. Vệ Thiên Vọng thấy nàng biến sắc, đắc ý ngửng đầu cười ha hả. Tiếng cười của y ù cả tai, rung động đến nỗi ngói trên mái đình cũng kêu lách cách.
Trong khi tiếng vang chưa dứt, bỗng dưng mái đình thủng một mảng lớn, một vật gì đó rơi bịch xuống đất. Mọi người ai nấy giật mình, đến Vệ Thiên Vọng cũng không tưởng nổi y nội lực sung túc đến mức tiếng cười có thể làm chấn động mái ngói. Thực ra tiếng cười của y không hàm ý vui vẻ mà chỉ là vận kình kêu lên “ha ha” vài tiếng, vậy mà làm thủng được mái ngói, khiến y vừa mừng vừa sợ, không ngờ gần đây nội lực của mình lại tiến bộ đến thế. Thế nhưng nhìn lại cái vật vừa rơi xuống lại càng sợ hơn, chỉ thấy đó là một hán tử trung niên mặc áo trắng, hai tay ôm một cây dao cầm, lăn quay dưới đất, mắt vẫn nhắm nghiền ngủ say sưa.
Quách Tương vui mừng nói:
– Ồ, ông cũng ở đây sao?
Hóa ra người đàn ông này chính là người ngồi đánh đàn nàng gặp mấy hôm trước trên núi. Người đó nghe tiếng Quách Tương, vội nhỏm dậy, nói:
– Cô nương, tôi đang đi tìm cô, không ngờ lại gặp nhau ở đây.
Quách Tương hỏi:
– Ông đi kiếm tôi có chuyện gì thế?
Người đó đáp:
– Tôi quên không thỉnh giáo tôn tính đại danh của cô nương.
Quách Tương nói:
– Cái gì mà tôn tính đại danh? Những lời màu mè giả dối đó tôi không thích chút nào.
Người nọ khựng lại, cười đáp:
– Đúng lắm, đúng lắm. Càng để ý đến hư văn, loại người đó càng không có chân tài thực học. Hạng đó đi lòe mấy người nhà quê, chứ làm được chuyện gì.
Y vừa nói vừa liếc nhìn Vệ Thiên Vọng, cười khẩy mấy tiếng. Quách Tương mừng lắm, không ngờ người này biết hết mọi chuyện, cố ý giúp đỡ mình.
Vệ Thiên Vọng thấy người nọ liếc mình, mặt y đã xanh lại càng xanh thêm, lạnh lùng hỏi:
– Tôn giá là ai?
Người nọ không thèm để ý tới y, nói với Quách Tương:
– Cô nương, tên cô là gì nhỉ?
Quách Tương nói:
– Tôi họ Quách, đơn danh Tương.
Người nọ vỗ tay:
– A, thật đúng là có mắt mà không thấy núi Thái Sơn, hóa ra đây là Quách đại cô nương, người mà bốn bể ai cũng nghe danh. Lệnh tôn là Quách Tĩnh Quách đại hiệp, lệnh đường Hoàng Dung Hoàng nữ hiệp, trừ bọn vô tri vô thức, không biết trời trăng gì mới không biết đến, chứ trên giang hồ có ai không hay, có ai không biết? Hai vị đó văn võ song toàn, đao thương kiếm kích, quyền chưởng khí công, cầm kỳ thư họa, thi từ ca phú, xưa nay không môn gì không hơn người, ai mà bì kịp. Ha ha, chỉ có cái bọn thong manh, mới không nghe đến tiếng vang vọng của hai ông bà.
Quách Tương trong lòng thật vui, nghĩ thầm: “Thì ra ngươi ẩn náu ở trên nóc đình, đã nghe thấy những gì ta nói với ba người này rồi. Xem ra chính ngươi cũng chẳng biết gì về cha mẹ ta. Ta thứ hai, vậy mà gọi là đại cô nương, lại bảo cha ta cũng thông cầm kỳ thư họa, thi từ ca phú, thật đáng nực cười”.
Nghĩ như thế nên nàng cười hỏi lại:
– Thế còn tên ông là gì?
Người kia đáp:
– Tôi họ Hà, tên là Túc Đạo.
Quách Tương cười:
– Hà Túc Đạo, Hà Túc Đạo ư? Cái tên ông sao khiêm tốn quá vậy.[7] Hà Túc Đạo nói:
– So với cái bọn thiên gì, địa gì khoác lác không biết xấu hổ, cái thứ nhãi nhép cuồng vọng tự tôn, thùng rỗng kêu to chỉ tổ làm người ta buồn mửa.
Hà Túc Đạo liên tiếp mỉa mai châm chọc bọn ba anh em Vệ Thiên Vọng. Ba người thấy y ép sập nóc đình rơi xuống, hẳn không tầm thường, lúc đầu họ còn cố nhịn, để xem bạch y quái khách này là hạng người nào. Thế nhưng càng nghe lời lẽ y càng chua cay, Vệ Thiên Vọng thấy không còn chịu nổi, vung tay nhắm ngay má trái của y đánh ra một chưởng.
Hà Túc Đạo hơi cúi đầu, luồn dưới cánh tay y mà lách qua. Vệ Thiên Vọng chỉ thấy cổ tay trái hơi tê, thanh kiếm trong tay y đã bị đoạt mất. Lúc Vệ Thiên Vọng đoạt kiếm của Quách Tương, thân pháp thật là nhanh, khiến người ta không sao nhìn rõ, nhưng lúc này Hà Túc Đạo lách qua nhẹ nhàng thuận tay lấy lại thanh đoản kiếm, từ thân pháp đến cử động, không có điểm nào khác thường.
Vệ Thiên Vọng kinh hãi, tiến lên một bước, mấy ngón tay như cái móc, chộp luôn vào vai y. Hà Túc Đạo lại nghiêng người né tránh, trảo đó lướt qua thân y. Phan Thiên Canh và Phương Thiên Lao đột nhiên nhảy lùi lại ra ngoài đình. Vệ Thiên Vọng tả quyền hữu chưởng đánh ra, tiếng gió kêu vù vù, chỉ giây lát đã đánh ra bảy tám chiêu liền. Hà Túc Đạo né trái lách phải, khiến đến vạt áo cũng không chạm đến. Tay y cầm thanh đoản kiếm, đối với quyền chiêu gió táp mưa sa của đối phương không hề đỡ gạt, chỉ nhẹ nhàng nghiêng người đã làm cho Vệ Thiên Vọng đánh hụt ra ngoài.
Đối với lứa tuổi của Quách Tương, tuy võ thuật nàng không tinh thâm nhưng trong những người quen biết không hiếm cao thủ vào hạng nhất, kiến thức lại hơn người, thấy Hà Túc Đạo cử động trông nhẹ nhàng nhưng thân pháp hết sức xảo diệu, né tránh những chiêu thức cực kỳ cương mãnh của địch, võ công thân pháp thành riêng một nhà, so với các môn phái ở Trung Thổ không giống ai, càng xem càng thấy kỳ lạ.
Vệ Thiên Vọng liên tiếp đánh ra hơn hai chục chiêu vẫn không ép được đối phương xuất thủ, hự một tiếng nhỏ, quyền pháp bất ngờ đổi hẳn, xuất chiêu chậm chạp, nhưng quyền lực nặng nề. Quách Tương đứng ở bên trong đình, cảm thấy quyền phong càng lúc càng nặng đẩy nàng từng bước lùi ra bên ngoài.
Lúc này Hà Túc Đạo không còn có thể chỉ né tránh mà không trả đòn, y cài đoản kiếm vào dây lưng, hai chân đứng vững lại, quát lên:
– Ngươi biết ngạnh công, tưởng ta không biết sao?
Đợi Vệ Thiên Vọng hai chưởng đánh tới, tay trái phản kích lại một chưởng, lấy ngạnh công chống với ngạnh công, nghe bình một tiếng, Vệ Thiên Vọng thân hình hơi lảo đảo, lùi lại hai bước. Hà Túc Đạo đứng nguyên một chỗ không động đậy.
Vệ Thiên Vọng vẫn tự cho là mình ngoại môn ngạnh công trên đời ít ai bì kịp, nào ngờ đối phương lấy cứng chống cứng không hề mượn sức hay trổ tài khéo léo, đẩy mình lùi lại. Y trong lòng không phục, hít một hơi, quát lên một tiếng, hai chưởng lại đánh ra. Hà Túc Đạo cũng quát lên một tiếng, đánh lại một chưởng. Chỉ nghe tiếng ầm ầm liên tiếp, khiến cho lỗ hổng trên mái đình đất đá rơi xuống rào rào.
Vệ Thiên Vọng lùi lại bốn bước, sau cùng cũng đứng lại được. Y đỡ xong hai chưởng này, đầu tóc rồi bù, hai mắt lồi ra, hình dáng trông thật dễ sợ. Hai tay y ôm vào đan điền, thở hù hù vận khí mấy lần, ngực lõm vào, bụng lại phình ra như cái trống, toàn thân các khớp xương kêu lốp cốp, từng bước từng bước chậm chậm bước về phía Hà Túc Đạo.
Hà Túc Đạo thấy tình thế của y như vậy, không dám coi thường, điều vận chân khí, đứng chờ thế của địch.
Vệ Thiên Vọng đi đến còn cách đối phương chừng bốn năm thước, đã tưởng phát chiêu, nào ngờ không ngừng bước mà vẫn tiếp tục tiến thêm hai bước nữa, đến đứng đối diện tưởng như hơi thở của nhau có thể cảm thấy được, lúc ấy hai chưởng mới tung ra, một chưởng đánh vào mặt, một chưởng lại đánh vào bụng dưới. Lần này y phân ra hai chưởng, cốt để đối thủ phải phân lực ra làm hai. Chiêu thế cũng như chưởng lực đều thật là hùng mạnh.
Hà Túc Đạo cũng lập tức hai chưởng đưa ra, hai tay chéo lại, tay trái y đỡ lấy tay trái địch thủ, tay phải y đỡ lấy tay phải của địch, nhưng chưởng lực lại phân thành một cương, một nhu. Vệ Thiên Vọng chỉ thấy chưởng của y đánh vào bụng dưới địch như đánh vào chỗ không, còn tay phải đánh vào mặt thì như đụng phải tường đồng vách sắt, biết là không ổn, chỉ thấy mình bị một lực to lớn đánh vào, khiến cả thân hình y bị đẩy văng ra khỏi thạch đình.
Kỳ này hai người lấy cứng chọi cứng, dùng lực chống lực, ai yếu hơn sẽ bị thương, không thể nào lấy gì ngoắt ngoéo. Dù cho Vệ Thiên Vọng có gượng đứng được, hoặc một chiêu đã ngã, thì chưởng lực của chính y phản kích trở lại, lại thêm chưởng lực của Hà Túc Đạo, ắt y thể nào cũng phải hộc máu tươi. Phan Thiên Canh và Phương Thiên Lao cùng kêu lên:
– Ra tay!
Hai người đồng thời nhảy tới, cùng chia nhau mỗi người nắm một cánh tay của Vệ Thiên Vọng nhắc lên, có thế mới tiêu trừ được chưởng lực cương mãnh của Hà Túc Đạo. Vệ Thiên Vọng tuy chưa bị thương, nhưng ruột gan đã chấn động, xương cốt toàn thân tưởng như nát nhừ, thở không ra hơi, không đứng nổi. Ông già lùn mặt đỏ Phương Thiên Lao thấy sư đệ bị một trận đau như thế, trong bụng vừa giận vừa sợ, nhưng mặt ngoài vẫn cười hì hì, nói:
– Các hạ chưởng lực mạnh như thế, quả thực trên đời ít thấy, bội phục bội phục.
Quách Tương nghĩ thầm: “Nói đến chưởng lực cương mãnh hùng hậu, ai bằng được Hàng Long Thập Bát Chưởng của cha ta? Bọn Côn Lôn Tam Thánh các ngươi trốn lánh ở chốn hoang sơn, ếch ngồi đáy giếng, tưởng là mình giỏi, rồi sẽ có ngày biết đến võ công Trung Thổ”. Nàng nghĩ đến đây, trong lòng hơi se lại, vì lúc nàng muốn cho bọn Phương Thiên Lao biết đến võ công Trung Thổ, không phải là biết đến phụ thân mà chính là Dương Quá.
Chỉ nghe Phương Thiên Lao nói tiếp:
– Tiểu lão nhi bất tài, xin ra lãnh giáo kiếm pháp của các hạ.
Hà Túc Đạo nói:
– Phương huynh đối xử với Quách cô nương thật nể nang, tại hạ không trách gì cả, chúng ta tỉ thí làm gì.
Quách Tương ngạc nhiên: “Ngươi cho gã họ Vệ kia một phen khổ sở, nguyên lai chỉ vì y đối với ta không nể nang ư?” Phương Thiên Lao đến bên con ngựa y cưỡi, từ bao vải lấy ra một thanh trường kiếm, nghe một tiếng soẹt, đã rút ra khỏi vỏ, giơ ngón tay búng vào thân kiếm một cái, tiếng u u nổi lên một hồi lâu không dứt. Khi kiếm đã trong tay, nụ cười trên môi lập tức biến mất, tay trái bắt kiếm quyết đưa ra trước mặt, ngón tay đưa lên, tay phải cầm kiếm chỉ lên trời không động đậy, chính là chiêu “Tiên Nhân Chỉ Lộ”.
Hà Túc Đạo nói:
– Nếu quả Phương huynh muốn động thủ, thì tôi xin dùng đoản kiếm của Quách cô nương thử một vài chiêu.
Y nói rồi rút ra nửa thanh kiếm gãy. Thanh kiếm đó vốn đã dài không quá hai thước, sau khi Vệ Thiên Vọng dùng ngón tay bẻ gãy rồi, lưỡi kiếm chỉ còn bảy tám tấc. Đầu kiếm lại thẳng không nhọn, đến như con dao găm cũng không bằng. Tay trái y cầm bao kiếm, tay phải cầm thanh kiếm gãy nhảy vào tấn công.
Lần nay y ra tay cực kỳ nhanh nhẹn, trước mắt Phương Thiên Lao chỉ thấy một vệt trắng thấp thoáng, Hà Túc Đạo đã liên tiếp công kích ba chiêu, tuy rằng thanh kiếm gãy quá ngắn không làm y bị thương, nhưng Phương Thiên Lao trong bụng cũng hãi sợ, nghĩ thầm: “Ba chiêu này nhanh thật, quả không dễ gì né tránh, kiếm pháp này là kiếm pháp gì đây? Nếu trong tay y mà là trường kiếm thì có lẽ máu mình đã đổ ra tại chỗ rồi.” Hà Túc Đạo tấn công ba chiêu xong, lui ra một bên, đứng yên bất động. Phương Thiên Lao khai triển kiếm pháp, nửa thủ nửa công, hung hăng xông tới. Hà Túc Đạo né qua một bên, nhưng không trả đòn, lại bất ngờ tấn công ba chiêu thật nhanh, ép Phương Thiên Lao phải tay chân lúng túng, rồi lại nhảy ra ngoài đứng chờ. Thanh kiếm trong tay Phương Thiên Lao lại tung ra tấn công, chỉ thấy ánh sáng trắng nhấp nháy, cực kỳ nhanh nhẹn.
Quách Tương nghĩ thầm: “Lão già này chiêu số thật là cương mãnh, độc địa, so với chưởng pháp của lão họ Vệ cũng cùng một lối, có điều có thêm ba phần linh động, lại có vẻ lợi hại hơn …” Vừa nghĩ tới đây, chợt nghe Hà Túc Đạo quát lên: “Cẩn thận nhé”. Chữ nhé vừa ra khỏi miệng, bao kiếm bên tay trái giơ lên, nhanh như điện chớp, nghe xẹt một tiếng nhỏ, bao kiếm trong tay đã chụp lấy mũi kiếm của Phương Thiên Lao, kiếm bên tay phải nhanh nhẹn chĩa ngay vào yết hầu địch thủ.
Trường kiếm của Phương Thiên Lao không còn tự do, không cách gì có thể thu kiếm về để gạt, mắt thấy kiếm đâm vào cổ họng mình, chỉ còn cách bỏ thanh kiếm, lăn ngay xuống đất, mới tránh được chiêu này. Y chưa kịp đứng dậy, một bóng người thấp thoáng, Phan Thiên Canh đã vọt mình nhảy tới, chộp lấy chuôi thanh trường kiếm, xoay mình một cái, rút ra khỏi bao. Cả Hà Túc Đạo lẫn Quách Tương đều lên tiếng khen ngợi:
– Hảo thân pháp!
Ông già mặt trông như người bệnh ấy trước sau không thốt ra một lời, võ công hóa ra cao nhất trong ba người. Hà Túc Đạo nói:
– Công phu của các hạ cao cường, tại hạ thật bội phục.
Nói rồi quay đầu lại nói với Quách Tương:
– Quách cô nương, từ khi được nghe nhã tấu của cô nương hôm trước, tôi đã sáng tác một bản đàn, mong được cô nương bình phẩm.
Quách Tương nói:
– Bản đàn nào thế?
Hà Túc Đạo ngồi xuống xếp bằng, lấy cây dao cầm đặt lên lòng, lên dây thử vận, rồi bắt đầu gẩy đàn.
Phan Thiên Canh nói:
– Các hạ liên tiếp đánh bại hai người sư đệ của tôi, họ Phan này muốn được thỉnh giáo.
Hà Túc Đạo xua tay:
– Chuyện tỉ thí võ công đã qua rồi, không còn hứng thú gì nữa. Đây là một bản đàn mới, ta đang muốn gẩy cho Quách cô nương nghe. Ba vị nếu như muốn nghe, xin mời ngồi xuống, nếu như không hiểu, xin cứ tự tiện.
Tay trái ấn phím, tay phải bắt đầu đánh đàn. Quách Tương chỉ mới nghe vài nốt, bất giác vừa mừng vừa sợ. Hóa ra bản đàn này một phần là từ “Khảo Bàn” là khúc nàng đã tấu qua, nhưng một phần khác lại từ trong thơ “Kiêm Gia”, hai bản không cùng một điệu, nhưng y đã hòa lại với nhau, một ứng một đáp, nghe ra thật là kỳ diệu. Tuy nhiên khi nghe cầm vận tới đoạn “khảo bàn tại giản, thạc nhân chi khoan. Kiêm gia thương thương, bạch lộ vi sương, sở vị y nhân, tại thiên nhất phương … thạc nhân chi khoan, thạc nhân chi khoan … tố hồi tòng chi, đạo trở thả trường, tố du tòng chi, uyển tại thủy trung ương … độc tẩm ngụ ngôn, vĩnh thỉ vật huyên, vĩnh thỉ vật huyên …” Quách Tương trong lòng thấy hơi chạnh lòng: “Trong tiếng đàn của y có nói đến y nhân, chẳng lẽ nhắc đến ta ư? Sao điệu đàn có vẻ ý tứ triền miên đến thế, nghe đầy những nhớ thương cảm mến?” Nghĩ đến đây, nàng không khỏi ửng hồng đôi má. Có điều điệu đàn đó biến chuyển thực là khéo léo, nguyên vận hai bài “Khảo Bàn” và “Kiêm Gia” không lạc nhau chút nào, hai bên nhịp nhàng đối đáp, song vẫn giữ được tất cả những hoa mỹ của cả hai. Trong đời nàng chưa bao giờ được nghe một khúc nhạc như thế cả.
Thế nhưng bọn Phan Thiên Canh ba người chẳng ai hiểu gì. Họ không biết rằng Hà Túc Đạo là người hơi điên khùng, có chút mê mẩn của một cuồng sĩ, vừa làm được một bản đàn, nhất định phải kiếm Quách Tương để gẩy cho nghe bằng được, huống chi khúc đàn này cũng vì nàng mà sáng tác, nên lúc ấy mọi việc đều gác sang một bên. Thế nhưng ba ông già thấy y ngưng thần đánh đàn, chẳng thèm để ý chi đến mình, quả thực hết sức khinh người, làm sao họ có thể nhịn nổi? Phan Thiên Canh vung thanh trường kiếm, điểm ngay vào vai bên trái Hà Túc Đạo, hét lớn:
– Mau đứng lên, ta với ngươi hai người so tài nào!
Hà Túc Đạo toàn thể tâm trí đang để vào tiếng đàn, tưởng mình đang là một thư sinh ngao du nơi khe núi, ngắm một thiếu nữ ôn nhu đứng trên một hòn đảo nhỏ xa xa, lòng không ngại núi non cách trở, đang cố tìm cách qua gặp nàng … Bỗng dưng thấy vai trái nhói một cái, y liền tỉnh mộng, quay đầu nhìn lại, thấy trường kiếm trong tay Phan Thiên Canh đã chỉ vào đầu vai mình, đâm nhẹ vào da, nếu không đỡ gạt, e rằng đối phương sẽ tiện đà đâm tới khiến cho bị thương. Thế nhưng bản đàn chưa tấu xong, tục nhân lại ở bên cạnh quấy nhiễu, thực là phá đám. Y lập tức cầm thanh kiếm gãy, keng một tiếng, gạt thanh trường kiếm của Phan Thiên Canh ra, tay phải vẫn tiếp tục gảy đàn.
Lúc này Hà Túc Đạo mới giở tuyệt kỹ bình sinh, tay phải đàn cầm, tay trái sử kiếm. Y không sao nhấn phím được nên nhắm năm dây đàn dùng sức thổi một cái, dây đàn lập tức lõm xuống, tay phải tiếp tục gảy như thường, tiếng đàn cao thấp trầm bổng, vẫn uyển chuyển như ý.
Phan Thiên Canh cấp tốc công kích mấy chiêu, Hà Túc Đạo thuận tay gạt ra, hai mắt vẫn chăm chú nhìn dây đàn, chỉ e hơi thổi ra không trúng tiết, làm loạn tiếng đàn. Phan Thiên Canh càng thêm giận dữ, kiếm chiêu càng công càng nhanh, nhưng bất luận kiếm của y từ phương nào đâm tới, đều bị Hà Túc Đạo nhẹ nhàng gạt qua một bên.
Quách Tương nghe tiếng đàn, trong lòng nổi nhạc hứng, không để ý gì đến những đường kiếm đánh tới của Phan Thiên Canh, thế nhưng hai thanh kiếm chạm nhau làm cho cầm thanh bị loạn. Hai tay nàng đánh nhịp theo tiếng đàn, nhíu mày nhìn Phan Thiên Canh nói:
– Ông ra chiêu lúc nhanh lúc chậm không hợp với tiếng đàn, bộ ông không biết gì về âm nhạc ư? Hừ, ông phải nghe theo tiếng đàn mà xuất kiếm, có theo nhịp thì nghe mới được.
Phan Thiên Canh đời nào để ý đến cô, chỉ thấy trước mặt kẻ địch ngồi xếp bằng trên đất, tay chỉ cầm một thanh kiếm gãy, mắt chăm chú nhìn dây đàn, vậy mà mình không sao chạm được vào y, lại càng nóng ruột. Đột nhiên y đổi kiếm pháp, công kích càng nhanh hơn, hai món binh khí chạm nhau leng keng như tiếng mưa rào. Âm thanh cấp bách đó so với tiếng đàn ôn nhã triền miên quả thực không hài hòa chút nào.
Hà Túc Đạo nhướng đôi lông mày, truyền kình lực vào thanh đoản kiếm, nghe cách một tiếng, thanh kiếm trong tay Phan Thiên Canh lập tức gãy ra làm đôi. Thế nhưng cũng lúc đó, dây thứ năm trong bảy dây đàn cũng đứt theo. Phan Thiên Canh mặt xám như tro, không nói một lời, chuyển thân chạy ra khỏi đình. Ba người nhảy lên lưng ngựa, chạy vọt lên hướng triền núi.
Quách Tương thật lạ lùng, nói:
– Hừ, ba người này đánh đã thua rồi, tại sao còn chạy lên chùa Thiếu Lâm? Bộ họ muốn chết hay sao chứ?
Nàng quay đầu lại, thấy Hà Túc Đạo mặt buồn thiu, tay vuốt ve dây đàn, tưởng như không nói lên được nỗi đau khổ của mình. Quách Tương nghĩ thầm: “Một sợi dây đàn, có đáng gì đâu?”.Lập tức tiếp lấy cây dao cầm cởi đoạn dây đàn bị đứt mở dây đàn ra căng lại sợi dây mới.
Hà Túc Đạo lắc đầu thở dài, nói:
Uổng phí bao năm tu tập, cuối cùng rồi lòng vẫn chưa tĩnh được. Tuy tay trái tôi đưa kình lực ra làm gãy được kiếm của y, nhưng tay phải cũng lại làm đứt dây đàn.
Bấy giờ Quách Tương mới rõ, nguyên là y thất vọng vì võ công của mình luyện chưa thuần thục, nên cười đáp:
– Việc ông có thể tay trái dũng mãnh công địch , tay phải lại thư thả chậm rãi gẩy đàn, là phép phân tâm nhị dụng, trên cõi đời này hiện nay chỉ có ba người làm được thôi. Ông luyện chưa đến mức đó, cũng không có gì phải bực mình.
Hà Túc Đạo hỏi lại:
– Ba người đó là ai?
Quách Tương đáp:
– Vị thứ nhất là Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông, người thứ hai là cha tôi, còn người thứ ba là Dương phu nhân Tiểu Long Nữ. Trừ ba người ấy ra, dù cho là ông ngoại tôi Đào hoa đảo chủ, hay mẹ tôi, hoặc Thần Điêu đại hiệp Dương Quá, là những người võ công rất cao, nhưng cũng không làm được.
Hà Túc Đạo nói:
– Thế gian có những kỳ nhân như thế, bao giờ có dịp mong cô đưa tôi đến gặp họ.
Quách Tương buồn bã nói:
– Muốn gặp cha tôi thì không khó, còn hai vị kia, không biết đi đâu để kiếm họ được.
Nàng thấy Hà Túc Đạo ngơ ngẩn xuất thần, lại nghĩ đến chuyện đứt dây đàn, nên an ủi y:
– Ông chỉ giơ tay đã đánh bại được Côn Lôn Tam Thánh, cũng đủ hãnh diện với đương thế rồi, hà tất vì chuyện nhỏ mọn là đứt dây đàn mà rầu rĩ không vui?
Hà Túc Đạo giật mình kinh hãi, hỏi lại:
– Côn Lôn Tam Thánh ư? Cô nói gì? Sao cô lại biết?
Quách Tương cười đáp:
– Ba lão già đó từ Tây Vực đến, ắt là Côn Lôn Tam Thánh đó. Bọn họ võ công quả nhiên có chỗ độc đáo, chỉ có điều khiêu chiến với chùa Thiếu Lâm, e rằng không tự lượng sức mình … Nàng thấy sự kinh hoàng của Hà Túc Đạo mỗi lúc một nhiều, nên không dám nói tiếp nữa, hỏi lại:
– Có gì kỳ quái?
Hà Túc Đạo lẩm bẩm:
– Côn Lôn Tam Thánh, Côn Lôn Tam Thánh Hà Túc Đạo chính là tôi đây.
Quách Tương giật mình kinh hãi, nói:
– Ông là Côn Lôn Tam Thánh ư? Vậy còn hai người kia đâu?
Hà Túc Đạo nói:
– Côn Lôn Tam Thánh chỉ có một người, xưa nay không phải ba người bao giờ. Tôi ở Tây Vực cũng có được một chút danh nho nhỏ, bạn bè ở đó nói tôi có ba tuyệt kỹ, cầm kỳ kiếm, có thể nói là cầm thánh, kỳ thánh, kiếm thánh. Nhân vì tôi sinh trưởng trong núi Côn Lôn, nên gán cho tôi một cái ngoại hiệu, gọi là Côn Lôn Tam Thánh. Thế nhưng tôi nghĩ cái chữ “thánh” đó, đâu phải dễ dàng gì mà xưng như thế? Thế nhưng người khác đã dát vàng lên trên mặt mình rồi, không thể từ chối được. Thành thử, tôi phải đổi tên, gọi mình là “Túc Đạo”, nối liền với nhau, thành là Côn Lôn Tam Thánh Hà Túc Đạo[8] để cho người khác nghe được không cho là tôi cuồng vọng tự đại.
Quách Tương vỗ tay cười:
– Hóa ra là như thế. Tôi vẫn tưởng là Côn Lôn Tam Thánh phải là ba người. Thế ba ông già đó là ai?
Hà Túc Đạo nói:
– Bọn họ ư? Họ thuộc phái Thiếu Lâm.
Quách Tương lấy làm lạ, nói:
– Nguyên lai ba người này thuộc phái Thiếu Lâm. Ừ, võ công của họ quả đúng là cương mãnh. Không sai, ông già mặt đỏ sử dụng chính là Đạt Ma kiếm pháp. Đúng rồi, ông già bệnh hoạn mặt vàng lúc sau công kích thật gấp, chẳng phải Vi Đà Phục Ma kiếm hay sao? Chỉ vì họ thêm thắt biến hóa nhiều, nhất thời tôi không nhận ra được. Nhưng sao họ lại từ Tây Vực đến đây?
Hà Túc Đạo nói:
– Chuyện này nói ra cũng có nguyên nhân. Mùa xuân năm ngoái, tôi ở tại đỉnh Kinh Thần Phong gẩy đàn, bỗng đâu nghe ngoài lều tranh có tiếng đấm đá, vội ra xem, thấy hai người đang vật nhau, cả hai đều đã trọng thương, nhưng vẫn tận lực chiến đấu. Tôi quát họ bắt ngừng tay, nhưng không ai chịu yên, tôi phải đến can hai người ra. Một trong hai người chỉ trợn ngược mắt lên rồi chết, người kia còn thoi thóp. Tôi đưa y vào trong lều, cho y uống một viên Thiếu Dương đơn, cứu chữa nửa ngày, nhưng vì bị thương quá nặng, linh đơn không cứu mạng nổi. Khi y sắp chết, nói tên là Doãn Khắc Tây … Quách Tương A lên một tiếng, nói:
– Phải chăng người đánh nhau với y là Tiêu Tương Tử? Người đó thân hình cao gầy, mặt trông như xác chết, phải không?
Hà Túc Đạo lạ lùng:
– Đúng vậy, sao cô cái gì cũng biết?
Quách Tương đáp:
– Tôi đã gặp họ rồi, không ngờ hai tên thân thiết như thế, cuối cùng lại đánh nhau đến chết.
Hà Túc Đạo nói:
– Doãn Khắc Tây nói rằng y một đời làm nhiều điều tàn ác, đến khi sắp chết, hối hận cũng đã muộn. Y nói y và Tiêu Tương Tử hai người vào chùa Thiếu Lâm ăn cắp một bộ kinh thư, nhưng người nọ e dè người kia, không ai dám để người kia coi trước, sợ nếu đối phương võ công cao hơn, sẽ ra tay trừ khử mình, chiếm lấy bộ kinh. Hai người ăn cùng mâm, ngủ cùng giường, một bước không rời nhau. Thế nhưng ăn thì sợ người kia hạ độc, ngủ thì sợ người kia ám toán, lúc nào cũng nơm nớp không an, lại sợ hòa thượng chùa Thiếu Lâm đuổi theo, nên phải chạy đến Tây Vực. Đến khi họ đến được Kinh Thần Phong, hai người đã gân cốt rã rời, nhưng không ai chịu ai, cuối cùng ra tay đánh nhau. Doãn Khắc Tây nói là Tiêu Tương Tử vốn võ công cao hơn y, lại ra tay đánh y trước một chưởng, nhưng kết quả y vẫn chiếm thượng phong. Sau y mới nghĩ ra rằng, Tiêu Tương Tử khi ở trên núi Hoa Sơn đã bị trọng thương, nguyên khí vẫn chưa hồi phục. Nói trắng ra, nếu hai người không e ngại lẫn nhau, chắc cũng không thể nào lên tới núi Côn Lôn được.
Quách Tương nghe câu chuyện, nghĩ đến hai người đường đi lúc nào cũng lo ngay ngáy, đến chết cũng vẫn còn chưa yên bụng, không khỏi thương cảm, nên than:
– Chỉ vì một bộ kinh thư, đến nỗi sinh ra cớ sự.
Hà Túc Đạo nói:
– Tên Doãn Khắc Tây nói xong câu chuyện, hơi đã đứt đoạn, sau cùng cầu tôi đến chùa Thiếu Lâm, nói lại với một vị tên hòa thượng tên là Giác Viễn, rằng kinh thư ở trong dầu chi đó. Tôi nghe thấy kỳ quái, cái gì mà lại kinh thư ở trong dầu? Định sẽ hỏi lại cho kỹ, nhưng nào ngờ y không còn chịu nổi, đã hôn mê bất tỉnh rồi. Tôi đợi y tỉnh lại sẽ hỏi cho ra lẽ, nào ngờ y thiếp đi rồi không tỉnh nữa. Tôi nghĩ hay là bộ kinh đó bao trong tấm vải tẩm dầu chăng? Thế nhưng tra xét khắp người hai tên này, không thấy gì cả. Nhận lời ủy thác của người, phải làm tròn việc. Tôi bình sinh chưa đặt bước đến Trung Thổ, cũng muốn nhân dịp này du ngoạn một phen, vì thế đến chùa Thiếu Lâm là vậy.
Quách Tương hỏi lại:
– Thế sao ông lại đến chùa Thiếu Lâm hạ chiến thư, muốn cùng bọn họ tỉ thí võ nghệ?
Hà Túc Đạo mỉm cười:
– Chuyện đó cũng là từ ba gã này mà ra. Ba người này là đệ tử tục gia của phái Thiếu Lâm Tây Vực. Cứ theo người trong võ lâm Tây Vực nói, họ đều là trong hàng chữ “Thiên”, cùng hàng với phương trượng chùa Thiếu Lâm Thiên Minh thiền sư. Hình như sư tổ của họ trước đây có chuyện bất đồng với sư huynh đệ, giận dữ bỏ đi, truyền ra một phái Tây Vực Thiếu Lâm. Nguyên võ công của phái Thiếu Lâm, tổ sư Đạt Ma truyền từ Thiên Trúc sang Trung Thổ, nay từ Trung Thổ lại truyền sang Tây Vực, cũng không có gì là lạ. Ba người đó nghe danh hiệu tôi là Côn Lôn Tam Thánh nên muốn đến so tài cao thấp. Họ tự hào là võ Thiếu Lâm thiên hạ vô địch, tôi muốn xưng cầm thánh, kỳ thánh thì cũng không sao. Còn cái danh hiệu kiếm thánh thì nhất định không chịu, không bỏ đi không được, chỉ được xưng là nhị thánh chứ không thể xưng là tam thánh. Chính lúc đó tôi lại đang sắp sửa ra đi, thành ra một công đôi chuyện, nên sai người đến ước hẹn sẽ gặp nhau tại chùa Thiếu Lâm, rồi tự mình lên đường đến Trung Nguyên. Nào hay ba vị nhân huynh này cước trình cũng thật mau lẹ, đã bôn ba đến nơi rồi.
Quách Tương cười nói:
– Hóa ra sự việc là như thế, làm cho tôi chẳng hiểu đầu đuôi gì cả. Ba lão già giờ này chắc đã đến chùa Thiếu Lâm, không biết nói năng làm sao đây?
Hà Túc Đạo nói:
– Tôi vốn dĩ không quen biết gì với các nhà sư chùa Thiếu Lâm, cũng không thù không oán, sở dĩ đính ước với họ mười ngày cốt đợi ba lão này tới, lúc đó mới động thủ. Hiện tại hai bên đã thử tài nhau rồi, thôi cả hai người mình cùng lên, đợi tôi truyền lại câu nói đó xong, rồi mình xuống núi.
Quách Tương nhíu mày:
– Qui củ của mấy hòa thượng này rất chặt chẽ, không cho đàn bà con gái vào chùa.
Hà Túc Đạo nói:
– Hừ, cái qui củ gì thối tha thế? Bọn mình cứ tiến vào, chẳng lẽ họ sẽ giết mình sao?
Quách Tương tuy là một cô gái hiếu sự, nhưng từ khi làm quen với Vô Sắc thiền sư, nàng không còn địch ý với chùa Thiếu Lâm, nên cười lắc đầu:
– Tôi đứng ngoài sơn môn chờ, ông tự mình đi vào chùa truyền ngôn, như thế khỏi thêm phiền.
Hà Túc Đạo gật đầu:
– Thế cũng được, cái bản đàn tôi chưa tấu xong, khi trở xuống tôi sẽ đàn lại cho cô nghe một lượt.

– o O o –

[1] Đoạn này không biết trích từ kinh nào nên không rõ nghĩa. Độc giả nào biết xin chỉ giáo. Đa tạ [2] Chó dữ chặn đường [3] Nguyên tiếng Phạn Lanka là tên đảo Tích Lan (Sri Lanka), cũng là tên một ngọn núi ở đây. Tích Lan là nơi mà kinh điển nhà Phật được viết trên lá cây đầu tiên. Kinh Lăng Già tức là Lankavatara sutra.
[4] Đàn có khảm ngọc [5] Vỗ bàn nơi suối nước là cái khoan khoái của người quân tử. Tỉnh hay mê cũng một mình mình biết, không bao giờ quên.
[6] Vỗ bàn nơi gò cao là cái cốt cách của người quân tử. Dẫu tỉnh hay mê cũng chỉ mình biết không cần ai hay.
[7] Hà Túc Đạo theo nghĩa đen là “nói tới làm gì”.
[8] Có nghĩa không đáng gọi là Côn Lôn Tam Thánh.

Loading...

*********************************************************************************************************************

TẬP 2: VÕ ĐƯƠNG SƠN ĐÍNH TÙNG BÁCH TRƯỜNG

Nắng mưa đã có cổ tùng, Suối nguồn róc rách bạn cùng kỳ nhân.
Khai tông lập phái một thân, Võ Đương so với Thiếu Lâm kém gì
Hai người chậm rãi lên núi, thẳng đến tận cửa chùa, vẫn không thấy một bóng người. Hà Túc Đạo nói:
– Thôi tôi cũng không vào làm gì, chỉ mời hòa thượng đó ra đây nhắc lại câu nói đó cũng đủ.
Y cao giọng:
– Hà Túc Đạo ở núi Côn Lôn đến thăm chùa Thiếu Lâm, có một lời phụng cáo.
Câu nói đó vừa dứt, chỉ thấy trong chùa hơn một chục chiếc đại hồng chung cùng rền vang một lượt, tiếng kêu boong boong, vang động khắp cả dãy núi.
Đột nhiên cửa chùa mở rộng, hai bên hai hàng tăng nhân mặc áo màu tro cùng tiến ra, bên trái năm mươi bốn người, bên phải năm mươi bốn người, cả thảy một trăm lẻ tám người, đó là đệ tử của La Hán Đường, phù hợp với số một trăm linh tám la hán. Đằng sau là mười tám tăng nhân, trên áo bào màu tro có phủ thêm cà sa màu vàng nhạt, tuổi tác so với đệ tử La Hán Đường có phần hơn, đó là đệ tử của Đạt Ma Đường, ở trên La Hán Đường một bậc. Đi sau một quãng là bảy nhà sư già mặc cách tử tăng bào[1]. Những nhà sư đó mặt mũi nhăn nheo, niên kỷ ít ra cũng phải hơn bảy mươi, già có thể đến ngoài chín mươi, đó là Tâm Thiền Đường thất lão. Kế tiếp nữa là Thiên Minh phương trượng chầm chậm bước tới, bên trái là thủ tọa Đạt Ma Đường Vô Tướng thiền sư, bên phải là thủ tọa La Hán Đường Vô Sắc thiền sư. Phan Thiên Canh, Phương Thiên Lao, Vệ Thiên Vọng ba người đi ở đằng sau. Cuối cùng là khoảng bảy, tám mươi tục gia đệ tử của phái Thiếu Lâm.
Hôm Hà Túc Đạo lẻn vào La Hán Đường, để lại tờ thiếp trên tay pho tượng Hàng Long La Hán, võ công như thế khiến cho phương trượng cùng Vô Sắc, Vô Tướng đều thật kinh sợ. Mấy hôm sau, anh em Phan Thiên Canh từ Tây Vực đến, nói chuyện ước hẹn tỉ võ, các cao tăng trong chùa càng thêm lưu tâm. Chi phái Thiếu Lâm Tây Vực vì đường sá xa xôi, mấy chục năm qua ít tin tức qua lại với phái Thiếu Lâm trung châu, nhưng tăng chúng trong chùa đều biết rằng, vị sư thúc tổ Khổ Tuệ thiền sư ?đi qua Tây Vực khai phái năm đó võ công kinh người, truyền xuống đồ tử đồ tôn danh tiếng cũng rất ư vang động. Thấy bọn Phan Thiên Canh nói về Côn Lôn Tam Thánh không dám khinh thường chút nào, ai nấy đều nghĩ rằng nếu như tốt lành chắc đã không đến, đã đến chắc cũng không phải hiền lành gì, nên trong chùa càng thêm gia tâm phòng phạm. Phương trượng lại truyền pháp chỉ xuống, tất cả đệ tử tăng tục trong vòng năm trăm dặm chung quanh, phải trở về chùa nghe điều động.
Lúc đầu chúng tăng cũng tưởng Côn Lôn Tam Thánh gồm có ba người, sau mới biết chỉ có một người, còn như dung mạo, tuổi tác, bọn Phan Thiên Canh cũng không rõ, chỉ? biết y tự phụ cầm, kỳ, kiếm tam tuyệt mà thôi. Đánh đàn và đấu cờ khiến cho tâm hồn tranh đua, lại nuôi dưỡng tính nhàn nhã, vốn là điều đại kỵ của Thiền tông, tăng chúng trong chùa Thiếu Lâm trước nay không ngó tới, nhưng những cao thủ trong chùa tinh thông kiếm thuật đều gia công rèn luyện, để cùng kẻ điên cuồng xưng mình ?kiếm thánh? kia một phen cao thấp.
Anh em bọn Phan Thiên Canh nghĩ rằng vì mình mới xảy ra cớ sự, vì thế ngày ngày cưỡi tuấn mã, đi tuần đằng trước đằng sau núi, định bụng sẽ ngăn chặn kẻ dám xưng mình là “cầm kỳ kiếm tam thánh? kia, đánh cho y không vào được đến cửa chùa, rồi sau sẽ trở lại cùng các hòa thượng trong chùa so tài, để cho từ nay ai ai cũng biết Tây Vực Thiếu Lâm giỏi hơn Trung Nguyên Thiếu Lâm. Nào ngờ ở tại thạch đình, Hà Túc Đạo chỉ mới đưa ra một nửa sức lực, đã cho ba anh em thua xiểng liểng.
Thiên Minh thiền sư vừa nghe tin, biết rằng chùa Thiếu Lâm vinh nhục thịnh suy cũng chỉ ở một lúc này, nhưng xét ra võ công của chính mình và Vô Sắc, Vô Tướng ba người vị tất đã hơn được anh em Phan Thiên Canh bao nhiêu, cho nên đành phải mời Tâm Thiền Đường thất lão ra áp trận. Có điều Tâm Thiền thất lão võ công cao thấp mức nào không ai biết được, nhưng trong lúc khẩn cấp có thể ra tay chế ngự được Côn Lôn Tam Thánh chăng, điều đó trong lòng phương trượng và Vô Sắc, Vô Tướng cũng chỉ cầu may thôi.
Lão phương trượng Thiên Minh thiền sư vừa thấy Hà Túc Đạo và Quách Tương? liền chắp tay chào và nói:
– Vị này chắc là người được gọi là Côn Lôn Tam Thánh Hà cư sĩ phải không? Lão tăng không kịp ra xa nghênh đón, xin thứ tội.
Hà Túc Đạo cúi mình hành lễ, nói:
– Vãn sinh Hà Túc Đạo, ba chữ Tam Thánh cuồng danh, nào dám nói đến! Đến đây làm rộn bảo sát, thật lòng không an, nhọc lòng chúng vị cao tăng ra khỏi chùa nghênh đón, quả thực không dám.
Thiên Minh nghĩ thầm: ?Gã cuồng sinh này nói năng chẳng thấy cuồng chút nào. Xem y chỉ độ trên dưới ba mươi, sao có thể vừa ra tay đã đánh bại ba anh em Phan Thiên Canh được?? liền nói:
– Hà cư sĩ không phải khách khí, xin mời vào chùa dùng trà. Còn vị nữ cư sĩ thì ?
Lời nói có chút ngập ngừng tỏ ra khó xử.
Hà Túc Đạo nghe giọng ông có ý cự tuyệt không cho Quách Tương vào chùa, tính ngông cuồng bỗng phát tác, ngửng mặt lên cười lớn, nói:
– Lão phương trượng, vãn sinh đến bảo sát này, vốn là do người khác ủy thác, cốt để nhắn lại một câu thôi. Câu đó nói xong rồi, sẽ phủi tay đi khỏi. Thế nhưng nhà chùa trọng nam khinh nữ, sao thanh qui giới luật ở đâu mà lắm thế, điểm đó vãn sinh xem ra không được vừa mắt. Nên biết Phật pháp vô biên, chúng sinh như nhất, nếu như vọng phân nam nữ chẳng phải tâm còn có chỗ vướng mắc hay sao?
Thiên Minh phương trượng là bậc cao tăng hữu đạo, thiền tâm trong sáng, có lòng bao dung rộng rãi, nghe thấy Hà Túc Đạo nói như vậy, mỉm cười:
– Đa ta cư sĩ chỉ điểm. Chùa Thiếu Lâm chúng tôi cưỡng phân nam nữ, quả thực có điều nhỏ nhen. Như thế thì xin Quách cô nương cùng vào uống trà luôn thể.
Quách Tương nhìn Hà Túc Đạo mỉm cười, thầm nghĩ: ?Miệng anh chàng này khéo thật, chỉ một lời đã thuyết phục được lão hòa thượng?. Thấy Thiên Minh phương trượng đứng tránh qua một bên, đưa tay mời khách, nàng đang toan cất bước tiến vào chùa, bỗng từ bên trái của Thiên Minh bước ra một lão tăng khô gầy, nói:
– Chỉ vì một lời của Hà cư sĩ, khiến cho chùa Thiếu Lâm chúng ta phải bỏ đi một lề luật đã có hàng ngàn năm, tuy không phải là không thể được, nhưng cũng phải xem người nói ra thực có bản sự, hay chỉ được cái hư danh. Xin Hà cư sĩ lưu lại một ngón nghề để chúng tăng chùa này mở mắt, tất cả tâm phục, biết được do ai mà phải bỏ đi thiên niên qui củ.
Người đó chính là thủ tọa Đạt Ma Viện Vô Tướng thiền sư. Tiếng nói của ông oang oang, chứng tỏ trung khí sung túc, nội lực thâm hậu.
Bọn Phan Thiên Canh nghe câu này, mặt hơi biến sắc. Lời nói của Vô Tướng hiển nhiêm hàm ý coi ba người không vào đâu, Hà Túc Đạo tuy đánh bại họ, nhưng thực sự chưa chắc đã có bản lãnh. Quách Tương thấy Vô Sắc thiền sư có vẻ lo âu, nghĩ thầm lão hòa thượng này đối với người thật tốt bụng, lại là bạn của đại ca ca, nếu Hà Túc Đạo vì mình mà tranh chấp với tăng chúng Thiếu Lâm, dù bên nào thua, lòng cũng áy náy, nên cao giọng nói:
– Hà đại ca,? chùa Thiếu Lâm không phải là không vào không xong. Ông chuyển lại câu nói đó đi, rồi chúng ta đi.
Chỉ vào Vô Sắc, nàng tiếp:
– Vị Vô Sắc thiền sư này là hảo bằng hữu của tôi, các vị hai bên đừng để làm tổn thương hòa khí.
Hà Túc Đạo sững người, nói:
– A, hóa ra là thế.
Quay lại nói với Thiên Minh:
– Lão phương trượng, chẳng hay quí tự có một người tên là Giác Viễn thiền sư chăng? Có người ủy thác tại hạ, chuyển một câu nói đến cho vị đó.
Thiên Minh nhỏ giọng hỏi lại:
– Giác Viễn thiền sư?
Giác Viễn ở trong chùa địa vị rất thấp, mấy chục năm ẩn thân nơi Tàng Kinh Các, không ai nghe đến, trước nay chưa ai kèm thêm vào pháp danh của ông ta hai chữ ?thiền sư ? bao giờ, cho nên nhất thời Thiên Minh không nghĩ ra. Ông ngẫm nghĩ giây lát, mới hỏi:
– A, có phải là người làm mất bộ Lăng Già kinh nên mất chức giữ Tàng Kinh Các. Hà cư sĩ tìm y, phải chăng việc có quan hệ đến bộ kinh Lăng Già?
Hà Túc Đạo lắc đầu:
– Tôi? cũng không biết nữa.
Thiên Minh nói với một tên đệ tử:
– Ngươi truyền cho Giác Viễn đến đây gặp khách.
Người đệ tử đó lãnh mệnh hấp tấp đi ngay. Vô Tướng thiền sư lại nói:
– Hà cư sĩ hiệu xưng cầm kiếm kỳ tam thánh, chữ thánh đó người thường chẳng ai dám màng. Ắt là cả ba món Hà cư sĩ đều có tài nghệ quán tuyệt thiên hạ. Hôm trước để thư cho tệ tự, nói là muốn phô bày võ công, hôm nay quang giáng, không lẽ không tứ giáo cho toàn thể chúng tôi được xem tuyệt kỹ.
Hà Túc Đạo lắc đầu:
– Vị cô nương này đã nói rồi, hai bên không nên làm tổn thương hòa khí.
Vô Tướng bừng bừng nổi giận, nghĩ thầm: ?Ngươi để thư gây sự trước, nay việc đến thì lại từ chối, hàng nghìn năm nay, có ai dám vô lễ với chùa Thiếu Lâm như thế bao giờ đâu? Huống chi bọn Phan Thiên Canh đã bị bại dưới tay ngươi, trên giang hồ sẽ truyền ra là đại đệ tử của phái Thiếu Lâm bị thua thì hai chữ kiếm thánh kia càng thêm vang dội? Xem ra trong đám đệ tử không ai có thể là đối thủ của ngươi, đành phải chính mình xuất mã thì mới ổn.? Nghĩ thế ông bước lên hai bước, nói:
– Tỉ thí võ nghệ, chưa hẳn đã tổn thương hòa khí, Hà cư sĩ không nên chối từ.
Rồi quay đầu lại nói với đám đệ tử Đạt Ma Đường:
– Mang kiếm ra. Chúng ta xin lãnh giáo kiếm thuật của ?kiếm thánh?, để xem chữ ?thánh? đó tới bực nào.
Binh khí trong chùa đã chuẩn bị sẵn có điều chư tăng dàn ra nghênh đón khách không tiện mang theo để khỏi mang vẻ nhỏ nhen. Các đệ tử nghe Vô Tướng dặn dò, quay mình trở về chùa, mang ra bảy tám thanh trường kiếm, hay tay bưng đến trước mặt Hà Túc Đạo, nói:
– Hà cư sĩ dùng bảo kiếm chính mình mang theo? Hay mượn binh nhận tầm thường của tệ tự để sử dụng?
Hà Túc Đạo không trả lời, cúi xuống nhặt một viên đá sắc cạnh, đột nhiên vạch ngang, vạch dọc trên nền đá tại trước sân chùa. Chỉ trong khoảnh khắc, y đã vạch ngang dọc mỗi chiều mười chín đường thành một bàn cờ lớn. Đường kinh đường vĩ đều thẳng tắp, tưởng như dùng thước mà đo, mỗi nét đều sâu ngập vào đá khoảng nửa tấc. Phiến đá đó vốn đẽo bằng đá xanh của núi Thiếu Thất, cứng như thép, mấy trăm năm qua biết bao người lai vãng cũng không mòn đi chút nào. Y thuận tay dùng một cục đá vẽ lên mà vào sâu cả tấc, nội công như thế trên đời ít thấy. Chỉ thấy y cười nói:
– Tỉ kiếm e rằng bá đạo, đánh đàn thì không có cách gì mà so tài. Nếu đại hòa thượng cảm thấy cao hứng, chúng ta đánh với nhau một ván cờ xem sao?
Việc y dùng đá vạch thành bàn cờ quả là một tuyệt kỹ kinh người, Thiên Minh, Vô Sắc, Vô Tướng và cả đến Tâm Thiền Đường thất lão ai cũng mặt mày ngơ ngẩn, thầm sợ trong lòng. Thiên Minh phương trượng biết rằng nội lực hồn hậu như thế trong chùa không ai bì kịp, tâm địa ông quang phong tễ nguyệt, đang định mở miệng chịu thua, bỗng nghe tiếng xích sắt loảng xoảng kéo lê trên đất vọng tới.
Chỉ thấy Giác Viễn gánh đôi thùng sắt lớn đi tới trước mặt, theo sau là một thiếu niên cao ráo. Giác Viễn tay trái vịn lấy mép thùng nước, tay phải đơn chưởng chỉ lên trời hướng về Thiên Minh hành lễ, nói:
– Theo lệnh lão phương trượng cho gọi đến.
Thiên Minh nói:
– Vị Hà cư sĩ này có lời muốn nói với ngươi.
Giác Viễn quay người nhìn lại, thấy Hà Túc Đạo nhưng không nhận ra là ai, nói:
– Tiểu tăng là Giác Viễn, cư sĩ có điều gì muốn sai bảo?
Hà Túc Đạo vạch xong bàn cờ, kỳ hứng bột phát, nói:
– Chuyện đó để nói sau cũng không muộn. Bây giờ đại hòa thượng nào cùng ta đánh cờ trước?
Thực ra y không cố ý hiển thị công phu, có điều trong đời đối với ba món cầm kỳ kiếm ham quá hóa mê, mỗi khi hứng tới thì dù có trời sập cũng không coi vào đâu, nên khi muốn đánh cờ chỉ mong có người đối cục, còn quên hết việc tỉ thí võ công.
Thiên Minh thiền sư nói:
– Hà cư sĩ vạch đá thành bàn cờ, thần công như thế, lão nạp từ khi sinh ra chưa thấy bao giờ, tăng chúng trong tệ tự cam chịu hạ phong.
Giác Viễn nghe Thiên Minh nói như vậy, nhìn xuống thấy bàn cờ lớn trên nền đá xanh, biết rằng người này đến đây cốt để phô bày võ công, lập tức xốc lại đôi thùng sắt, hít một hơi, đem hết công lực một đời tu luyện dồn xuống hai đùi, theo những đường vạch của bàn cờ từng bước đi tới.
Chỉ thấy dây xích trên chân ông ta đi đến đâu thì trên phiến đá hiện ra một vết lõm rộng chừng năm tấc, những đường vạch của Hà Túc Đạo bị xóa sạch. Chúng tăng thấy thế không nhịn được đều lớn tiếng hoan hô. Thiên Minh, Vô Sắc, Vô Tướng vừa lạ lùng vừa mừng rỡ, không ngờ vị lão tăng si si ngốc ngốc này lại có nội công thâm hậu đến thế, tuy cùng sống dưới một mái chùa mấy chục năm, mà mình không hề hay biết gì. Bọn Thiên Minh biết rằng nếu chỉ trông vào nội lực của con người thì dù mạnh cách mấy cũng không thể nào đạp lên đá xanh mà in dấu được. Cũng nhờ Giác Viễn gánh thêm đôi thùng sắt đầy nước, tổng cộng phải đến hơn bốn trăm cân. Hơn bốn trăm cân đó từ vai truyền xuống dưới xích sắt ở đôi bàn chân, đi tới chẳng khác gì một cái đục lớn đục lên đá, cào sạch những đường vạch dọc ngang của Hà Túc Đạo. Nếu Giác Viễn chỉ đi chân không, thì không cách nào có thể làm được. Tuy thế, mặc dù có mượn lực thật, nhưng cũng là thần công ít có ở trên đời.
Hà Túc Đạo không đợi cho ông ta xóa hết ba mươi tám đường dọc ngang của bàn cờ, kêu lên:
– Đại hòa thượng, nội công thâm hậu của ông, tại hạ không sao bì kịp.
Đến lúc ấy tuy chân khí trong đan điền Giác Viễn mỗi lúc một thịnh, nhưng hai chân dẫu sao cũng chỉ là thịt da con người, đã cảm thấy đau nhức, nghe Hà Túc Đạo kêu? lập tức ngừng lại, mỉm cười ngâm nga:
Nhất bình tụ thủ tương trí chi, Hà hạ vi cừ phân hắc bạch?
(Một nước cờ đi xem cũng đủ, Đâu cần quyết liệt đến hơn thua) Hà Túc Đạo nói:
– Đúng thế. Cuộc cờ này không cần phải đi quân, tôi dĩ nhiên thua rồi. Để xin lãnh giáo ông về kiếm pháp.
Nói xong nghe xoẹt một tiếng, từ đáy chiếc dao cầm y đã rút ra một thanh trường kiếm, mũi kiếm hướng thẳng về ngực mình, cán kiếm nghiêng nghiêng ra bên ngoài. Chiêu khởi thủ này đã thật quái dị, chẳng khác gì dùng kiếm tự giết mình, trong những kiếm pháp của thiên hạ, chưa từng thấy một chiêu nào kỳ lạ như thế.
Giác Viễn nói:
– Lão tăng chỉ biết niệm kinh đả tọa, quét nhà phơi sách, võ công một chiêu cũng không biết.
Thế nhưng Hà Túc Đạo đời nào lại tin. Y cười khẩy mấy tiếng, tung mình vọt đến, trường kiếm phóng bật ra, mũi kiếm đâm thẳng vào ngực Giác Viễn, xuất chiêu nhanh như thế không một loại kiếm pháp nào bì kịp. Hóa ra chiêu kiếm này không đâm thẳng vào đối phương mà trước hết phải tụ nội lực sau đó gom kình bắn ra. Thế nhưng nội công Giác Viễn đã đến mức tòng tâm sở dục, thu phát tự như, kiếm của Hà Túc Đạo tuy có nhanh, nhưng tâm của Giác Viễn lại động còn nhanh hơn, ý đến đâu thì tay đến đó, thân ý là một. Tay phải ông thu vào, cái thùng sắt lập tức tạt qua che ngay trước mặt, chỉ nghe keng một tiếng, mũi kiếm đã đâm vào cái thùng sắt. Thân kiếm uốn lại, cong thành như chiếc cung. Hà Túc Đạo thu trường kiếm về, thuận tay lại vung ra, thùng sắt bên trái của Giác Viễn tạt qua, chặn lại một lần nữa.
Hà Túc Đạo nghĩ thầm:
– Võ công ông có cao nhưng đôi thùng này nặng nề chậm chạp làm sao có thể đỡ nổi đường khoái kiếm của ta? Giá như ông tay không đối chiêu thì ta còn e ngại ba phần.
Y co tay búng vào thân kiếm một cái, kêu lên u u như tiếng rồng ngâm, kêu lên:
– Đại hòa thượng, xin cẩn thận!
Trường kiếm rung lên, trước sau trái phải, chỉ trong nháy mắt tấn công bốn bốn mười sáu chiêu liền. Chỉ nghe keng keng keng liên tiếp, mười sáu đường ?Tấn Lôi Kiếm? của Hà Túc Đạo đều đâm vào hai chiếc thùng sắt. Người đứng ngoài thấy Giác Viễn tay chân loạng quạng, lạng trái né phải, quả thực hết sức lúng túng, đúng là không biết tí võ công nào. Thế nhưng mười sáu chiêu kiếm của Hà Túc Đạo dù thần diệu đến đâu, đều bị Giác Viễn lấy cái hết sức vụng về, hết sức nực cười dùng thùng sắt đỡ được cả.
Bọn Vô Sắc, Vô Tướng ở bên ngoài không khỏi lo lắng, đều kêu lên:
– Hà cư sĩ kiếm hạ lưu tình.
Quách Tương cũng nói:
– Xin đừng dùng sát thủ.
Mọi người đều thấy Giác Viễn không biết võ, thế nhưng trong trận đấu này, dù Hà Túc Đạo thi triển toàn lực vẫn không làm sao đụng đến đối phương một mảy. Không ai biết rằng vì Giác Viễn chưa học võ bao giờ nhưng có thể đỡ được kiếm chiêu chỉ bởi vì vô tình luyện thành thượng thừa nội công. Hà Túc Đạo tấn kích không thành công, bất thình lình hét lên một tiếng, một ánh lấp lánh, đâm thẳng kiếm vào bụng dưới Giác Viễn. Giác Viễn kêu lên: ?Ối chao? trong cơn bối rối hai tay chập lại, nghe bình một tiếng, hai chiếc thùng sắt đã kẹp cứng thanh trường kiếm. Hà Túc Đạo cố gắng giựt về, nhưng thanh kiếm nào có nhúc nhích. Y ứng biến thật nhanh, lập tức bỏ kiếm, song chưởng cùng đánh ra, chưởng lực như bài sơn đảo hải đánh thẳng vào mặt Giác Viễn.
Lúc ấy Giác Viễn đâu còn tay nào mà đỡ, trong tình thế nguy cấp Trương Quân Bảo nghĩa thầy trò sâu đậm, liền nhảy tới dùng chiêu Tứ Thông Bát Đạt trước đây Dương Quá đã dạy cho y, đánh chéo vào vai Hà Túc Đạo. Cũng lúc đó, nội lực của Giác Viễn truyền vào thùng sắt, hai cột nước từ trong thùng vọt ra, phun thẳng vào mặt Hà Túc Đạo. Chưởng lực và cột nước đụng nhau, nước văng tung tóe khiến hai người đều ướt đẫm, tuy nhiên sức đánh của Hà Túc Đạo cũng tiêu tan.
Hà Túc Đạo đang toàn lực cùng Giác Viễn chiến đấu nên không đỡ được thế đánh của Trương Quân Bảo, chỉ nghe bịch một cái, vai y đã trúng chưởng. Không ngờ Trương Quân Bảo tuổi còn nhỏ nhưng chưởng pháp thật kỳ diệu, nội lực cũng thật thâm hậu, Hà Túc Đạo đứng không vững, phải lao đao đổ về phía trái ba bước. Giác Viễn kêu lên:
– A Di Đà Phật, A Di Đà Phật, xin Hà cư sĩ tha cho. Mấy đường kiếm của cư sĩ làm cho lão tăng sợ hết cả hồn vía.
Vừa nói ông vừa lấy vạt áo lau những giọt nước trên mặt, lui về tránh qua một bên. Hà Túc Đạo giận dữ nói:
– Thiếu Lâm tự là nơi ngọa hổ tàng long, quả thực không vừa. Cả đến một đứa bé con thân thủ cũng đã như thế. Này cậu bé kia, ra đây đấu với ta, nếu ngươi tiếp được mười chiêu, Hà Túc Đạo này suốt đời sẽ không đặt chân vào Trung Thổ nữa.
Vô Sắc, Vô Tướng đều biết rằng Trương Quân Bảo chỉ là một đứa bé tạp dịch trong Tàng Kinh Các, chưa từng luyện qua võ công, không biết trời xui đất khiến thế nào lại đánh trúng y một chưởng, nếu như thực sự động võ, nói gì mười chiêu, chỉ sợ một chiêu cũng đã táng mạng dưới tay Hà Túc Đạo rồi. Vô Tướng ngang nhiên nói:
– Lời nói đó của Hà cư sĩ sai rồi. Tên hiệu ông là Côn Lôn Tam Thánh, võ học chấn cổ thước kim, sao lại động thủ với một thằng bé pha trà quét sân? Nếu như không hiềm, để lão tăng ra tiếp cư sĩ mười chiêu.
Hà Túc Đạo lắc đầu:
– Cái nhục một chưởng vừa rồi, đâu có như thế mà bỏ qua được. Tiểu tử, coi chiêu đây.
Nói xong nghe vù một tiếng, y nhắm ngực Trương Quân Bảo đánh tới một quyền. Quyền đó thế đánh thật nhanh, y và Trương Quân Bảo lại đứng thật gần, Vô Sắc, Vô Tướng muốn cứu viện cũng không sao kịp. Mọi người đều kêu khổ thầm, chỉ thấy Trương Quân Bảo hai gót chân không động, đầu bàn chân lướt sang bên trái, thân mình lại thuận thế nghiêng về bên phải, thành hữu cung tả tiễn bộ, nhẹ nhàng khéo léo tránh được quả đấm, tiếp theo bàn tay bên trái nắm lại thành quyền để bảo vệ bên hông, chưởng bên phải đánh ra, chính là một chiêu quyền pháp cơ bản của phái Thiếu Lâm tên gọi ?Hữu Xuyên Hoa Thủ?. Chiêu đó đánh ra khí ngưng trọng như núi cao, thế hùng hậu như bể rộng sông dài, thực là phong phạm của danh gia kỳ túc, ai dám bảo là thân thủ của một thiếu niên.
Hà Túc Đạo từ lúc bị y đánh trúng một chưởng vào vai, biết rằng thiếu niên này nội lực còn hơn xa bọn Phan Thiên Canh, nhưng tin rằng chỉ mười chiêu sẽ bị đánh bại. Y thấy chiêu ?Hữu Xuyên Hoa Thủ? chỉ là công phu nhập môn của phái Thiếu Lâm, nhưng cách thức phát chưởng chuyển thân, kình lực hùng hồn, thân hình trầm ổn, không chỗ nào sơ hở để có thể phản kích lại, nhịn không nổi phải kêu lên khen ngợi:
– Hảo quyền pháp.
Vô Tướng chợt động lòng, nhìn Vô Sắc mỉm cười:
– Chúc mừng sư huynh ám trung thu được một đệ tử đắc ý.
Vô Sắc lắc đầu:
– Không phải ?
Chỉ thấy Trương Quân Bảo liên tiếp sử ba chiêu Ảo Bộ Lạp Cung, Đơn Phượng Triều Dương, và Nhị Lang Đảm Sam, pháp độ nghiêm nhặt, kình lực vững vàng, không kém bất cứ cao thủ nào trong phái Thiếu Lâm. Thiên Minh, Vô Sắc, Vô Tướng và cả Tâm Thiền thất lão thấy Trương Quân Bảo đánh mấy chiêu của Thiếu Lâm xuất sắc như thế, ai nấy đều kinh ngạc. Vô Tướng nói:
– Quyền pháp của y nghiêm cẩn thì đã đành, nhưng nội công cao như thế ?
Vừa nói đến đây, Hà Túc Đạo đã đánh đến chiêu thứ sáu, bụng nghĩ thầm:
– Đến một thằng bé chưa ráo máu đầu mình chưa đối phó nổi, vậy mà dám đến chùa Thiếu Lâm đưa thư khiêu chiến, chẳng khiến anh hùng trong thiên hạ cười vẹo cả răng ư?
Đột nhiên y chuyển mình vùn vụt, đánh ra chiêu Thiên Sơn Tuyết Tiêu, bốn phương tám hướng bay múa, chỉ nháy mắt đã bao phủ toàn thể thân hình Trương Quân Bảo trong chưởng ảnh. Trương Quân Bảo trừ bốn chiêu do Dương Quá dạy cho trên đỉnh núi Hoa Sơn, chưa được một võ sư nào giảng giải võ công, bỗng dưng thấy hàng trăm hình bóng huyễn ảo, chưởng pháp biến hóa vô cùng, chẳng biết cách nào sách giải. Trong cơn nguy cấp,? y chuyển eo về phía trái thành hàn kê thế, hay tay giơ lên trên trán, hổ khẩu tay trái đối chiếu với hổ khẩu tay phải, đó chính là Song Khuyên Thủ của Thiếu Lâm quyền. Chiêu này nặng nề như núi, chiêu của địch không cần giải mà tự giải được. Bất luận Hà Túc Đạo từ hướng nào tấn công tới, đều vướng vào trong vòng Song Khuyên Thủ của Trương Quân Bảo.
Chỉ thấy tất cả các đệ tử của Đạt Ma Đường, La Hán Đường cùng reo hò như sấm động, bội phục Trương Quân Bảo dùng một chiêu hết sức bình thường không có gì kỳ lạ hóa giải được tất cả những chiêu thức cực kỳ phức tạp, ảo diệu của đối phương.
Trong khi mọi người còn đang reo hò, Hà Túc Đạo bỗng hú lên một tiếng dài, nghe vù một cái, đã nhắm ngực Trương Quân Bảo đánh ra một quyền. Quyền pháp của y đang từ khéo léo chuyển sang vụng về, nhưng kình lực thật là phi phàm. Trương Quân Bảo lập tức dùng chiêu Thiên Hoa Thất Tinh, hai chưởng cùng đánh ra. Quyền chưởng gặp nhau, chỉ nghe bình một tiếng, Hà Túc Đạo thân hình hơi loạng choạng, còn Trương Quân Bảo phải lùi về sau ba bước. Hà Túc Đạo hừ một tiếng, quyền pháp không đổi, nhưng tiến lên hai bước, quyền đánh ra đều hết sức cương mãnh. Trương Quân Bảo lại dùng chiêu Thiên Hoa Thất Tinh hai chưởng đánh tới. Lại nghe bình một tiếng thật lớn, lần này Trương Quân Bảo phải lùi năm bước. Hà Túc Đạo thân mình bổ về phía trước, mặt biến sắc, quát lên:
– Chỉ còn một chiêu nữa, ngươi hãy đem toàn lực ra chống đỡ.
Y tiến lên ba bước, xuống mã bộ thật ổn, một quyền từ từ đánh ra. Lúc ấy toàn thể mấy trăm người trong chùa Thiếu Lâm đều yên lặng không nghe một tiếng động, ai cũng biết rằng quyền này là toàn thể anh danh một đời của Hà Túc Đạo, không thể không kiệt tận toàn lực.
Trương Quân Bảo lại ra chiêu Thiên Hoa Thất Tinh lần thứ ba, nhưng lần này quyền chưởng đụng nhau, vô thanh vô tức, hai người chỉ hơi rung động một chút, rồi thúc đẩy nội lực ra kháng cự. Nói đến võ công gia số,? Hà Túc Đạo phải giỏi gấp trăm lần Trương Quân Bảo. Thế nhưng khi tỉ đấu nội lực, Trương Quân Bảo đã từng học được tâm pháp Cửu Dương Chân Kinh, nội lực liên miên nối kết, hồn hậu tràn ra. Chỉ trong chốc lát, Hà Túc Đạo liệu thế không thể thắng được y, nên tung mình nhảy lên, để chưởng lực Trương Quân Bảo rơi vào khoảng không, lấy tay để vào lưng y đẩy nhẹ một cái. Trương Quân Bảo té lăn ra đất, nhất thời không đứng dậy được.
Hà Túc Đạo xua tay phải, cười khẩy:
– Hà Túc Đạo ơi là Hà Túc Đạo, sao ngươi cuồng vọng đến thế.
Y hướng về phía Thiên Minh thiền sư vái một cái thật sâu, nói:
– Võ công chùa Thiếu Lâm dương danh đã hàng nghìn năm, quả nhiên không phải tầm thường, hôm nay cho kẻ cuồng sinh này được mở mắt, thật đúng là người có thịnh danh không thể là kẻ hư sĩ. Phục thay, phục thay.
Nói xong quay mình, đầu ngón châm điểm một cái, đã vọt ra xa mấy trượng.
Y ngừng lại, quay đầu nói với Giác Viễn:
– Giác Viễn đại sư, người đó nhờ tôi chuyển cáo một câu, nói là: ?Kinh thư ở trong dầu?.
Nói vừa dứt, đầu ngón chân lại điểm mấy cái, trong chớp mắt đã đi thật xa, thân pháp nhanh như thế quả trên đời ít thấy.
Trương Quân Bảo từ từ đứng dậy, mặt mũi, đầu tóc dính đầy bùn đất. Tuy y bị Hà Túc Đạo đẩy ngã, nhưng những cao thủ đều thấy rằng Hà Túc Đạo ăn gian để bỏ đi. Tuy nhiên, trong lời y nói vẫn xác định là không địch nổi thần công của phái Thiếu Lâm.
Một nhà sư già gầy gò trong Tâm Thiền Đường thất lão bỗng hỏi:
– Võ công của đệ tử này ai dạy cho đó?
Thanh âm của ông ta hết sức sắc nhọn, chẳng khác gì tiếng cú kêu trong đêm khuya, người nào nghe thấy cũng không khỏi rùng mình. Bọn Thiên Minh, Vô Sắc, Vô Tướng đều mang cái nghi vấn đó trong lòng, nên cùng hướng về phía Trương Quân Bảo và Giác Viễn. Thầy trò Giác Viễn đứng trơ trơ, nhất thời không sao trả lời được. Thiên Minh nói:
– Giác Viễn nội công tuy tinh thông, nhưng chưa học quyền pháp. Còn Thiếu Lâm quyền của thiếu niên này, do ai dạy cho vậy?
Các đệ tử của Đạt Ma Đường và La Hán Đường đều không ai tưởng nổi nguy nan của bản tự hôm nay, lại do thằng bé đó đứng ra cản được cường địch, lão phương trượng thể nào cũng trọng thưởng, và người dạy y quyền pháp nội công, cũng được vinh sủng.
Vị lão tăng đó thấy Trương Quân Bảo đứng yên không động, bất thần lông mày nhướng lên, mặt đầy sát khí, gay gắt hỏi:
– Ta hỏi ngươi, bài La Hán quyền ai dạy cho ngươi đó?
Trương Quân Bảo từ trong bọc lấy ra đôi la hán bằng sắt Quách Tương tặng cho, nói:
– Đệ tử coi theo tư thức đôi thiết la hán này, tự mình học lấy vài miếng, chứ thực không có ai truyền thụ võ công cả.
Lão tăng đó tiến lên một bước, thanh âm trầm xuống, nói:
– – Ngươi một lần nữa minh minh bạch bạch nói lại là “Bài La Hán quyền này không phải một vị sư phụ nào trong chùa dạy cho, mà chỉ tự học lấy”.
Ông ta tuy hạ giọng, nhưng trong lời nói lại càng uy hiếp thêm. Trương Quân Bảo trong lòng thản nhiên, tự cho rằng mình không làm điều gì xấu xa, tuy lão tăng đó thần thái dồn ép, nhưng cũng không sợ, lớn tiếng nói:
– Đệ tử ở trong Tàng Kinh Các quét nhà, châm trà, hầu hạ Giác Viễn sư phụ, không một ai trong chùa dạy đệ tử võ công. Bài La Hán quyền là do đệ tử tự học, nếu sử không được đúng cách, xin lão sư phụ chỉ điểm.
Vị lão tăng đó mắt như tóe lửa, trừng trừng nhìn Trương Quân Bảo một hồi thật lâu, không nói một lời. Giác Viễn biết rằng vị này trong Tâm Thiền Đường thất lão vai vế thật cao, là sư thúc của phương trượng Thiên Minh thiền sư. Khi thấy ông ta đối với Trương Quân Bảo có vẻ thù hận như thế, không hiểu tại sao, nhưng mắt ông ta chứa đầy oán độc, trong đầu bỗng dưng nảy ra một điều, chẳng khác gì một tia lửa xẹt, nhớ lại một năm xưa vô tình đọc được trong Tàng Kinh Các một cuốn sách nhỏ.
Cuốn sách mỏng đó chép lại một đại sự trong chùa:
Khoảng hơn bảy mươi năm trước, phương trượng chùa Thiếu Lâm là Khổ Thừa, chính là sư tổ của Thiên Minh thiền sư. Trung thu năm đó,? trong chùa có phiên khảo thí hàng năm tại Đạt Ma Đường, do phương trượng cùng hai vị thủ tọa Đạt Ma Đường, La Hán Đường cùng xét võ công các đệ tử, để xem trong năm qua đã tiến bộ đến mức nào. Sau khi các đệ tử biểu diễn xong, thủ tọa Đạt Ma Đường là Khổ Trí thiền sư thăng tọa bình phẩm.
Bỗng nhiên từ trong đám đông, một đầu đà để tóc[2] vượt mọi người tiến ra, lớn tiếng phê bình Khổ Trí thiền sư nói năng chẳng đâu vào đâu, không biết căn bản võ công là gì, vậy mà lại giữ chức thủ tịch Đạt Ma Đường, thật đáng xấu hổ. Chúng tăng ai nấy đều kinh ngạc, nhìn kỹ lại, hóa ra y là một người nhóm lửa nấu ăn trong nhà bếp. Các đệ tử Đạt Ma Đường không đợi sư phụ mở lời, đều lên tiếng quát mắng. Hỏa công đầu đà cũng quát lại:
– Sư phụ thì nói năng bậy bạ, đệ tử chúng bay cũng chẳng ra quái gì!
Nói xong nhảy vào đứng giữa sân. Các đệ tử từng người bước ra cùng y động thủ, đều bị y cho mỗi người vài cú đấm, vài cái đá là thua cả. Thực ra tại Đạt Ma Đường khi đấu với nhau, đồng môn so tài, chỉ tới mức hơn thua là ngừng lại, ai ai cũng thủ hạ lưu tình. Thế nhưng gã hỏa công đầu đà ra tay cực kỳ tàn độc, y liên tiếp đánh bại chín đại đệ tử của Đạt Ma Đường, chín nhà sư đó không gãy tay thì cũng què chân, người nào cũng bị trọng thương.
Khổ Trí thiền sư vừa kinh hãi, vừa tức giận, thấy sở học của gã hỏa công đầu đà toàn là võ công bản môn, chứ không phải cao thủ môn phái khác lẻn vào quấy phá, nên cố nén giận, hỏi y do ai truyền dạy. Gã hỏa công đầu đà đáp:
– Không ai dạy tôi cả, tôi tự học một mình.
Hóa ra nhà sư giám quản bếp Hương Tích tính tình cực kỳ nóng nảy, đối với đầu đà nhóm lửa, hơi sai một tí là giơ quyền thoi ngay. Y thân mang võ nghệ nên mỗi lần đánh rất nặng tay. Gã hỏa công đầu đà trong ba năm liền bị đánh hộc máu ba lần, trong lòng tích oán, nên lén lút học võ. Đệ tử chùa Thiếu Lâm ai cũng biết võ, nếu muốn học lén các chiêu thức, thật rất nhiều cơ hội. Y quyết tâm học để báo thù, lại trí tuệ hơn người, nên sau hơn hai mươi năm đã luyện thành võ công thượng thừa. Tuy nhiên y dấu kín không ai hay biết,? vẫn lặng lẽ ẩn thân dưới bếp chụm lửa, gã tăng nhân giám trù có đánh đập, y cũng không đánh trả, có điều nội công đã tinh nên không còn bị thương nữa. Tên hỏa công đầu đà đó tính tình âm hiểm, đợi tới lúc tin rằng võ công cao hơn hết mọi người trong chùa, nhân kỳ khảo thí Trung Thu mới xuất đầu lộ hiển thân thủ. Uất ức tích trong mấy chục năm nay, khiến y thù hận tất cả mọi tăng nhân, nên khi xuất thủ không một chút dung tình.
Khổ Trí thiền sư hỏi kỹ đầu đuôi xong, cười nhạt ba tiếng, nói:
– Cái khổ tâm của ngươi, quả thật đáng kính.
Lập tức rời ghế đi xuống, ra tay cùng y tỉ thí. Khổ Trí thiền sư là cao thủ của chùa Thiếu Lâm, nhưng phần vì niên kỷ đã cao, còn gã hỏa công đầu đà đang tráng niên, hai nữa Khổ Trí ra tay dung tình, ngược lại hỏa công đầu đà ra chiêu nào cũng đều là sát thủ, thành ra đấu đến hơn năm trăm hiệp, Khổ Trí mới thắng được đối phương. Khi hai người sách đến chiêu Đại Triền Ti, bốn cánh tay xoắn vào nhau, nhưng hai tay của Khổ Trí thiền sư đã ấn vào tử huyệt trên ngực của địch thủ, chỉ cần phát nội lực là hỏa công đầu đà phải táng mệnh, không còn cách gì giải nữa. Khổ Trí thương tình y tiềm tâm tự luyện, nên tới đó là coi như đã xong, không nỡ giết y, hai tay vừa rời nhau, hét lớn:
– Lùi ra ngay.
Nào ngờ hỏa công đầu đà hiểu lầm ý của ông, lại tưởng là đối phương sử dụng một chiêu trong Thần Chưởng Bát Đả. Thần Chưởng Bát Đả là một trong những tuyệt học của phái Thiếu Lâm. Y đã từng xem đại đệ tử của Đạt Ma Đường sử qua chiêu này, hai tay chém ra, đánh gãy một cái cột gỗ, kình lực thật là kinh hồn. Hỏa công đầu đà võ công tuy cao, nhưng đều là học lén, chưa được minh sư chỉ điểm, tuy thời gian có dài, nhưng đâu có thể học được hết phái Thiếu Lâm bác đại tinh thâm. Thực ra chiêu đó của Khổ Trí thiền sư là Phân Giải Chưởng, mượn sức để chế ngự sức, cả hai bên cùng lui ra, có ý ngừng tay thôi không đấu nữa. Nào ngờ hỏa công đầu đà lại tưởng là chiêu? thứ sáu trong Thần Chưởng Bát Đả là Liệt Tâm Chưởng, nghĩ thầm: ?Ngươi định giết ta, đâu có dễ dàng như thế?. Lập tức tung mình nhảy lên, hai chưởng đánh ra một lượt.
Hai chưởng đó như bài sơn đảo hải ào tới, Khổ Trí thiền sư hốt hoảng thu chưởng về đỡ, nhưng không còn kịp nữa. Chỉ nghe lách cách mấy tiếng, xương cánh tay trái? cùng bốn rẻ xương sườn đã bị đánh gãy nát.
Chư tăng đứng bên kinh hoàng biến sắc, lập tức xông lên cứu viện, nhưng Khổ Trí thiền sư chỉ còn thoi thóp, nội tạng đã bị trọng thương, không nói được một lời nào. Nhìn lại tên hỏa công đầu đà thì nhân lúc hỗn loạn đã trốn mất không biết đi đâu. Tối hôm đó, Khổ Trí thiền sư vì bị thương quá nặng nên qua đời. Trong khi cả chùa đang sầu thảm, gã hỏa công đầu đà lại lẻn trở vào, dùng trọng thủ đánh chết nhà sư giám quản Hương Tích trù và năm tăng nhân khác có hiềm khích với y. Cả chùa náo loạn, phương trượng phái vài chục cao thủ đi bốn phương tìm kiếm, nhưng khắp Giang Nam, Giang Bắc, không thấy tung tích y đâu.
Vì việc này mà các nhà sư vai vế cao trong chùa tranh chấp, người nọ đổ lỗi cho người kia. Thủ tọa La Hán Đường là Khổ Tuệ thiền sư giận dữ bỏ đi, khai sáng phái Thiếu Lâm Tây Vực. Ba người Phan Thiên Canh, Phương Thiên Lao, Vệ Thiên Vọng chính là đệ tử tái truyền của Khổ Tuệ thiền sư.
Cũng tại thế mà võ học chùa Thiếu Lâm bị suy đồi suốt mấy chục năm. Từ đó chùa ra qui định rằng, phàm người nào không được thầy truyền thụ mà tự mình học lén võ công, nếu phát hiện ra nặng thì bị xử tử, nhẹ thì cắt hết cân mạch toàn thân cho thành phế nhân. Từ đó tới nay trong chùa phòng phạm nghiêm mật, không ai dám thâu học võ công, nên điều tự qui này dần dần mọi người quên lãng.
Vị lão tăng trong Tâm Thiền Đường này chính là một đệ tử nhỏ của thủ tọa Đạt Ma Đường Khổ Trí thiền sư xưa kia, cái cảnh thảm tử của ân sư mấy chục năm trước vẫn in đậm trong đầu. Bây giờ thấy Trương Quân Bảo lại là kẻ không được thầy truyền mà học lén võ công, nên vừa buồn rầu vừa giận dữ.
Giác Viễn giữ sách tại Tàng Kinh Các, sách nào cũng đọc qua, giật mình nhớ lại câu chuyện này, mồ hôi lạnh chảy ướt đẫm lưng, kêu lên:
– – Lão phương trượng, cái này … cái này không trách Quân Bảo được .
Nói chưa dứt câu, chỉ thấy thủ tọa Đạt Ma Đường Vô Tướng thiền sư quát lớn:
– Tất cả đệ tử Đạt Ma Đường cùng xông lên, bắt thằng nhỏ đó.
Lập tức mười tám tăng nhân đệ tử của Đạt Ma Đường đều tiến lên, vây quanh Giác Viễn và Trương Quân Bảo làm thành một vòng tròn rất lớn, cả Quách Tương cũng bị vây ở bên trong. Vị lão tăng Tâm Thiền Đường lại cao giọng gay gắt tiếp:
– La Hán Đường đệ tử, sao còn chưa hết sức xông lên?
Cả một trăm linh tám đệ tử La Hán Đường cùng cất tiếng đáp, giọng rền vang như sấm:
– Tuân lệnh!
Họ lập tức vây thêm ba vòng nữa bên ngoài Đạt Ma Đường.
Trương Quân Bảo chân tay lúng túng không hiểu vì đâu, cho rằng tại mình ra tay đánh Hà Túc Đạo bỏ chạy, phạm phải tự qui, nên kêu lên:
– Sư phụ, con ?
Giác Viễn hơn mười năm nay đối với đứa học trò chẳng khác gì chính bản thân mình, tình như cha con, biết rằng một khi Trương Quân Bảo bị bắt, nếu không bị giết, thì cũng thành phế nhân. Lại nghe thấy Vô Tướng thiền sư quát tiếp:
– Sao chưa động thủ, chờ đến bao giờ?
Mười tám đệ tử Đạt Ma Đường cùng niệm Phật hiệu, tiến bước đi lên. Giác Viễn không còn suy nghĩ gì nữa, vội đứng tại chỗ quay luôn một vòng, hai chiếc thùng sắt vung ra, một luồng kình phong đẩy những nhà sư không ai dám tiến lên nữa. Giác Viễn lại xoay người hắt nước trong thùng đổ ào ra, rồi tiện thế bên trái múc Quách Tương, bên phải múc Trương Quân Bảo. Ông liên tiếp xoay bảy tám vòng liền, hai chiếc thùng sắt được nội lực hùng hậu vô tỉ truyền vào chẳng khác nào hai chiếc lưu tinh chùy có sức nghìn cân, thiên hạ nào ai dám đỡ. Chúng đệ tử Đạt Ma Đường tứ tán tránh ra.
Giác Viễn bước lẹ như bay, gánh Quách Tương và Trương Quân Bảo chạy thẳng xuống núi. Các tăng nhân miệng hò chân đuổi, chỉ nghe tiếng xích sắt loảng xoảng mỗi lúc một xa, đuổi độ bảy tám dặm, tiếng xích không còn nghe thấy nữa.
Chùa Thiếu Lâm qui luật cực nghiêm, thủ tọa Đạt Ma Đường đã ra lệnh bắt Trương Quân Bảo, tuy các nhà sư thấy đuổi không kịp nữa rồi, nhưng vẫn hết sức rượt theo. Thời gian càng lâu, cước lực càng rõ kẻ nhanh người chậm, những người khinh công kém một chút bị bỏ lại sau. Đuổi đến lúc trời tối, dẫn đầu chỉ còn năm người đại đệ tử, trước mặt lại thấy năm ba ngả đường, chẳng biết Giác Viễn chạy theo đường nào. Đến lúc này, giá như có đuổi kịp thì năm tăng nhân cũng không thể địch lại Giác Viễn và Trương Quân Bảo, nên chỉ còn cách lủi thủi quay về chùa bẩm báo.
Giác Viễn gánh thêm hai người chạy một mạch mấy chục dặm mới ngừng bước. Chỉ thấy nơi ông dừng chân là một vùng núi sâu, mây mù bốn bề, những đàn quạ bay về nườm nượp. Giác Viễn nội lực tuy cao, nhưng qua một trận chạy bán sống bán chết như thế, gân cốt cũng rã rời đến nỗi nhất thời không để đôi thùng sắt xuống được.
Trương Quân Bảo và Quách Tương từ trong thùng nhảy ra, mỗi người đỡ một bên thùng, từ trên vai ông xuống. Trương Quân Bảo nói:
– Sư phụ,? thầy nghỉ một lát, con đi kiếm xem có gì ăn không.
Thế nhưng chỉ thấy bốn bên cỏ mọc đến ngang đầu gối, ở nơi núi sâu hoang vắng thế này, còn có gì mà ăn được. Trương Quân Bảo đi kiếm cả nửa ngày, chỉ hái được? một vốc dâu dại, đem về ba người chia nhau ăn ngấu nghiến rồi dựa lưng vào đá mà nghỉ.
Quách Tương nói:
– Đại hòa thượng, tôi xem các nhà sư chùa Thiếu Lâm, trừ ông và Vô Sắc thiền sư ra, người nào cũng thật là hồ đồ cổ quái.
Giác Viễn chỉ hừ một tiếng nhưng không đáp lời. Quách Tương nói tiếp:
– Gã Côn Lôn Tam Thánh kia đến chùa Thiếu Lâm, trong chùa không ai địch nổi,? chỉ nhờ hai thầy trò ông đánh đuổi được y, mới bảo toàn được danh dự của môn phái. Họ đã không cám ơn ông thì thôi, lại hung hăng định bắt Trương huynh đệ, không phân biệt trắng đen phải trái, thật chẳng có lý do nào hết.
Giác Viễn thở dài một tiếng, nói:
– Việc đó không trách lão phương trượng và Vô Tướng sư huynh được, chùa Thiếu Lâm vốn có một điều tự qui ?
Nói đến đây, hơi bị đứt đoạn, ông ho lên sù sụ. Quách Tương nhè nhẹ đấm lưng cho ông, nói:
– Ông mệt rồi, nằm ngủ một giấc đi, chuyện đó để từ từ kể sau cũng không muộn.
Giác Viễn thở dài:
– Đúng vậy, tôi mệt lắm.
Trương Quân Bảo đi gom một mớ củi, nhóm một đống lửa, để hơ cho khô quần áo của mình và Quách Tương. Cả ba người ngồi dưới gốc cây to mà ngủ.
Quách Tương ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe có tiếng Giác Viễn lẩm bẩm nói một mình, hình như đang niệm kinh, mơ mơ màng màng tỉnh dậy, chỉ nghe ông ta đọc:
– ? bỉ chi lực phương ngại ngã chi bì mao, ngã chi ý nhập bỉ cốt lý. Lưỡng thủ chi tràng, nhất khí quán xuyên. Tả trọng tắc tả hư, nhi hữu dĩ khứ, hữu trọng tắc hữu hư, nhi tả dĩ khứ khứ … (… sức của người vừa mới phớt qua bên ngoài da thịt ta, ý của ta đã vào đến xương của người. Hai tay vừa đụng nhau, một khí đã thông qua rồi. Bên trái nặng ắt bên trái cũng nhẹ, bên phải đã đến rồi, bên phải nặng ắt bên phải cũng nhẹ, bên trái đã đến rồi ) Quách Tương bỗng thấy rùng mình: ?Ông ta không đọc kinh Phật kiểu không tức thị sắc, sắc tức thị không, mà lại gì là tả trọng tả hư, hữu trọng hữu hư, giống như võ học quyền kinh thì phải.?
Thấy ông ta ngưng lại một lát rồi niệm tiếp:
– khí như xa luân, chu thân cụ yếu tương tùy, hữu bất tướng tùy khứ, thân tiện tán loạn, kỳ bệnh ư yêu thoái lai chi ? (khí tựa như bánh xe, tùy chỗ nào trên cơ thể cần mà chạy đến, nếu không tới lui theo ý mình, thân sẽ tán loạn, ắt sẽ bị bệnh ở hông và đùi rồi..) Quách Tương nghe đến câu: ?kỳ bệnh ư yêu thoái lai chi?, trong bụng không còn nghi ngờ gì nữa, biết là ông ta đang đọc những yếu chỉ trong võ học, nghĩ thầm:
– Vị đại hòa thượng này chẳng biết tí võ nào, chỉ vì say mê đọc sách, trong sách có gì, đều coi như thiên kinh địa nghĩa cả. Năm trước gặp ông ta lần đầu trên đỉnh núi Hoa Sơn, đã từng nghe ông ta nói rằng, trên mép lề cuốn kinh Lăng Già do tự tay Đạt Ma lão tổ chép ra, lại có chép bộ Cửu Dương Chân Kinh, ông ta cho rằng đây là kinh thư dạy về thuật giúp người ta được thân thể khỏe mạnh, nên theo đó mà tu tập. Hai thầy trò ông ta không được ai dạy dỗ gì cả, nhưng vô hình chung lại đạt tới mức cao thủ trong thiên hạ. Hồi đó Tiêu Tương Tử đánh ông ta một chưởng, ông chỉ đứng yên mà chịu, vậy mà chính Tiêu Tương Tử lại bị trọng thương, thần công như thế, chưa chắc cha ta hay đại ca ca đã đạt tới được. Hôm nay thầy trò ông ta lại khiến cho Hà Túc Đạo phải cúi đầu bỏ đi, chắc cũng nhờ công lực của Cửu Dương Chân Kinh. Hiện giờ miệng ông ta lẩm bẩm tụng đọc kia, phải chăng chính là bộ kinh đó?
Nàng nghĩ như thế, lại e làm dao động Giác Viễn, chỉ âm thầm ngồi dậy, lắng nghe kinh văn, cố gắng ghi nhớ, tự nhủ:
– Nếu quả thực ông ấy đang đọc bộ Cửu Dương Chân Kinh thì những chỗ ảo diệu tinh vi, không phải chỉ một lúc mà hiểu ngay được. Chi bằng mình cứ ghi nhớ, sau này nhờ ông ta giảng lại cho cũng chưa muộn.
Lại nghe nhà sư già đọc tiếp:
– ? tiên dĩ tâm sử thân, tòng nhân bất tòng kỷ, hậu thân năng tòng tâm, do kỷ nhưng tòng nhân. Do kỷ tắc trệ, tòng nhân tắc hoạt. Năng tòng nhân, thủ thượng tiện hữu phân thốn, xứng bỉ kình chi đại tiểu, phân lý bất thác; quyền bỉ lai chi trường đoản, hào phát vô sai. Tiền tiến hậu thoái, xứ xứ kháp hợp, công di cữu nhi kỹ di tinh ? (trước là dùng tâm để sai khiến thân mình, theo người mà không theo mình, sau sẽ đến lượt thân đi theo tâm, do mình nhưng tùy theo người. Theo mình thì sẽ vướng mắc, do người thì sẽ linh hoạt. Biết theo người thì tay mình có gang tấc, cân đo được sức của người lớn hay nhỏ, một ly một phân cũng không chạy; cân lượng của người dài ngắn, một sợi lông cũng không sai. Lúc trước tiến nhưng sau lại lùi,? mọi chỗ đều ăn khớp với nhau,? công phu càng lâu thì kỹ thuật càng tinh vi..) Quách Tương nghe đến đó, không khỏi lắc đầu, trong bụng nghĩ thầm: ?Sai rồi, sai rồi. Cha mẹ ta thường nói là, khi lâm địch, phải chế ngự người chứ không để người chế ngự mình. Đại hòa thượng này nói không đúng? Lại nghe Giác Viễn tụng tiếp:
– Bỉ bất động, kỷ bất động, bỉ vi động, kỷ dĩ động. Kình tự khoan nhi phi túng, tương triển vị triển, kình đoạn ý bất đoạn ? (người chẳng động thì ta cũng chẳng động. Người vừa hơi động, ta đã động rồi. Kình tưởng như chậm chạp mà không lơi lỏng, sắp buông ra nhưng lại chưa bung, kình đứt rồi nhưng ý chưa đứt ?) Quách Tương càng nghe càng thấy mù mờ, từ nhỏ tới giờ nàng học võ chỉ nghe thấy nói tới việc ra tay trước để chế ngự người, ra tay sau thì bị người ta chế ngự mình (tiên phát chế nhân, hậu phát chế ư nhân) lúc nào cũng cần nhanh nhẹn, lúc nào cũng cần đi trước. Bây giờ nghe Giác Viễn đọc quyền kinh yếu quyết, cái gì mà ?theo mình thì sẽ vướng mắc, do người thì sẽ linh hoạt?, khác hẳn với những gì nàng đã biết, nghĩ thầm: ?Khi gặp địch phải ra tay, hai bên tính mệnh đem ra đánh đổi, nếu như mình cứ bỏ mình, theo người, địch bảo mình bên đông thì mình đi bên đông, bảo mình qua bên tây thì mình qua bên tây, thì có khác gì đứng yên cho người ta đánh??
Nàng còn đang trù trừ suy nghĩ nên những gì Giác Viễn đọc tiếp nàng không nghe thấy, nghe mà không vào. Dưới ánh trăng suông, bỗng thấy Trương Quân Bảo cũng đang xếp bằng lắng tai nghe. Quách Tương nghĩ thầm: ?Không cần biết những gì ông ta đọc đúng hay không đúng, ta cứ ghi nhớ là được. Lão hòa thượng này chấn thương Tiêu Tương Tử, lại dọa cho Hà Túc Đạo chạy dài, đều chính mắt mình trông thấy. Những gì ông ta đọc là pháp môn võ công, ắt phải có lý do cả.? Nghĩ thế nên nàng dụng tâm cố nhớ.
Giác Viễn thuận miệng đọc, chắp chắp nối nối, có lúc lại xen vào vài đoạn kinh Lăng Già, nói về việc Phật tổ trên đảo Lăng Già thuyết pháp trên núi. Nguyên lai bản Cửu Dương Chân Kinh này viết lẫn bên cạnh hay giữa những hàng chữ của cuốn kinh Lăng Già, Giác Viễn đọc sách vốn có điểm hơi lẫn thẫn, cứ thuận miệng mà đọc, nên vì thế cũng đọc luôn cả kinh Lăng Già. Bản kinh Lăng Già này vốn viết bằng chữ Thiên Trúc, Giác Viễn đọc là đọc bản dịch, nên càng thêm lẫn lộn. Quách Tương càng nghe lại càng không mò ra đầu mối, nhưng cũng may là nàng bản tính thông minh, tuy Giác Viễn đọc kinh lẫn lộn qua lại, nàng cũng vẫn nhớ được hai ba thành.
Mặt trăng từ từ chếch về hướng tây, bóng người cũng dần dần dài ra, tiếng tụng kinh của Giác Viễn càng lúc càng nhỏ, âm thanh phát ra mơ hồ không rõ tiếng. Quách Tương khuyên:
– Đại hòa thượng, ông đã mỏi mệt cả ngày rồi, ngủ thêm một giấc nữa đi.
Thế nhưng dường như Giác Viễn không nghe nàng nói, vẫn tiếp tục đọc:
– ? lực tòng nhân tá, khí do tích phát. Hà năng khí do tích phát? Khí hướng hạ trầm, do lưỡng kiên thu nhập tích cốt, chú ư yêu gian, thử khí chi do thượng nhi hạ dã, vị chi hợp. Do yêu triển ư tích cốt, bố ư lưỡng bác, thi ư thủ chỉ, thử khí chi do thượng nhi hạ dã, vị chi khai. Hợp tiên thị thu, khai tiện thị phóng. Năng đổng đắc khai hợp, tiện tri âm dương ? (lực theo người mà mượn, khí do xương sống mà ra. Tại sao khí lại do xương sống mà ra? Khí đi xuống dưới, từ hai vai thu vào trong xương sống, chảy vào eo, khí đó từ trên chạy xuống dưới vậy, nên gọi là hợp. Từ eo chạy vào xương sống, rồi ra hai cánh tay, đi ra tới tận ngón tay, khí đó từ dưới mà chạy lên trên vậy, nên gọi là khai. Hợp nên thu vào, khai nên thả ra. Biết được lẽ khai hợp, tức là biết được âm dương ?) Ông ta càng tụng đọc, thanh âm càng nhỏ dần, sau cùng không còn nghe thấy gì nữa, chắc đã ngủ thiếp đi rồi. Quách Tương và Trương Quân Bảo không dám kinh động, chỉ cố gắng nhớ những kinh văn vừa mới nghe.
Thời gian trôi đi, trăng đã lặn về hướng tây, từ đâu đến các đàn chim bay lại, làm đen cả một vùng. Lại thêm độ tàn một bữa ăn, phương đông trời sáng dần, chỉ thấy Giác Viễn mắt nhắm nghiền, vai xuôi xuống, tĩnh tọa không động đậy, nét mặt trông như đang mỉm cười.
Trương Quân Bảo chợt quay đầu, thấy sau gốc cây có bóng người thấp thoáng, nhưng cũng kịp nhìn thấy một góc áo cà sa màu vàng. Y giật mình kinh hãi, quát lớn:
– Ai đó?
Chỉ thấy một lão tăng gầy cao từ sau gốc cây bước ra, chính là thủ tọa La Hán Đường Vô Sắc thiền sư. Quách Tương vừa mừng vừa lo, hỏi:
– Đại hòa thượng, sao ông nhất định không bỏ cuộc, đuổi tới tận đây? Chẳng lẽ không bắt thầy trò y về chùa không được hay sao?
Vô Sắc nói:
– Thiện tai, thiện tai! Lão tăng biết lẽ phải trái, đâu phải là người chấp nhặt cái qui luật cũ từ đời nảo đời nao? Lão tăng đến đây từ lúc nửa đêm, nếu như muốn động thủ, đâu có chờ đến bây giờ. Giác Viễn sư đệ, Vô Tướng sư đệ chỉ huy tăng chúng trong Đạt Ma Đường đang tìm ở hướng đông, các ngươi mau nhắm thẳng hướng tây mà chạy.
Chỉ thấy Giác Viễn vẫn cúi đầu nhắm mắt, dường như chưa tỉnh. Trương Quân Bảo tiến lên thưa:
– Sư phụ tỉnh dậy đi, thủ tọa La Hán Đường đang nói chuyện với sư phụ đó.
Giác Viễn vẫn không động đậy. Trương Quân Bảo kinh hoảng chạy tới, giơ tay sờ vào trán ông ta, thấy lạnh ngắt, hóa ra đã viên tịch từ lâu rồi. Trương Quân Bảo đau đớn quá, phục xuống kêu lên:
– Sư phụ, sư phụ!
Thế nhưng ông ta làm sao có thể sống lại được. Vô Sắc thiền sư chắp tay hành lễ, đọc một bài kệ:
Chư phương vô vân ế, Tứ diện giai thanh minh.
Vi phong suy hương khí, Chúng sơn tĩnh vô thanh.
Kim nhật đại hoan hỉ, Xá khước nguy thúy thân.
Vô sân diệc vô ưu, Ninh bất đương hân khánh?
(Bốn phương không mây phủ, Mọi mặt đều sáng trong, Gió nhẹ đưa hương tới, Tĩnh lặng núi thinh không.
Hôm nay thật hoan hỉ, Cởi được thân mong manh.
Không giận cũng không lo, Lẽ đâu không chúc khánh?) Tụng xong ông lặng lẽ bỏ đi.
Trương Quân Bảo khóc lóc một hồi, Quách Tương cũng sụt sùi mãi. Tăng chúng chùa Thiếu Lâm khi viên tịch đều hỏa hóa. Cho nên hai người đi kiếm cành khô thiêu pháp thân của Giác Viễn. Quách Tương nói:
– Trương huynh đệ, tăng chúng chùa Thiếu Lâm chắc chưa bỏ qua cho ngươi đâu, ngươi nên hết sức cẩn thận. Chúng ta từ biệt nhau nơi này, sau này có lúc gặp lại.
Trương Quân Bảo gạt lệ đáp:
– Quách cô nương, cô đi đâu? Cho tôi đi theo với được không?
Quách Tương thấy y hỏi mình đi đâu, trong lòng chua chát, nói:
– Ta chân trời góc biển, hành tung không nhất định, chính mình cũng chưa biết đi đâu. Trương huynh đệ, ngươi tuổi còn nhỏ, lại không có chút lịch duyệt giang hồ nào, tăng chúng chùa Thiếu Lâm đang đi tìm bắt ngươi ở hướng đông, chỉ biết thế.
Nàng tháo chiếc vòng đeo tay đưa cho y, nói:
– Ngươi đem chiếc vòng này đến thành Tương Dương kiếm cha mẹ ta, hai ông bà ắt sẽ đối đãi với ngươi tử tế. Chỉ cần ngươi ở với cha mẹ ta thì dù tăng chúng chùa Thiếu Lâm có hung ác đến đâu, cũng không dám đến tìm ngươi làm khó dễ.
Trương Quân Bảo nuốt lệ nhận chiếc vòng. Quách Tương lại nói tiếp:
– Ngươi nói với cha mẹ ta rằng, ta vẫn khỏe mạnh, ông bà đừng mong đợi. Cha ta rất yêu kẻ thiếu niên anh hùng, thấy ngươi là một nhân tài thế này, không chừng sẽ thu ngươi làm đồ đệ. Em trai ta trung hậu thật thà, chắc sẽ thân thiết với ngươi lắm đấy. Chỉ có chị ta tính tình hơi nóng, mỗi khi không vừa ý, ăn nói chẳng nể nang ai. Chỉ cần ngươi ngoan ngoãn vâng lời, thì không sao cả.
Nói xong nàng quay đầu đi thẳng.
Trương Quân Bảo thấy trời đất mênh mông nhưng sao không có chỗ nào cho mình an thân, đứng trước đống tro hỏa táng sư phụ trầm ngâm cả nửa ngày, mới ra đi. Đi được một quãng, chợt quay đầu, gánh đôi thùng sắt sư phụ để lại, thất thểu bước đi. Trong núi rừng hoang vu, một thiếu niên gầy gò lặng lẽ theo hướng tây mà đi, lòng buồn rười rượi, nói sao cho xiết cái cảnh thân cô chiếc bóng, lênh đênh không nhà.
Đi được nửa tháng, đã đến cảnh giới tỉnh Hồ Bắc, không còn cách thành Tương Dương bao xa. Các nhà sư chùa Thiếu Lâm trước sau vẫn không đuổi kịp y chính vì Vô Sắc thiền sư có lòng che chở, cố ý dẫn tăng chúng theo hướng đông mà tìm, thành ra hai bên càng lúc càng xa hơn.
Xế trưa hôm đó y đến trước một ngọn núi lớn, thấy cây cối rậm rạp um tùm, sơn thế cực kỳ hùng vĩ. Hỏi thăm những người dân quanh đó, mới biết núi này tên gọi là Võ Đương. Y ngồi dưới chân núi, tựa lưng vào một hòn đá mà nghỉ, bỗng thấy một đôi nam nữ nhà quê từ con đường nhỏ bên núi đi tới. Hai người sánh vai mà đi, trông thật thân mật, rõ ràng là một đôi vợ chồng trẻ. Người đàn bà vừa đi vừa liến thoắng luôn mồm phiền trách anh chồng. Người đàn ông thì chỉ cúi đầu, lặng thinh không đáp.
Bỗng nghe người vợ nói với chồng:
– Anh là một nam tử hán, đại trượng phu, lại không chịu tự mình làm ăn riêng, lại đến ăn nhờ ở đậu chị và anh rể, nếu không đâu đến nỗi bị nhục nhã như thế. Vợ chồng mình còn mạnh chân khỏe tay, tay làm hàm nhai, dù rau dưa cà muối, cơm cháo qua ngày cũng được, có phải thảnh thơi không? Chứ anh không dám tự lập ở riêng, sinh ra trên đời này cũng uổng.
Người đàn ông ậm ừ mấy tiếng, người đàn bà lại tiếp:
– Người đời có nói rằng, ngoài cái chết ra chẳng có cái gì gọi là lớn hết, chẳng lẽ không nhờ vả người khác không sống được hay sao?
Người chồng nghe vợ dồn cho một trận không dám mở lời đáp lại, cái mặt bành bạnh bây giờ tím lại.
– Những câu nói của người vợ từng chữ len vào tim Trương Quân Bảo: ?Anh là một nam tử hán, đại trượng phu, lại không chịu tự mình làm ăn riêng ? nếu không đâu đến nỗi bị nhục nhã như thế ? Người đời có nói rằng, ngoài cái chết ra chẳng có cái gì gọi là lớn hết, chẳng lẽ không nhờ vả người khác không sống được hay sao??
Y nhìn theo đôi vợ chồng nhà quê, đứng ngơ ngẩn một hồi, trong lòng trăn qua trở lại, nghĩ đến những câu của người đàn bà. Chỉ thấy người đàn ông đứng thẳng người lên, không biết nói mấy câu gì với vợ, mà nghe hai người cười rộ lên, tựa hồ người chồng đã quyết chí tự lập, nên cả hai đều sung sướng.
Trương Quân Bảo lại nghĩ tiếp: ?Quách cô nương có nói rằng, bà chị cô ta tính tình nóng nảy, ăn nói không nể mặt ai nên muốn ta chiều lòng bà ấy. Ta đường đường là một người đàn ông, đâu lẽ phải hạ mình quị lụy người khác, cong lưng uốn gối mong được yên thân. Đến như hai người nhà quê kia còn dám hiên ngang đứng ra ở riêng, ta Trương Quân Bảo lẽ nào lại phải nép mình trong hàng rào nhà người ta, chờ người ta sai bảo.
Y nghĩ tới đó, trong lòng đã quyết nên gánh đôi thùng sắt, trèo lên núi Võ Đương, kiếm một cái hang, khát thì tìm suối, đói ăn trái hoang, chăm chỉ tập luyện Cửu Dương Chân Kinh mà Giác Viễn đã truyền cho.
Vài năm sau, bỗng dưng hiểu ra: “Đạt Ma tổ sư là người Thiên Trúc, dẫu có biết viết chữ Trung Hoa, thì văn lý cũng thô sơ. Bộ Cửu Dương Chân Kinh này văn chương kỳ diệu khúc chiết, người nước khác nhất định không sao viết ra được, hẳn là nhân sĩ Trung Thổ đời sau sáng tác. Có lẽ là tăng lữ của chùa Thiếu Lâm, giả thác tên tuổi Đạt Ma tổ sư , viết trong những mép lề cuốn kinh Lăng Già.?
Cái đạo lý đó, người vốn dĩ tin tưởng hoàn toàn vào kinh điển, không dám thay đổi biến hóa như Giác Viễn không sao hiểu được. Có điều lý lẽ không có gì để chứng minh, Trương Quân Bảo lúc đó tuổi còn nhỏ, cũng không biết chắc là suy định của mình có đúng hay không.
Y được Giác Viễn dạy dỗ đã lâu, bộ Cửu Dương Chân Kinh này mười phần cũng biết được năm sáu, trong mươi năm sau nội lực lại càng tiến bộ. Về sau y lại đọc kỹ Đạo Tạng, tâm đắc được phép luyện khí của đạo gia. Một ngày kia, y tại trong núi nhàn du, ngửng lên xem mây bay, nhìn xuống ngắm nước chảy, cảm thấy sở ngộ nên trở về động suy nghĩ liên tiếp bảy ngày bảy đêm, bỗng nhiên quán thông được cái lẽ nhu khắc cương trong võ học, vui sướng quá, ngẩng mặt lên cười một hồi dài.
Chính tiếng cười đó đã khai sinh ra một vị đại tông sư trước chưa có ai mà sau cũng không ai theo kịp. Những gì y tự mình tìm ra, cộng thêm với lẽ xung hư viên thông của Đạo gia, và nội công của pho Cửu Dương Chân Kinh đã khai sáng ra nền tảng cho võ công của phái Võ Đương mà nghìn năm sau vẫn còn chói lọi.
Về sau y du ngoạn phương Bắc đến vùng Bảo Minh, nhìn thấy ba ngọn núi tú lệ hùng vĩ, ?vươn lên đâm vào mây, lại nhân đã sở ngộ về võ học nên tự đặt cho mình tên hiệu Tam Phong. Đó chính là kỳ nhân Trương Tam Phong trong lịch sử võ học của Trung Quốc.
[1] Áo may bằng từng mảnh vải vuông ghép lại với nhau của nhà sư có địa vị cao [2] người đi tu nhưng không cạo đầu

Hết tập 2

*********************************************************************************************************************
chieu
TẬP 3:

BẢO ĐAO BÁCH LUYỆN SINH HUYỀN QUANG

Lửa hồng nung đốt trăm lần nóng, Đen sì đao cứng vẫn trơ gan.
Tráng sĩ nguy nàn đâu nhụt chí, Dẫu đành một thác chẳng than van.
Hoa nở rồi hoa tàn, hoa tàn hoa lại nở, người thiếu niên năm nào nay đã già, cô gái hồng nhan kia tóc mai cũng đã bạc. Năm đó là năm Chí Nguyên thứ hai đời Nguyên Thuận Đế, nhà Tống đã bị diệt vong hơn năm chục năm rồi.
Lúc đó chính vào tháng ba cuối mùa xuân, ở bờ biển Giang Nam có một tráng sĩ ước chừng ba mươi tuổi chân đi giày cỏ mặc áo màu lam, đang rảo bước trên đường cái, thấy trời đã xế chiều, tuy hai bên đường đầy đào hồng, liễu xanh, xuân sắc đang độ tốt tươi nhưng chàng không tâm trí đâu mà thưởng ngoạn, trong đầu chỉ tính toán thầm: “Hôm nay đã là hai mươi bốn tháng ba, đến mồng chín tháng tư chỉ còn mười bốn ngày, đường đi không có gì trở ngại thì mới kịp ngày giờ về núi Võ Đương chúc mừng đại thọ chín mươi của ân sư.”
Tráng sĩ đó họ Du, tên Đại Nham, là đệ tử thứ ba của tổ sư phái Võ Đương Trương Tam Phong. Đầu năm đó, chàng vâng lệnh thầy xuống Phúc Kiến tiêu diệt một bọn giặc cướp không việc ác gì không làm, chuyên tàn hại lương dân. Tên đầu đảng nghe tin, lập tức trốn mất, Du Đại Nham phải mất hai tháng trời mới tìm ra được sào huyệt bí mật của y, tiến đến khiêu chiến, sử dụng Huyền Hư đao pháp của thầy truyền cho, đến chiêu thứ mười một mới giết được tên giặc. Lúc đầu chỉ định mười ngày là xong, nhưng lại mất đến hơn hai tháng, bấm đốt ngón tay, kỳ hạn đại thọ chín mươi của sư phụ chẳng còn bao xa, nên vội vàng từ Phúc Kiến quay về, hôm nay đã đến phía nam sông Tiền Đường ở vùng Triết Đông.
Chàng rảo bước một hồi, con đường hẹp lại, nhìn thấy một bên là biển cả, có những khoảng đất bằng sáng loáng như gương, mỗi mảnh chừng bảy tám trượng vuông, nếu thực là do nước biển bào mòn mà thành sao lại nhẵn đến thế. Du Đại Nham đã đi khắp mọi miền Giang Nam, Giang Bắc, kiến văn cũng rộng, nhưng chưa thấy cảnh lạ đó bao giờ, hỏi thổ dân, không khỏi bật cười, hóa ra đó là những ruộng muối.
Nơi đây dân chúng dẫn nước từ biển vào ruộng, phơi cho khô bớt, nước mặn đó lại dẫn vào ruộng khác, mỗi lúc một mặn thêm, sau cùng mới khô còn lại muối hột. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Ta ăn muối ba mươi năm, nhưng chưa biết để làm được một hạt muối, phải nhọc nhằn đến thế.?
Chàng đang đi bỗng thấy từ con đường nhỏ phía tây một bọn chừng hơn hai chục người đang gánh đồ đi rảo bước. Du Đại Nham liếc mắt để ý, thấy cả bọn đều mặc quần áo ngắn màu xanh, đầu đội nón rộng vành, hai bên quang đều là muối cả. Chàng biết rằng hiện nay chính sách hà khắc, thuế đánh vào muối rất cao, nên tuy ở ngay cạnh bờ biển, dân chúng cũng không được ăn muối quan, mà phải đi mua lén của dân buôn muối lậu. Bọn người này hành động nhanh nhẹn, táo tợn, thân thể rắn chắc, xem chừng là một bọn buôn lậu. Trên vai họ cũng không phải là đòn gánh bằng tre hay bằng gỗ vì không thấy nhún nhẩy chi cả, trông đen sì đúng là đòn gánh bằng sắt. Mỗi người phải gánh ít ra cũng hai trăm cân nhưng đi rất nhanh. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Bọn diêm kiêu này ai cũng có võ. Nghe nói ở Giang Nam, phái Hải Sa độc quyền muối lậu, thanh thế rất lớn, trong môn phái này không ít những tay danh gia võ học. Thế nhưng có đến hai mươi hảo thủ cùng ở một đoàn gánh muối lậu đi bán thì thật không hợp lý chút nào.?
Giá như bình thời, ắt là chàng sẽ đi theo dọ thám, nhưng lúc này đang phải tính chuyện chúc thọ sư phụ chín mươi, không hơi đâu mà mua chuyện thiên hạ. Nghĩ thế chàng lại rảo bước đi.
Chiều hôm đó, Du Đại Nham đã đến huyện Dư Diêu, trấn Am Đông. Từ đây chỉ qua sông Tiền Đường là đến Lâm An, rẽ qua hướng tây đi về phương bắc, qua Giang Tây, Hồ Nam là đến Hồ Bắc, địa phận núi Võ Đương. Trời đã tối không có thuyền sang sông, chàng chỉ còn cách ở lại Am Đông, kiếm một tiểu điếm trọ qua đêm.
Ăn cơm chiều xong, Du Đại Nham rửa chân toan lên giường nằm, bỗng nghe trong quán có tiếng lao xao, một đám người vào thuê phòng. Nghe giọng thấy họ là người Triết Đông, nhưng trung khí sung mãn, hiển nhiên đều là nội gia, chàng thò đầu ra xem, hóa ra chính là bọn buôn muối lậu gặp trên đường cái. Du Đại Nham không để ý, ngồi xếp bằng trên giường, hành công đủ ba lần, rồi mới nằm xuống ngủ.
Ngủ đến giữa đêm, bỗng nghe phòng bên cạnh có tiếng lách cách nhè nhẹ, Du Đại Nham lập tức tỉnh dậy. Chỉ nghe thấy một người hạ giọng nói:
– Anh em mau mau ra đi, đừng kinh động đến người khách ở phòng bên cạnh, thêm phiền ra.
Mọi người tất cả nhè nhẹ mở cửa phòng, đi ra ngoài. Du Đại Nham nhìn qua khe cửa, thấy đám diêm kiêu đã gồng gánh đi ra cửa, nhớ đến câu kẻ kia nói: ?đừng kinh động đến người khách ở phòng bên cạnh, thêm phiền ra? nghĩ thầm: ?Bọn buôn muối lậu này lén lén lút lút, hẳn là đang tính làm điều gì sai quấy, nên mới sợ mình trông thấy, không thể bỏ qua. Nếu có ngăn bọn họ làm điều thương thiên hại lý, cứu được một hai mạng người lương thiện, dù cho có lỡ tiệc thọ ngàn tuổi của ân sư, thì lão nhân gia chắc cũng vẫn vui lòng.? Chàng đeo túi đựng binh nhận, ám khí lên lưng, vượt cửa sổ, nhảy qua tường ra ngoài.
Chỉ nghe thấy tiếng chân người đi về hướng đông bắc, chàng thi triển khinh thân công phu, lặng lẽ đuổi theo. Đêm đó mây đen đầy trời, ánh trăng không có, trong bóng đêm dày đặc, thấp thoáng bóng hai chục tên buôn muối lậu gánh hàng chạy trên những bờ ruộng, Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Bọn buôn lậu ban đêm gánh hàng chạy thì cũng là chuyện thường tình. Thế nhưng những người này thân thủ bất phàm, nếu muốn làm chuyện phi pháp, chẳng nói chi trộm cướp nhà giàu, có đến vào công khố ăn cướp, quan binh cũng chưa chống nổi, việc gì phải lén lén lút lút đi buôn muối, kiếm chút lợi nhỏ? Ắt hẳn bên trong có chuyện gì khác.”
Chỉ chưa đầy nửa giờ, bọn buôn lậu đã chạy trên hai chục dặm, nhưng Du Đại Nham khinh công rất cao, bước chân không một tiếng động, bọn kia lại chừng như có chuyện gì gấp, chỉ để ý đến lộ trình trước mặt, không quay đầu lại, nên chẳng hề phát giác. Lúc đó họ đã đến ven biển, tiếng sóng vỗ vào đá ỳ ào không dứt.
Đang trên đường đi, bỗng nghe tiếng tên đầu lĩnh huýt một tiếng còi nhỏ, cả bọn đều đứng lại. Tên chỉ huy hỏi nhỏ:
– Ai thế?
Trong bóng tối có tiếng một người khàn khàn:
– Có phải các bạn là nhóm ?ba chấm thủy? chăng?
Người đầu lĩnh đáp:
– Chính thế. Các hạ là ai?
Du Đại Nham thắc mắc: ?Nhóm ?ba chấm thủy? là bọn nào thế nhỉ?? Nhưng chỉ một thoáng chàng chợt nghĩ ra: ?Ồ, quả nhiên là phái Hải Sa. Ba chữ phái Hải Sa có ba chấm thủy ở bên cạnh. Tiếng người khàn khàn lại nói tiếp:
– Vụ đao Đồ Long, ta khuyên các người đừng nhúng tay vào.
Tên đầu lĩnh nói:
– Tôn giá cũng vì đao Đồ Long mà đến đấy ư?
Âm thanh dường như có vẻ vừa tức giận, vừa sợ hãi. Trong đêm tối chỉ nghe mấy tiếng cười khẩy ?hắc hắc hắc? nhưng không nghe người kia trả lời.
Du Đại Nham náu mình sau những tảng đá ở ven biển, trườn đến phía trước, chỉ thấy một người đàn ông thân hình cao gầy đứng chắn trên đường. Vì trời tối nên không nhìn rõ mặt y, chỉ thấy y mặc một chiếc áo bào trắng, đi đêm mà mặc áo trắng hẳn phải tự phụ võ công của mình có chỗ hơn người.
Người đầu lĩnh phái Hải Sa nói:
– Thanh đao Đồ Long đó đã thuộc về bản phái, nhưng bị người ta lấy trộm mất, nay phải đi đòi lại.
Gã áo trắng lại cười khẩy ?hắc hắc hắc? ba tiếng nhưng vẫn nghênh ngang đứng chắn đường. Từ phía sau tên đầu lĩnh một người gằn giọng quát lên:
– Mau tránh ra, quân chó dữ chặn đường kia, bộ ngươi muốn chết hay sao ?
Y chưa dứt lời, đột nhiên ?A? lên một tiếng thảm khốc, ngã lật người ra sau. Mọi người kinh hãi, chỉ thấy trong bóng đêm, tà áo trắng thấp thoáng, người khách chắn đường không còn thấy đâu nữa.
Bọn buôn muối phái Hải Sa nhìn lại tên đồng bọn ngã dưới đất, chỉ thấy y nằm còng queo, hiển nhiên đã chết rồi. Ai nấy đều vừa sợ vừa tức, có mấy người bỏ quang gánh xuống theo hướng người áo trắng đuổi theo, nhưng y chạy nhanh quá, trời tối còn làm sao kiếm ra được nữa.
Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Gã này ra tay nhanh thực, ngón trảo đó dường như là Đại Lực Kim Cương Trảo của phái Thiếu Lâm. Tuy nhiên trời tối, ta không nhìn rõ. Nghe giọng nói của người này thì có vẻ từ quan ngoại mạn tây bắc đến. Không ngờ phái Hải Sa kết hạ oán cừu xa đến như thế.?
Chàng thu mình sau những tảng đá, không dám cử động, sợ bọn người phái Hải Sa phát giác, sẽ thêm rắc rối. Lại nghe gã đầu lĩnh nói:
– Hãy đem thi thể lão tứ để qua một bên, khi về hãy mang đi, sau này thể nào mình cũng tìm ra y là ai.
Cả bọn đáp lời, lại mang gánh lên, chạy về phía trước.
Du Đại Nham đợi bọn họ đi một quãng xa mới đến xem thi thể, thấy cổ họng có hai cái lỗ nhỏ, máu tươi vẫn còn chảy ra không ngừng, hiển nhiên là bị ngón tay đâm thủng. Chàng biết việc này có nhiều điều khác thường, nên gia tăng cước bộ, cố đuổi theo cho kịp bọn diêm kiêu. Đoàn người lại đi thêm vài dặm nữa, gã đầu lĩnh huýt một tiếng còi, cả hai mươi người đều dàn ra, hướng về phía một tòa nhà lớn ở mạn đông bắc chầm chậm tiến tới. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Bọn họ nói gì Đồ Long đao, chẳng lẽ ở trong cái nhà này sao??. Chỉ thấy từ cái ống khói của căn nhà đó một cột khói bốc thẳng lên, tụ lại một hồi mới tan. Bọn diêm kiêu bỏ quang gánh xuống, mỗi người cầm một cái gáo, múc cái gì đó trong thúng, rải ra khắp bốn bề. Du Đại Nham nhìn thấy họ rắc một loại phấn trắng như tuyết, rõ ràng là muối biển, nghĩ thầm: ?Họ rắc muối trên đường làm gì thế nhỉ? Thật là kỳ lạ, mai này mình có kể cho sư huynh đệ nghe, chắc họ không tin đâu.?
Du Đại Nham thấy họ rắc muối rất chậm chạp, kỹ lưỡng, hình như sợ muối đó dính vào mình, chàng liền vỡ lẽ, biết rằng muối này có chất kịch độc, đám người đó đem rải chung quanh, hẳn có ý đồ ám hại người trong nhà nên tính trong bụng: ?Mình chẳng biết hai bên bên nào phải bên nào trái, nhưng bọn này hành sự lén lút, không quang minh chút nào. Mình phải bằng mọi giá thông tri cho người trong nhà, để họ khỏi bị bọn tiểu nhân này ám hại.? Chàng thấy phái Hải Sa vẫn còn đang rắc phía trước nhà nên đánh một vòng thật lớn đi ra phía sau, nhẹ nhàng nhảy qua tường vào bên trong.
Căn nhà đó lớn trước sau cả thảy năm khu, có đến ba bốn chục gian phòng, trong nhà lại tối mò không đèn đuốc gì cả. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Khói đen từ giữa một khu nhà bay lên, nơi đó ắt là có người.? Ngẩng lên nhận định rõ khu vực khói bốc ra, rảo bước đi tới, nghe thấy trong phòng có tiếng lửa cháy bừng bừng, củi kêu tí tách. Chàng đi vòng qua một bức tường ngang, thì vào được vào chính sảnh, bỗng thấy sáng lòa, một làn hơi nóng phả vào mặt. Giữa phòng là một cái lò lớn xây bằng đá, lửa bừng bừng bốc lên cao, chung quanh có ba người đứng, mỗi người kéo một cái bễ, thổi lửa vào lò. Trong lò là một thanh đơn đao đen sì, dài ước chừng bốn thước.
Ba người đó đều mặc áo bào xanh, khoảng sáu chục tuổi, đầu tóc đầy tro, trên áo dài cũng lỗ chỗ đầy vết thủng do tàn lửa bắn vào. Chỉ thấy ba người cùng ra sức thổi bễ, lửa lên cao đến năm thước, bao phủ lấy thanh đao, phát tiếng vù vù. Chỗ Du Đại Nham đứng phải cách cái lò đến mấy trượng nhưng cũng còn thấy nóng đủ biết lửa trong lò lợi hại đến bực nào. Ngọn lửa từ đỏ biến thành xanh, từ xanh thành trắng, nhưng thanh đao đó vẫn nguyên một màu đen, chưa thấy đỏ một tí nào.
Vừa khi đó, trên mái nhà có tiếng người khàn khàn nói:
– Làm hư hại thanh bảo đao, thật là thương thiên hại lý, mau ngừng lại!
Du Đại Nham nghe tiếng, biết ngay là người khách áo trắng gặp trên đường cái đã đến. Ba ông già đang quạt lò nung đao kia dường như không nghe, lại càng kéo bễ nhanh hơn. Lại nghe thấy từ mái nhà ba tiếng cười nhạt ?hắc hắc hắc?, phía trước nghe một tiếng cạch, gã áo trắng đã nhảy vào.
Lúc đó lửa trong lò đang phừng phừng nên Du Đại Nham nhìn rõ. Người áo trắng ước chừng trên dưới bốn mươi, mặt tái mét, ẩn ẩn màu xanh, hai tay không, lạnh lùng nói:
– -???? Trường Bạch Tam Cầm, tưởng các ngươi chiếm đoạt bảo đao đã quá lắm rồi, lại còn dám lớn mật đem lửa nung bảo vật?
Nói xong y tiến lên phía trước.
Ông già phía tây lao tới vươn tay trái ra, chộp vào mặt người áo trắng. Người khách lách đầu sang một bên, tiến lên một bước nữa. Ông già phía đông thấy y tới gần mình, cầm ngay cái búa sắt lớn dựng bên cạnh lò, nghe vù một tiếng, nhắm ngay đầu gã áo trắng nện xuống. Bạch bào khách hơi nghiêng người, búa sắt giáng vào khoảng không, nghe bình một tiếng, lửa bắn tóe ra như sao sa, hóa ra nền nhà không phải là đá xanh mà là đá hoa cương cứng dị thường. Ông già phía tây lại tấn công từ bên hông, hai tay cong cong như chân gà, nhảy lên hụp xuống, thế đánh thật là lợi hại.
Du Đại Nham thấy gã áo trắng ra chiêu võ công hiển nhiên thuộc phái Thiếu Lâm, nhưng xuất thủ rất âm độc tàn nhẫn, khác hẳn lối cương mãnh nhưng chính đại quang minh của danh môn. Đấu được vài hiệp, ông già cầm búa quát lên:
– Các hạ là ai? Muốn chiếm bảo đao này, hãy để tên lại.
Người áo trắng chỉ cười khẩy mấy tiếng, không trả lời. Chỉ thấy y xoay mình một cái, hai tay chộp ra, nghe hai tiếng lách cách, hai cổ tay ông già phía tây đã gãy lìa, cái búa trong tay ông già phía đông cũng tuột ra, văng thẳng lên trời, phá vỡ mái nhà, rơi xuống trở lại, nghe bình một tiếng thật lớn. Lão già đó lập tức cúi mình nhặt một chiếc kìm, đưa ngay vào lò kẹp thanh đơn đao.
Ông già đứng ở phía nam tay cầm ám khí lăm lăm chờ cơ hội đả thương địch thủ, nhưng thấy gã áo trắng nhanh nhẹn dị thường, chưa kịp ra tay, bỗng thấy ông già phía đông dùng kìm kẹp thanh bảo đao, lập tức thò tay vào lò, cầm cán đao trước, lôi luôn ra ngoài. Y vừa cầm vào cán đao, một luồng khói trắng lập tức bốc lên, mọi người ngửi thấy mùi khét lẹt, bàn tay y đã bị cháy phỏng. Thế nhưng y không chịu buông, cả người lẫn đao nhảy vọt về sau, nghe bịch một tiếng, ngã lăn ra đất. Tay trái y vươn ra, đỡ vào sống đao, bấy giờ mới đứng lên được, xem chừng thanh đao đó quá nặng, một tay cầm không nổi, nhưng cũng vì thế bàn tay trái y cũng bị cháy nghe xèo xèo.
Mọi người ai nấy kinh hãi, còn đang ngơ ngẩn, chỉ thấy ông già đó hay tay múa thanh đơn đao, chạy thẳng ra ngoài. Người áo trắng cười nhạt:
– Đâu có dễ dàng như thế?
Cánh tay y vung ra, đã chộp vào giữa lưng ông già. Ông già đó xoay người, thuận tay chém lại một nhát. Lưỡi đao chưa tới, hơi nóng đã phà vào mặt, tóc râu, lông mày người áo trắng đã quăn cả lại. Y không dám đỡ, kình lực trên tay đẩy ra, ném ông già cả người lẫn đao vào trong lò lửa.
Du Đại Nham thấy bọn người đó ai ai cũng hung ác, chuyện không liên quan gì đến mình nên chẳng muốn ra tay. Thế nhưng lúc này mạng ông già chỉ trong đường tơ kẽ tóc, chỉ cần rơi vào lò, thì sẽ thành tro ngay. Chàng thấy cứu người là việc khẩn cấp, lập tức tung mình nhảy lên, vừa xoay người vừa lắc mình một cái, giữa không trung thò tay ra, chụp lấy búi tóc của ông già nọ, nhẹ nhàng khéo léo rơi sang một bên.
Người áo trắng và Trường Bạch Tam Cầm vốn đã thấy chàng đứng ở một bên, từ trước đến giờ không làm gì, đột nhiên thi triển khinh công thượng thừa, cả bọn đều kinh hãi. Bạch bào khách nhướng đôi lông mày, hỏi:
– Thân thủ đó có phải là ?Thê Vân Túng? mà thiên hạ hằng nghe danh chăng?
Du Đại Nham thấy y nói lên được tên của lộ khinh công mình vừa sử dụng, lúc đầu hơi kinh hoảng, nhưng sau trong lòng không khỏi đắc ý: ?Công phu của phái Võ Đương chúng ta quả danh dương thiên hạ, chấn động đến tận nơi xa xôi.? Chàng liền đáp:
– Không dám, xin thỉnh giáo quí tính đại danh của tôn giá? Chút công phu nhỏ nhặt của tại hạ có gì đáng nói đâu.
Gã áo trắng nói:
– Hay lắm, hay lắm. Khinh công của phái Võ Đương quả nhiên cũng có đôi phần đáng kể.
Khẩu khí của y nghe thật ngạo mạn. Du Đại Nham trong lòng tức giận, nhưng không nổi nóng, nói:
– Trên đường đi, tôn giá vừa giơ tay là đã giết ngay một cao thủ của phái Hải Sa, công phu thần xuất quỉ một như thế, khiến cho không ai biết đâu mà đo lường.
Người đó hơi giật mình, nghĩ thầm:
– Việc đó quả nhiên ngươi đã trông thấy, vậy mà ta lại không thấy ngươi. Không biết khi đó gã tiểu tử này ẩn náu ở chỗ nào?
Y liền lạnh lùng đáp:
– Không sai. Môn võ công đó của ta, người ngoài không dễ gì lãnh hội. Không nói các hạ mà cả đến ông già họ Trương chưởng môn của phái Võ Đương, cũng chưa chắc đã hiểu nổi.
Du Đại Nham nghe gã áo trắng làm nhục cả đến ân sư làm sao nhịn nổi. Tuy nhiên, đệ tử phái Võ Đương trước nay vẫn coi trọng việc tu tâm dưỡng tính, chàng nghĩ thầm: ?Y cố ý khiêu khích, không biết bên trong còn có ý định gì? Người này công phu quái dị, không nên vì một vài câu nói mà bản môn phải có thêm một cường địch.? Bèn mỉm cười:
– Võ công trong thiên hạ vô cùng vô tận, chính phái tà đạo, hàng nghìn hàng vạn, sở học của phái Võ Đương chỉ là một hạt nước trong biển cả. Công phu của tôn giá, giống Thiếu Lâm mà không phải Thiếu Lâm, e rằng bản sư cũng không biết được.
Câu đó nghe có vẻ khách khí, nhưng bên trong hàm nghĩa là phái Võ Đương không thèm biết đến võ công của bọn bàng môn tả đạo. Người đó nghe thấy câu ?giống Thiếu Lâm mà không phải Thiếu Lâm? lập tức biến sắc.
Trong khi hai người ngôn ngữ châm chọc đối lại với nhau thì thanh đao nóng hừng hực ấy đã cháy hết thịt da, ăn vào tới xương ông già ở phía nam rồi. Hai ông già ở phía đông và phía tây vẫn khom mình thủ thế, đang tìm cơ hội đoạt lại thanh đao. Đột nhiên nghe một tiếng vù, ông già phương nam lại huy động đơn đao chạy ra ngoài lần nữa. Y múa đao, tuy không chủ ý chém ai nhưng Du Đại Nham đang đứng chắn lối, nên đao đó chém chàng trước hết. Du Đại Nham không ngờ mình vừa mới cứu ông ta thoát chết, nay y lại ra tay ngay với mình, vội vàng nhảy lên tránh khỏi đường đao.
Ông già đó hai tay cầm thanh đao như điên như cuồng chém lung tung, vượt được ra ngoài. Gã áo trắng và hai người kia đều sợ đao thế hung hiểm không ai dám cản, chỉ luôn mồm kêu gào, đuổi theo sau. Ông già cầm đao loạng choạng chạy ra khỏi cửa, bỗng thấy chân vấp một cái ngã nhào về trước, chỉ nghe một tiếng kêu thảm thiết, hình như đột nhiên bị trọng thương.
Gã áo trắng và hai ông già kia lập tức nhảy tới, cùng giơ tay cướp thanh đơn đao, nhưng cả ba cùng kêu lên một lượt, tưởng như dưới đất có rắn độc, quái trùng gì cắn phải. Gã áo trắng chỉ loạng choạng rồi gượng lại được, chạy thẳng ra ngoài, còn ba ông già thì lăn lộn dưới đất, không sao đứng lên nổi.
Du Đại Nham nhìn thấy thảm trạng đó, toan nhảy ra cứu người, bỗng giật mình, nhớ đến việc phái Hải Sa rắc muối độc bên ngoài tòa nhà, biết là chung quanh đều là độc diêm, mình không còn cách gì chạy ra được. Chàng nhìn quanh bốn bề, thấy bên trong cánh cửa có dựng mấy chiếc ghế dài, vội thò tay dựng hai chiếc, nhảy lên mỗi chân một bên dùng như cà khêu đi ra cửa. Thấy ba ông già kêu la thảm thiết, không ngừng lăn qua lộn lại, Du Đại Nham dùng một miếng giẻ lót tay, chộp vào hậu tâm ông già cầm đao, lênh khênh chạy ra hướng đông.
Việc xảy ra ngoài ý của bọn người phái Hải Sa, tuy trông thấy nhưng không ngăn kịp, vội tứ tán đuổi theo, kêu la om sòm, cương tiêu tụ tiễn, cùng khoảng một chục món binh khí khác đều nhắm sau lưng Du Đại Nham ném tới.
Du Đại Nham sử kình vào hai chân, đẩy mạnh vào hai chiếc ghế, vọt ra xa hơn một trượng, ám khí đều rơi vào khoảng không. Hai chân chàng móc vào hai chiếc ghế thành thử dài thêm mấy thước nên chỉ chạy bốn năm bước là đã bỏ bọn người phái Hải Sa một quãng xa. Nghe thấy tiếng người rầm rập đuổi theo, Du Đại Nham một mặt nhắc ông già kia nhảy lên, đồng thời đá mạnh hai chiếc ghế vọt về phía sau. Chỉ nghe hai tiếng bình bình, lại có ba bốn người kêu la, hiển nhiên đã bị ghế văng trúng. Vì trở ngại này, Du Đại Nham chạy thêm được mươi trượng nữa, trong tay tuy cầm thêm một người, nhưng càng lúc càng xa, phái Hải Sa không sao đuổi kịp.
Du Đại Nham chạy một hồi nghe thấy tiếng sóng ỳ ào, đằng sau không còn ai đuổi theo, mới hỏi:
– Ông thấy sao?
Ông già đó chỉ hừ một tiếng nhưng không trả lời, rồi lại rên rỉ. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Người y dính đầy muối độc, phải rửa sạch y trước đã.? Chàng chạy xuống bãi biển, kiếm một chỗ nước nông nhúng y xuống một chập, đang toan nhắc lên, bỗng đâu một làn sóng lớn xô tới đẩy ông già lên trên mặt cát.
Du Đại Nham nói:
– Hiện giờ ông đã thoát hiểm, tại hạ có việc cần, không thể giúp ông hơn được nữa, thôi mình từ biệt nhau ở đây.
Ông già đó nhỏm dậy, lắp bắp:
– Ngươi ? ngươi ? không cướp thanh bảo đao ư?
Du Đại Nham cười:
– Bảo đao có quí, nhưng không phải của tôi, tôi lấy làm gì?
Ông già đó trong lòng thấy kỳ quái, không tin, nói:
– Ngươi quả thực trong bụng có ngụy kế gì, định lừa ta?
Du Đại Nham nói:
– Tôi với ông không thù không oán, lừa ông làm gì? Đêm nay tôi vô tình qua đây, thấy ông trúng độc bị thương nên ra tay cứu thôi.
Ông già nọ lắc đầu, hằn học nói:
– Tính mệnh ta ở trong tay ngươi, muốn giết thì cứ việc giết. Còn như muốn dùng độc thủ để gia hại ta, dù ta có chết cũng thành quỉ sứ không tha ngươi đâu.
Du Đại Nham biết rằng y bị thương rồi, thần trí không còn tỉnh táo, nên không thèm chấp, chỉ mỉm cười, đang toan bước đi, một làn sóng lớn nữa lại từ biển xô tới. Ông già đó lại rên rỉ, chỉ nằm mọp trong nước biển mà run rẩy. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Cứu người thì cứu cho tới cùng, ông già này trúng độc không phải là nhẹ, nếu mình bỏ y ở đây, y thể nào cũng chết chìm dưới nước.? Chàng đưa tay nhắc ông già lên một cái gò nhỏ, nhìn quanh bốn bề, thấy phía đông bắc có một mỏm đá, trên đó có một căn nhà, hình dáng dường như một cái miếu, nên xách ông ta chạy đến đó. Chàng nhìn lên biển ngạch, thấy thấp thoáng ba chữ ?Hải Thần Miếu?, nên đẩy cửa bước vào, thấy cái miếu này thật là sơ sài, nền đầy bụi đất, bên trong chẳng có gì cả.
Chàng để ông già lên trên tấm gỗ đằng trước thần tượng, lần trong bọc thấy đồ đánh lửa đã bị nước biển làm ướt, mò quanh bàn thờ, tìm thấy bùi nhùi và đá lửa và một cây nến thắp dở. Đốt nến lên, chàng nhìn lại ông già thấy y mặt mày tím ngắt, hiển nhiên trúng độc rất nặng, vội lấy trong bọc ra một viên ?Thiên Tâm Giải Độc Đơn? nói:
– Ông uống viên thuốc giải độc này đi.
Ông già đó hai mắt đang nhắm nghiền, thấy chàng nói thế, mở choàng ra nhìn trừng trừng nói:
– Ta không uống thuốc độc hại người của ngươi đâu.
Du Đại Nham tâm tính thật tốt nhịn, nhưng cũng không chịu nổi, nhướng lông mày nói:
– Ngươi coi ta là hạng người gì? Môn hạ phái Võ Đương không lẽ đi hại người sao? Đây là một viên thuốc giải độc, chỉ vì ngươi trúng độc rất nặng, viên thuốc này chưa chắc đã giải cứu được đâu, nhưng ít nhất cũng giúp ngươi sống thêm được ba ngày. Ngươi mau mau đem thanh đao này giao lại cho phái Hải Sa, đổi lấy thuốc giải độc của họ.
Ông già đó bỗng đứng lên, gay gắt nói:
– Cái gì chứ lấy đao Đồ Long của ta thì không thể được.
Du Đại Nham nói:
– Tính mệnh của ngươi chẳng còn, có bảo đao cũng để làm gì?
Ông già đó quyết liệt nói:
– Ta thà chết thì thôi, chứ thanh đao Đồ Long này là của ta.
Nói rồi y ôm thanh đao lên, áp má vào sống đao, trông hết sức yêu quí, tay kia cầm viên thuốc ?Thiên Tâm Giải Độc? nuốt vào bụng. Du Đại Nham thấy hiếu kỳ, toan hỏi vài câu xem thử thanh đao này có cái gì quí giá, nhưng nhìn lại hai mắt lão già thấy đầy nét tham tàn hung ác, trông như con thú muốn vồ người ăn thịt, bỗng thấy chán ghét cùng cực, xoay mình toan đi ra. Bỗng nghe ông già hậm hực nói:
– Đứng lại, ngươi định đi đâu thế?
Du Đại Nham cười:
– Ta đi đâu việc gì đến ngươi?
Nói rồi chàng cất bước đi ra. Đi được vài bước nghe thấy ông già nọ khóc òa lên, Du Đại Nham quay đầu lại, hỏi:
– Ngươi khóc gì thế?
Ông già nói:
– Ta trăm cay nghìn đắng mới lấy được thanh đao Đồ Long này, nhưng chỉ trong khoảnh khắc tính mệnh cũng không còn, có bảo đao để làm gì?
Du Đại Nham hừ một tiếng:
– Trừ việc ngươi đem đao đổi lấy thuốc giải độc của phái Hải Sa ra không còn cách nào khác nữa.
Ông già vẫn khóc òa:
– Nhưng bảo ta bỏ nó thì không được, ta không bỏ nó được.
Thần thái của y trong cái sợ hãi có thêm ba phần hoạt kê. Du Đại Nham muốn cười nhưng không cười nổi, một lát sau mới nói:
– Người học võ toàn do công phu bản thân để khắc địch chế thắng, trượng nghĩa hành đạo, để lại tiếng thơm cho đời sau. Bảo đao bảo kiếm chỉ là bên ngoài, được cũng chẳng đáng vui, mà mất cũng chẳng đáng buồn, lão trượng việc gì phải lo lắng đến thế?
Ông già đó giận dữ nói:
– Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng![1] Câu nói đó ngươi đã nghe tới bao giờ chưa?
Du Đại Nham không nhịn được cười, hỏi lại:
– Câu đó lẽ dĩ nhiên tôi đã nghe nói tới, sau đó còn hai câu nữa, gì gì ?Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?[2]? phải không? Đó là nói về chuyện một đại sự kinh thiên động địa trong võ lâm mấy mươi năm trước, chứ đâu phải nói về bảo đao nào đâu.
Ông già đó lại hỏi:
– Thế đại sự kinh thiên động địa đó là cái gì?
Du Đại Nham nói:
– Đó là chuyện năm xưa Thần Điêu đại hiệp Dương Quá giết được hoàng đế Mông Cổ Mông Kha, làm hả cơn giận cho người Hán chúng ta. Từ đó, Dương đại hiệp ra lệnh gì, anh hùng trong thiên hạ ?không thể không theo?. ?Long? đây chỉ hoàng đế Mông Cổ, ?Đồ Long? có nghĩa là giết hoàng đế Mông Cổ, chứ trên đời này làm gì có con rồng thật đâu?
Ông già cười khẩy:
– Ta hỏi ngươi, năm xưa Dương Quá đại hiệp dùng binh khí gì thế nhỉ?
Du Đại Nham sững người, nói:
– Tôi nghe sư phụ nói rằng, Dương đại hiệp cụt một cánh tay, bình thời không dùng binh khí nào cả.
Ông già hỏi lại:
– Thế ư! Vậy Dương đại hiệp giết hoàng đế Mông Cổ bằng cách nào?
Du Đại Nham nói:
– Ông ấy dùng đá ném chết Mông Kha, thiên hạ ai ai chẳng biết chuyện ấy.
Ông già thật là đắc ý, nói:
– Dương đại hiệp bình thời không dùng kinh khí, giết hoàng đế Mông Cổ thì dùng đá ném, vậy bốn chữ ?bảo đao Đồ Long? kia ở đâu ra?
Câu hỏi đó khiến cho Du Đại Nham không sao trả lời được, một hồi sau mới nói:
– Cái đó chắc là trong võ lâm thuận mồm mà nói cho xuôi, chứ chẳng lẽ nói ?thạch đầu Đồ Long? ư, nghe chối tai làm sao?
Ông già lại cười nhạt:
– Cưỡng từ đoạt lý, nói lấy được thôi. Ta hỏi ngươi thêm, thế còn ?Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong? hai câu đó giải nghĩa thế nào cho phải?
Du Đại Nham trầm ngâm một hồi, nói:
– Tôi không biết. Ỷ Thiên có lẽ là một người nào đó chăng? Nghe nói Dương đại hiệp học võ công từ bà vợ ông ấy, chắc Ỷ Thiên là tên của phu nhân, hay cũng có thể là chỉ Quách Tĩnh đại hiệp tử thủ thành Tương Dương.
Ông già nói:
– Thế à. Ta xem chừng ngươi không biết gì cả, chỉ nói nhăng nói cuội thôi. Để ta cho ngươi hay, Đồ Long là tên thanh đao, chính là thanh đao này. Ỷ Thiên là tên một thanh kiếm, gọi là Ỷ Thiên kiếm. Sáu câu đó ý nghĩa như sau: ?Trong võ lâm vật cao quí hơn cả là thanh đao Đồ Long, ai có được thanh đao đó, không kể ra bất cứ lệnh lạc gì, anh hùng hảo hán trong thiên hạ đều phải nghe theo mà hành động cả. Nếu như thanh kiếm Ỷ Thiên không xuất hiện, Đồ Long đao là khí giới sắc bén hơn hết.?
Du Đại Nham nửa tin nửa ngờ, nói:
– Ông đưa thanh đao tôi xem, có cái gì thần kỳ?
Ông già đó ôm chặt thanh đơn đao, cười khẩy:
– Bộ ngươi tưởng ta là đứa trẻ lên ba ư? Định lừa ta để lấy đao hả?
Y sau khi trúng độc vốn dĩ thần suy lực kiệt, chỉ nhờ uống viên thuốc giải độc Du Đại Nham đưa cho, nên mới phấn chấn được một chút, lúc này lại cố gượng sức nên lại rên rỉ luôn mồm. Du Đại Nham cười:
– Không cho tôi xem thì thôi. Ông có bảo đao Đồ Long trong tay, nhưng có ra lệnh cho ai được đâu? Chẳng lẽ tôi thấy ông ôm thanh đao đó là tôi phải nghe lệnh ông sao? Nghe thật là tức cười, ông đang mạnh khỏe bình thường, nghe những lời nói vu vơ ở đâu, bây giờ sắp chết đến nơi, vậy mà còn mê man không tỉnh ngộ. Nếu ông không ra lệnh cho tôi được, đủ biết thanh đao này chẳng có chỗ nào gọi là kỳ lạ.
Ông già đó ngẩn ngơ một hồi, không nói nên lời, một lúc lâu sau mới nói:
– Này lão đệ, hai người mình đính ước với nhau, ngươi cứu mạng ta, ta sẽ đem những gì lợi lộc thu được từ thanh đao này chia cho ngươi một nửa.
Du Đại Nham ngửng đầu cười lớn, nói:
– Lão trượng, ông xem thường phái Võ Đương chúng tôi quá. Cứu khổn phò nguy, đó là bổn phận của chúng tôi, chứ đâu phải mong chuyện báo đáp? Trên người ông nhiễm đầy muối độc, tôi cũng không biết độc dược đó là loại gì, ông nên đi kiếm phái Hải Sa mà cầu cứu.
Ông già nói:
– Thanh đao này chính là chúng tôi ăn cắp của phái Hải Sa, họ hận tới xương tủy, đâu có chịu cứu tôi?
Du Đại Nham nói:
– Thì ông cứ giao hoàn lại thanh đao, oán cừu tự nhiên sẽ cởi, bọn họ còn giết ông làm gì?
Ông già nói:
– Ta xem ngươi võ công cao siêu lắm, hãy đến phái Hải Sa lấy trộm thuốc giải ra đây cứu ta.
Du Đại Nham nói:
– Một là tôi đang có việc gấp, không thể trì hoãn, hai là chính ông đi ăn trộm của người ta, làm điều trái trước, lẽ nào tôi lại điên đảo thị phi? Lão trượng, ông mau mau đi kiếm phái Hải Sa đi, đừng chậm trễ nữa, độc tính phát ra, không cứu kịp đâu.
Ông già đó thấy chàng lại dợm bước toan bỏ đi, vội nói:
– Khoan đã, để ta hỏi ngươi thêm một câu, khi ngươi xách ta lên, thấy có cái gì khác thường không?
Du Đại Nham nói:
– Tôi thấy có điều kỳ quái, thân thể ông gầy yếu ốm o, nhưng phải nặng đến hai trăm cân, không biết vì duyên cớ gì, lại cũng không thấy ông mang gì nặng trên người cả.
Ông già đó bỏ thanh đao xuống đất, nói:
– Bây giờ ngươi thử nhắc ta lên xem nào?
Du Đại Nham nắm vai ông ta nhắc lên, thấy tay nhẹ bỗng, chỉ độ chừng tám mươi cân là cùng, chợt hiểu ra: ?Hóa ra cái thanh đơn đao nhỏ bé này, lại nặng tới hơn một trăm cân, quả thực là cổ quái, không như những võ khí thường.?
Chàng đặt ông già xuống, nói:
– Thanh đao này quả thực là nặng.
Ông già lại ôm chặt thanh đao vào người, nói:
– Không phải chỉ nặng mà thôi đâu. Này lão đệ, ngươi họ Du hay họ Trương?
Du Đại Nham đáp:
– Tôi họ Du, thảo tự là Đại Nham, sao lão trượng lại biết?
Ông già đáp:
– Trương chân nhân của phái Võ Đương thu bảy người đệ tử, trong Võ Đương thất hiệp thì Tống đại hiệp phải khoảng bốn mươi, Ân, Mạc hai vị chưa đến hai mươi, còn lưỡng hiệp thứ hai, thứ ba họ Du, lưỡng hiệp thứ tư, thứ năm họ Trương, trong võ lâm ai ai cũng biết cả. Hóa ra là Du tam hiệp, thảo nào công phu cao siêu đến thế. Võ Đương thất hiệp uy chấn thiên hạ, hôm nay được gặp, quả thực danh bất hư truyền.
Du Đại Nham tuy tuổi tác chưa lớn, nhưng lịch duyệt giang hồ đã nhiều, thấy y giở trò nịnh nọt, biết rằng chỉ vì muốn cầu mình giúp đỡ, trong lòng càng thêm chán ghét, hỏi lại:
– Lão trượng tôn tính đại danh là gì?
Ông già đáp:
– Tiểu lão nhi họ Đức, tên một chữ Thành. Bạn bè ở Liêu Đông tặng cho tôi một cái ngoại hiệu, gọi là Hải Đông Thanh.
Hải đông thanh là tên của một giống chim ưng lớn ngoài Liêu Đông, hung ác lắm, chuyên bắt các con thú nhỏ để ăn, là một mãnh cầm trứ danh ở quan ngoại. Du Đại Nham chắp tay:
– Ngưỡng mộ đã lâu, ngưỡng mộ đã lâu.
Nói rồi ngửng đầu nhìn trời xem xét. Đức Thành biết chàng muốn đi, không đem đại lợi ra nhử sẽ không nhờ cứu mệnh mình được, nên nói:
– – Ngươi không biết nghĩa sâu xa của câu “hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng”. Tám chữ đó không phải chỉ là ai cầm thanh Đồ Long đao này mở miệng ra lệnh thì mọi người phải nghe theo. Không phải vậy, không phải vậy, nghĩ thế là hoàn toàn sai.
Y vừa nói tới đây, Du Đại Nham mặt hơi biến sắc, tay phải vẫy một cái, nghe một tiếng phụp nhỏ, ngọn nến trên bàn thần tượng tắt ngay, hạ giọng nói nhỏ:
– Có người đến đấy.
Đức Thành nội công so với chàng kém nhiều, nên không nghe thấy tiếng động nào, còn đang trù trừ, bỗng thấy từ xa có mấy tiếng còi, lại có người nói lao xao, chạy về phía miếu. Đức Thành hoảng sợ nói:
– Địch nhân đuổi tới rồi, mình mau mau theo lối sau chạy đi.
Du Đại Nham nói:
– Đằng sau cũng có người rồi.
Đức Thành nói:
– Chẳng biết ?
Du Đại Nham nói:
– Đức lão trượng, bọn người đến đây là phái Hải Sa, ông nên hỏi họ thuốc giải độc. Tại hạ không muốn dây dưa vào chuyện này làm gì.
Đức Thành vươn tay trái ra chụp lấy cổ tay chàng, run run nói:
– Du tam hiệp, ông đừng bỏ tôi, đừng ?
Du Đại Nham thấy năm ngón tay y lạnh như băng, bấu chặt vào da thịt mình, nên xoay cổ tay một cái, dùng nửa chiêu ?Cửu Chuyển Đơn Thành?, vòng nửa vòng, đã thoát ra khỏi tay y.
Bấy giờ nghe tiếng chân người rầm rập, chạy đã đến bên ngoài miếu. Nghe bình một tiếng, có người đã đá toang cửa miếu, kế đó nghe tiếng loạt soạt, trong đêm tối có vật gì nho nhỏ ném vào. Du Đại Nham rụt người, nhảy vào sau tượng hải thần bồ tát. Chỉ nghe Đức Thành ?A? lên một tiếng nho nhỏ, lại nghe loạt soạt, ám khí đã trúng người y, rồi rơi xuống đất.
Ám khí đó hết lượt này đến lượt khác, liên tiếp ném vào không ngớt. Du Đại Nham nghĩ thầm:
– Đây là muối độc của phái Hải Sa.
Lại nghe thấy tiếng lách cách trên nóc nhà, đã có người nhảy lên gỡ ngói ra, lại ném độc diêm từ trên xuống.
Du Đại Nham đã thấy người áo trắng cùng Trường Bạch Tam Cầm bị trúng muối độc, người áo trắng tuy võ công cao cường như thế, nhưng vừa trúng độc đã phải kêu la thảm thiết bỏ chạy ngay, đủ biết loại này lợi hại như thế nào. Trong cái miếu nhỏ, độc diêm bay tứ tán, biết rằng chỉ trong giây lát, không thể nào không trúng mình, trong tình hình nguy cấp, chàng liền đấm mấy cái vỡ lưng pho tượng, co mình chui vào nằm bên trong bụng, lập tức thành một cái áo dày bằng đất, muối độc tuy nhiều, nhưng không sao trúng chàng được.
Chỉ nghe bên ngoài người của phái Hải Sa bắt đầu bàn bạc với nhau:
– Tên đó không nghe tiếng gì, chắc mê man rồi.
– Tên trẻ tuổi kia tay chân đáng ngại lắm, chi bằng chờ thêm một chốc, việc gì phải gấp gáp?
– Sợ rằng gã đã đi mất đâu rồi không còn trong hải thần miếu nữa.
Chỉ nghe một người kêu lên:
– Này, tên chó chết kia, mau mau ra đầu hàng đi.
Trong khi đang hỗn loạn, bỗng nghe từ xa có tiếng vó ngựa, chừng mươi con khoái mã ở đâu chạy tới. Trong tiếng chân ngựa, bỗng nghe có người lớn tiếng nói:
– Nhật nguyệt quang chiếu, ưng vương triển sí.[3] Người phái Hải Sa ở bên ngoài miếu lập tức im lặng không một tiếng động, một lát sau, có tiếng run run:
– Đây là Thiên ?. Thiên Ưng giáo, bọn mình chạy mau ?
Nói chưa dứt lời, vó ngựa đã ngừng ngay trước miếu. Phái Hải Sa có người rụt rè:
– Chạy không kịp đâu.
Nghe thấy tiếng chân rầm rập, mấy người đã chạy vào trong miếu. Du Đại Nham ẩn bên trong bụng pho tượng, thấy hình như có ánh sáng, đoán chừng người đi vào mang theo đèn lồng. Một lát sau, có người hỏi:
– Các ngươi có biết bọn ta là ai không?
Trong phái Hải Sa có mấy người cùng đáp:
– Biết, biết, các vị là bằng hữu trong Thiên Ưng giáo.
Người kia lại nói:
– Vị này là Thiên Thị Đường Lý đường chủ trong Thiên Ưng giáo. Lão nhân gia lâu nay không ra ngoài, hôm nay các ngươi vận số may mắn lắm, mới gặp được. Lý đường chủ hỏi các ngươi, Đồ Long đao ở đâu, mau mau đưa ra, Lý đường chủ mở lòng từ bi, bọn ngươi sẽ không mất mạng.
Nghe thấy một người trong phái Hải Sa đáp:
– Chính y ? y ăn trộm đem ra đây, chúng tôi đuổi vừa tới, Lý ? đường chủ ?
Người của Thiên Ưng giáo lại nói:
– Hừm, thanh đao Đồ Long đâu?
Câu hỏi đó hiển nhiên là hỏi Đức Thành. Đức Thành không trả lời, bỗng nghe một tiếng huỵch, có người ngã xuống đất. Mấy người khác kêu lên:
– -???? Ối chà.
Người Thiên Ưng giáo nói:
– Y chết rồi, mau tra xét trong người y xem.
Lại nghe có tiếng áo quần loạt soạt, tiếng thân người lật qua lại. Người của Thiên Ưng giáo nói:
– Bẩm báo đường chủ, trong thân gã này không có gì lạ.
Tên đầu lĩnh của phái Hải Sa run run nói:
– Lý đường … đường chủ, rõ ràng là gã này ăn trộm bảo đao … chính y …, chúng tôi quyết không dám dấu diếm …
Nghe giọng của y, hiển nhiên y bị nhãn quang của Lý đường chủ uy hiếp, sợ quá nên không còn hồn vía nào. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Thanh đao đó rõ ràng Đức Thành ôm ở trong tay, sao lại không thấy nhỉ??
Chỉ thấy gã trong Thiên Ưng giáo nói tiếp:
– Các ngươi nói là y ăn trộm thanh đao đem ra đây, sao không thấy đâu cả? Chắc là chúng bay đã lén dấu đi rồi. Nếu đã thế, người nào nói thật ra, Lý đường chủ sẽ tha cho người đó. Trong cả bọn các ngươi, chỉ một người được sống thôi, ai nói trước, người đó khỏi chết.
Trong miếu lặng yên, một hồi sau, tên đầu lĩnh phái Hải Sa mới nói:
– Lý đường chủ, quả thật chúng tôi không biết, nếu như Thiên Ưng giáo đã đòi, chúng tôi đâu dám giữ ?
Lý đường chủ chỉ ?hừ? một tiếng, không trả lời. Gã hạ thuộc lại nói:
– Ai trả lời trước, người đó được sống.
Lại thêm một lát nữa, trong phái Hải Sa không ai nói gì. Bỗng nhiên một người kêu lên:
– Chúng tôi tới trước để đoạt đao, nhưng còn đứng bên ngoài chưa vào, các ông đã đến rồi. Chính các ông Thiên Ưng giáo vào trong miếu trước, làm sao chúng tôi có đao được? Nếu các ông không tin, đằng nào cũng chết, hôm nay quyết thí mạng. Vật đó có phải của Thiên Ưng giáo đâu, sao lại ép uổng bá đạo, xem ra ?
Nói chưa dứt lời, nghe một tiếng bịch, hình như y đã chết rồi. Lại nghe một người run rẩy đáp:
– Có một tên chừng ba mươi tuổi, cứu lão già này ra, người đó khinh công rất cao, bây giờ không biết đi đâu, bảo đao có lẽ y cướp đi rồi.
Lý đường chủ nói:
– Xét trên người bọn chúng xem sao.
Mấy người cùng lên tiếng đáp, chỉ nghe thấy trong điện có tiếng sột soạt, có lẽ là tiếng động do bọn Thiên Ưng giáo đang xét người phái Hải Sa. Lý đường chủ nói:
– Có lẽ gã đó lấy mất thật rồi. Thôi mình đi.
Lại nghe thấy tiếng bước chân bọn người Thiên Ưng giáo ra khỏi miếu, rồi nghe tiếng vó ngựa đi về phía đông bắc mỗi lúc một xa hơn. Du Đại Nham không muốn ẩn thân trong bụng thần tượng chật hẹp này lâu hơn nữa, chỉ chờ phái Hải Sa đi khỏi là chui ra. Thế nhưng một lúc lâu sau vẫn không nghe động tĩnh gì, tưởng chừng cả bọn phái Hải Sa bỗng dưng biến mất. Chàng từ sau thần tượng thò đầu ra thăm dò, thấy hơn hai chục tên diêm kiêu đứng sừng sững không động đậy, có lẽ đã bị người ta điểm trúng huyệt đạo.
Chàng từ trong bụng tượng đất nhảy ra, lúc ấy những ngọn đuốc dưới đất cũng còn cháy lập lòe nên bên trong miếu vẫn còn sáng, nhưng Du Đại Nham thấy những người của phái Hải Sa mặt mày thật dễ sợ, nghĩ thầm:
– Thiên Ưng giáo này không biết là giáo phái nào, sao mình chưa từng nghe đến? Bọn phái Hải Sa vốn dĩ cũng đâu phải hiền lành gì, sao vừa gặp người của Thiên Ưng giáo đã bị trói chân trói tay, quả thực đúng là vỏ quít dày gặp móng tay nhọn.
Chàng thò tay vỗ vào huyệt Hoa Cái của người đứng kế bên để giải huyệt cho y.
Nào ngờ chàng dùng lực khá mạnh nhưng người đó vẫn đứng trơ trơ, vội đưa tay thăm mũi y thì không còn thở nữa, hóa ra đã bị điểm vào tử huyệt. Chàng đi soát quanh một vòng, hơn hai chục người của phái Hải Sa đều chết đứng, chỉ còn một người nằm còng queo dưới đất, thở hổn hển, là người nói sau cùng, đã được tha cho khỏi chết. Du Đại Nham vừa kinh hoàng, vừa nghi ngại: ?Khi Thiên Ưng giáo hạ độc, không thấy tiếng động gì cả, thủ pháp đó quả thực quái dị âm độc.?
Chàng đỡ gã diêm kiêu chưa chết kia lên, hỏi:
– Thiên Ưng giáo là giáo phái nào thế? Giáo chủ của họ là ai?
Hỏi luôn mấy câu, người đó chỉ trợn trắng mắt ra, thần sắc đờ đẫn. Du Đại Nham vội cầm tay y, chỉ thấy mạch chạy tán loạn, biết rằng tính mệnh tuy không chết, nhưng đã bị người ta dùng trọng thủ đánh đứt một số kinh mạch, thành người ngớ ngẩn.
Lúc này chàng không còn sợ mà trở nên giận dữ, nghĩ thầm: ?Bọn Thiên Ưng giáo này sao hạ độc quá ư tàn nhẫn?? Nhưng nghĩ đối phương võ công cực cao, mình chỉ có một thân, không thể nào địch lại, chi bằng trước là về lại núi Võ Đương bẩm lại sư phụ xin ý kiến, xét cho rõ lai lịch của bọn Thiên Ưng giáo rồi sẽ tính sau.
Du Đại Nham thấy mặt đất đầy những muối độc trắng xóa như tuyết, nghĩ thầm: ?Sớm muộn gì cũng có dân chúng vào đây, vô tình không biết thể nào cũng bị tai ương. Dọn dẹp muối độc và chôn cất những xác chết này quả thực khó khăn, chi bằng đốt luôn cái miếu hải thần này cho khỏi hậu họa.? Nghĩ thế chàng kéo người bị chấn động kinh mạch ra ngoài, rồi quay trở vào thấy hơn hai mươi người chết đứng đầy trong điện, hình dáng thật là kỳ bí, lại thấy bên cạnh bàn thờ có một người phủ phục, trên lưng có vết máu chảy. Du Đại Nham hơi kỳ quái, nắm cổ áo người đó định kéo ra xem, thấy khác thường đến nỗi đẩy chàng ngã về phía trước. Chàng tự hỏi sao thân hình y cũng chỉ bình bình, không to béo gì, sao lại nặng nề như thế?
Nhìn kỹ hơn, thấy trên lưng y có một vết thương dài, Du Đại Nham đưa tay vào vết thương xem thử, thấy lạnh như băng, lôi ra một thanh đao, nặng ít nhất cũng phải hơn một trăm cân. Đó chính là đao Đồ Long mà bao nhiêu người tranh đoạt đến mất mạng. Chàng chỉ suy nghĩ một tí biết ngay nguyên do: Đức Thành khi sắp chết đã cả đao lẫn người ngã xuống, chém ngay vào lưng một tên diêm kiêu phái Hải Sa. Thanh đao đó vừa nặng vừa sắc bén, chỉ rơi xuống đã đâm lút vào trong cơ thể. Thiên Ưng giáo khi tra xét người bọn phái Hải Sa đã không tìm thấy.
Du Đại Nham chống đao đứng nhìn bốn bề, cảm thấy bâng khuâng, nghĩ thầm: ?Con đao này có thực sự là võ lâm chí bảo hay không, khó mà biết được, nhưng xem ra là một vật chẳng lành, Hải Đông Thanh Đức Thành cùng bao nhiêu người của phái Hải Sa cũng vì nó mà táng mạng. Trước mắt chỉ còn cách đem về trình cho sư phụ để xem lão nhân gia định đoạt thế nào.?
Nghĩ thế chàng nhặt một mồi lửa dưới đất châm lên mái nhà, đợi đến lúc lửa đã bén lên mới ra khỏi miếu. Chàng lau sạch thanh Đồ Long đao, bên ánh lửa xem lại cho kỹ. Thanh đao đó đen sì, chẳng phải sắt cũng không phải vàng, không biết bằng kim loại gì, trước đã bị Trường Bạch Tam Cầm nung như thế nhưng không hề suy suyển, quả là dị vật. Du Đại Nham lại nghĩ: ?Thanh đao này nặng nề như thế khi đối địch làm sao có thể thi triển chiêu thức? Quan vương gia[4] thần lực hơn người, nhưng Thanh Long yển nguyệt đao cũng chỉ nặng tám mươi mốt cân.?
Chàng gói đao vào bọc, hướng về phía thi thể Đức Thành khấn thầm:
– Đức lão trượng, tôi không phải là tham thanh đao này, nhưng đao này là một dị vật trong thiên hạ, nếu rơi vào tay kẻ ác, có khác gì hùm thêm cánh, ắt là di họa cho người đời. Sư phụ tôi vốn là người chí công, lão nhân gia ắt sẽ có cách xử trí cho tốt đẹp.
Chàng buộc bao lên lưng, rảo bước về hướng bắc, chỉ trong nửa tiếng đã đến bờ sông. Dưới ánh trăng mờ, mặt nước long lanh, lấp loáng tưởng như sao rụng đầy sông. Chàng nhìn quanh một vòng không thấy một bóng thuyền nào. Nước sông xuôi về hướng nam, chàng đi theo dòng độ chừng một bữa cơm, thấy trước mặt có ánh đèn lấp lánh, một chiếc thuyền chài đậu cách bờ chừng vài trượng đang giăng câu. Du Đại Nham kêu lớn:
– Anh đánh cá ơi, làm ơn giúp tôi qua sông, tôi xin hậu tạ.
Thế nhưng chiếc thuyền đó cách bờ quá xa, người trên thuyền dường như không nghe thấy, nên không động tĩnh gì. Du Đại Nham hít một hơi, vận sức kêu lên, tiếng chàng vang ra thật xa.
Một lúc sau, bỗng thấy từ trên thượng lưu một chiếc thuyền nhỏ xuôi dòng, ghé vào bờ. Người lái đò kêu lên:
– Khách quan muốn qua sông phải không?
Du Đại Nham mừng đáp:
– Chính thế, phiền anh chèo đò giúp cho.
Người thuyền chài nói:
– Xin mời ông xuống thuyền.
Du Đại Nham tung mình nhảy lên, đầu thuyền chìm hẳn xuống. Người lái đó kinh sợ, nói:
– Ông mang gì mà nặng thế?
Du Đại Nham cười:
– Có gì đâu, tại thân thể tôi hơi đẫy đà, khai thuyền đi thôi.
Chiếc thuyền dựng buồm lên, thuận nước, thuận gió, đi chéo thật nhanh về hướng đông bắc để qua sông. Được độ hơn một dặm, nghe xa xa có tiếng sấm ầm ầm vang đến, Du Đại Nham nói:
– Bác lái đò ơi, xem chừng mưa lớn đến nơi chăng?
Người lái đó cười:
– Đấy là thủy triều ban đêm ở sông Tiền Đường, cứ theo nước triều mà đi, chỉ chớp mắt thôi là đến bên kia bờ, nhanh lắm.
Du Đại Nham nhìn về hướng đông, thấy ở chân trời một làn nước trắng xóa ùn ùn kéo tới. Tiếng thủy triều mỗi lúc một thêm vang, chẳng khác gì tiếng quân reo ngựa hí. Sóng sông đổ ào, từ xa một bức tường nước xô tới. Chàng nghĩ thầm: ?Trời đất sao có cảnh hùng tráng đến thế này, hôm nay mình thật là mở mắt, cũng bõ cho những cay đắng phải trải qua.?
Chàng còn đang say sưa ngắm cảnh, bỗng thấy một chiếc thuyền dương buồm chạy đến, trên buồm trắng vẽ một con chim ưng lớn màu đen, hai cánh giang ra, tưởng như đang muốn chồm tới vồ mồi. Du Đại Nham nghĩ ngay đến Thiên Ưng giáo nên vội chuẩn bị đề phòng. Đột nhiên, gã lái đò nhảy phắt lên, rơi ùm xuống nước, không còn thấy tung tích y đâu nữa. Chiếc thuyền nhỏ không ai chèo chống, sóng vừa đánh tới đã xoay vòng vòng. Du Đại Nham vội nhảy ra phía sau bẻ lái, thì ngay lúc đó, chiếc thuyền buồm có thêu con hắc ưng kia đã lao vào nghe bình một cái. Đầu chiếc thuyền đó có bịt thép nên vừa đụng chiếc thuyền con đã vỡ ngay một lỗ lớn, nước sông theo đó đổ vào như trút. Du Đại Nham vừa sợ, vừa tức:
– Bọn Thiên Ưng giáo các ngươi gian ác thật. Hóa ra gã lái đó là người của các ngươi, đánh lừa ta như thế này.
Chàng thấy chiếc thuyền nhỏ không còn có thể dùng được nữa nên tung mình nhảy lên, nhắm mũi chiếc thuyền buồm kia hạ xuống. Nào ngờ ngay lúc đó có một làn sóng lớn vừa kéo đến, lắc mạnh chiếc thuyền buồm khiến đầu thuyền bị đẩy lên cao hơn một trượng. Du Đại Nham đang ở trên không, chiếc thuyền kia vừa nhô lên nên chàng rơi ngay ra ngoài khoang. Trong tình thế nguy cấp, chàng hít một hơi chân khí, tay trái đánh một chưởng vào mạn thuyền, mượn sức, hay cánh tay đẩy một cái, thi triển khinh công ?Thê Vân Túng?, lại vọt lên hơn một trượng, rơi xuống trở lại mũi thuyền buồm.
Chàng thấy cửa vào khoang thuyền vẫn đóng chặt, không một bóng người. Du Đại Nham kêu lớn:
– Có phải bằng hữu của Thiên Ưng giáo chăng?
Chàng gọi luôn mấy bận, trong thuyền không thấy ai đáp lời nên đẩy vào cửa khoang thuyền, thấy lạnh ngắt, hóa ra cánh cửa đó đúc bằng sắt, không nhúc nhích gì. Du Đại Nham vận sức vào hai cánh tay, quát lên một tiếng, hai chưởng đánh ra, chỉ nghe lách cách, cánh cửa không mở nhưng bản lề hai bên đã bị đánh gãy. Cửa sắt đã rung rinh nên chỉ thêm một chưởng nữa liền tung ra.
Chàng nghe thấy trong khoang thuyền tiếng một người nói:
– Khinh công Thê Vân Túng và chưởng lực Chấn Sơn Chưởng của phái Võ Đương, quả nhiên không phải là hư danh. Du tam hiệp, xin ông để con đao Đồ Long trên lưng lại, chúng tôi sẽ tiễn ông qua sông.
Lời nói tuy có vẻ khách khí nhưng ngữ khí mười phần ngạo mạn, tưởng như ra lệnh không bằng. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Tại sao y biết được tên mình nhỉ??
Người kia lại nói tiếp:
– Du tam hiệp, trong bụng ông thấy lạ, tại sao tôi lại biết tên ông, phải không? Thực ra không có gì là khó hiểu, Thê Vân Túng và Chấn Sơn Chưởng, trừ những cao thủ của phái Võ Đương, làm sao có ai sử được xuất thần nhập hóa như thế? Du tam hiệp đến Giang Nam, Thiên Ưng giáo chúng tôi là địa chủ, trên đường đi không tiếp đãi chào hỏi, xin thứ lỗi cho.
Du Đại Nham không biết phải trả lời sao cho phải, chỉ nói:
– Cao tính đại danh của tôn giá là gì, xin hiện thân để cho được gặp mặt.
Người kia đáp:
– Thiên Ưng giáo cùng quí phái vô thân vô cố, không oán không cừu, không gặp nhau thì tốt hơn. Xin du tam hiệp để thanh đao Đồ Long tại đầu thuyền, chúng tôi xin đưa ông qua sông.
Du Đại Nham bừng bừng nổi giận, nói:
– Thanh đao Đồ Long này là của quí giáo chăng?
Người kia đáp:
– Cái đó không phải. Đao này là võ lâm chí tôn, kẻ học võ trong thiên hạ, ai ai chẳng muốn có nó trong tay.
Du Đại Nham nói:
– Chính thế, đao này bây giờ rơi vào tay tại hạ, nên phải đem về núi Võ Đương cho sư tôn phát lạc, tại hạ không được quyền tự tiện.
Người kia nói thêm mấy câu nho nhỏ, thanh âm như muỗi vo ve, Du Đại Nham nghe không rõ, hỏi lại:
– Ngươi nói gì thế?
Lúc ấy một ngọn sóng lớn đánh tới, nâng bổng chiếc thuyền buồm lên, Du Đại Nham thấy trên ngực và đùi mình, bỗng như bị muỗi cắn. Lúc ấy đang vàng đầu mùa xuân, làm gì có muỗi, nhưng chàng không để ý, lại lớn tiếng nói:
– Quí giáo chỉ vì một thanh đao mà giết bao nhiêu nhân mạng, trong miếu hải thần còn thi thể mấy chục người, không khỏi hạ thủ quá tàn nhẫn.
Người trong khoang thuyền đáp:
– Thiên Ưng giáo trước nay hạ thủ có nặng có nhẹ, với kẻ ác thì ra tay nặng, với người tốt thì ra tay nhẹ. Du tam hiệp danh chấn giang hồ, chúng tôi không muốn hại đến tính mệnh. Ông hãy để thanh đao Đồ Long lại, tại hạ xin dâng lên giải dược cho Văn Tu Châm[5].
Du Đại Nham nghe thấy ba chữ Văn Tu Châm, giật nảy người, vội lấy tay ấn vào những chỗ vừa bị muỗi đốt trên ngực, trên đùi, chỉ thấy hơi ngứa, quả thực là cảm giác mới bị côn trùng cắn, nhưng nghĩ lại liền tỉnh ngộ: ?Y cố tình nói mơ hồ, nhỏ giọng để dụ ta tới gần, thừa cơ ném ám khí nhỏ bé này.? Nghĩ đến bọn diêm kiêu phái Hải Sa sợ Thiên Ưng giáo như rắn rết, ám khí này ắt là tàn độc vô cùng, trước mắt phải làm sao bắt được y, ép y phải đưa cho mình giải dược cứu trị, nên chàng hừ một tiếng, tay trái che mặt, tay phải bảo vệ ngực, tung mình nhảy vào trong khoang thuyền.
Chân chưa chạm đất, trong bóng tối bỗng thấy kình phong ùa vào mặt, người trong thuyền đã múa chưởng đánh ra. Du Đại Nham tay phải đánh ra, trong cơn thịnh nộ, chưởng này sử đến mười thành công lực. Hai bên song chưởng đụng nhau, nghe bình một tiếng, người trong thuyền bị đánh bật về phía sau, nghe tiếng loảng xoảng, làm đổ vỡ không biết bao nhiêu bàn ghế.
Du Đại Nham cũng thấy lòng bàn tay đau nhói. Nguyên lai khi hai người giao chưởng, trong bàn tay người kia có dấu vật gì nhọn sắc, nên khi đụng nhau, vật đó liền xuyên thủng bàn tay Du Đại Nham. Đối phương tuy bị chàng đánh trúng bị thương không nhẹ, nhưng trong bóng tối không biết phía địch đông người, ít người ra sao, chàng không dám mạo hiểm xông lên bắt người, nên vội lui ra ngoài đầu thuyền.
Chỉ nghe người kia ho húng hắng mấy tiếng, nói:
– Du tam hiệp chưởng lực kinh người, quả nhiên không phải tầm thường, bội phục a bội phục. Thế nhưng Thất Tinh Đinh trong tay tại hạ cũng có chỗ dùng, thành ra chúng mình kẻ nửa cân, người tám lượng, lưỡng bại câu thương.[6] Du Đại Nham vội vàng lấy mấy viên Thiên Tâm Giải Độc Đơn ra uống ngay, cởi bao ra, lấy thanh đao Đồ Long, hai tay cầm cán, nghe vù một tiếng, chém tạt ngang. Chỉ nghe xoẹt một tiếng nhỏ, thanh đao này quả nhiên sắc bén lạ thường, đã chặt cái cửa sắt ra làm hai. Chàng chém liên tiếp bảy tám nhát, tấm cửa sắt gặp phải bảo đao chẳng khác gì làm bằng giấy, bằng rơm, người trong khoang thuyền phải nhảy lùi lại phía sau, kêu lên:
– Ngươi liên tiếp trúng hai loại độc, còn hung hăng nữa ư?
Du Đại Nham múa đao chém tới, phạt ngang lưng người kia. Người kia thấy thế đến hung mãnh, thuận tay cầm một cái neo sắt lên đỡ, nghe soẹt một tiếng nhỏ, cái neo đã đứt làm đôi khiến y phải nhảy vọt qua một bên, kêu lên:
– Ngươi muốn tính mệnh hay muốn bảo đao?
Du Đại Nham nói:
– Được rồi, ngươi đưa giải dược cho ta, ta đưa bảo đao cho ngươi.
Khi ấy chàng thấy những chỗ trên đùi trúng phải Văn Tu Châm càng lúc càng ngứa, biết rằng Thiên Tâm Giải Độc Đơn không giải nổi chất độc, thanh đao Đồ Long này chàng cũng vô tình mà được, nên cũng không coi trọng lắm, nên tiện thể cầm đao ném xuống sàn thuyền.
Người kia mừng quá, cúi xuống nhặt ngay lên, không ngừng vuốt ve, xem chừng thích lắm. Người kia quay lưng về phía ánh trăng nên không nhìn rõ mặt, tuy nhiên y chỉ nhìn ngắm thanh đao mà không lấy thuốc giải, Du Đại Nham thấy lòng bàn tay đau bắt đầu đau nhói, nói:
– Giải dược đâu?
Người kia cười ha hả, tựa như nghe một chuyện thật nực cười. Du Đại Nham giận dữ:
– Ta hỏi ngươi đưa thuốc giải, có gì đáng cười đâu?
Người kia lấy ngón tay trỏ để lên má, cười:
– Hì hì, sao ngươi lại ngốc đến thế, không đợi ta đưa giải dược mà lại đưa đao cho ta trước?
Du Đại Nham giận nói:
– Nam nhi chỉ nói một lời, ngựa chỉ ra roi một lần, ta bằng lòng đem đao để đổi lấy thuốc giải, không lẽ còn lần khân không đưa. Đưa trước hay đưa sau có gì khác đâu?
Người kia cười nói:
– Nếu như đao còn trong tay ngươi, ta còn e ngại ba phần, vì như ngươi đánh không lại ta, ném đao xuống sông, chưa chắc ta đã tìm lại được. Bây giờ đao đã ở trong tay ta rồi, ngươi còn mong ta đưa giải dược ư?
Du Đại Nham nghe vậy, một làn hơi lạnh từ tim bốc lên, vẫn tưởng Thiên Ưng giáo và phái Võ Đương không thù không oán, người này võ công không phải tầm thường, chắc hẳn cũng có chút thân phận, như đã được đao Đồ Long rồi, lẽ nào nói không giữ lời? Chàng trước nay hành sự ổn trọng, không phải là kẻ khinh suất, không ngờ phen này lại mất đi thế mạnh, một mình rơi vào trong thuyền địch, ắt rằng đối phương phải chuẩn bị sẵn sàng, trong thuyền ắt có người tiếp tay, lại thêm thân trúng hai loại độc, muốn có giải dược gấp, nên rơi vào gian mưu của người, lập tức hít một hơi, hừ một tiếng hỏi:
– Tôn giá cao tính đại danh là gì?
Người kia cười đáp:
– Tại hạ chỉ là một kẻ vô danh tiểu tốt trong Thiên Ưng giáo, phái Võ Đương có đi tìm Thiên Ưng giáo để báo thù, thì đã có giáo chủ bản giáo cùng các đường chủ tiếp đón. Thêm nữa, Du tam hiệp hôm nay chết không minh bạch, dù tổ sư quí phái Trương Tam Phong có tài thông thiên triệt địa chăng nữa, cũng chắc gì biết Du tam hiệp chết ở tay ai.
Y nói mà coi như Du Đại Nham đã chết rồi. Du Đại Nham thấy lòng bàn tay như có muôn vạn con kiến đang cắn nhí nhói, vừa đau vừa ngứa không sao chịu nổi, lập tức chụp lấy một nửa cái neo sắt gãy, nghĩ thầm: ?Nếu hôm nay ta không sống được, thì cũng cùng với ngươi đồng qui ư tận.?
Nghe người kia nói năng thao thao, đang lúc cao hứng đắc ý, Du Đại Nham quát lên một tiếng, nhảy vọt tới, tay trái múa cái neo gãy, tay phải đánh ra một chưởng, nhắm thẳng vào ngực, vào mặt người kia đánh tới. Người kia kêu ?Ối chà? một tiếng, vung đao Đồ Long lên đỡ, nào ngờ đâu thanh đao nặng nề lạ thường, y thuận tay múa lên, chỉ nhấc được một nửa thước, cổ tay liền trùng xuống. Cứ như võ công của y, không phải không thể sử dụng con đao này, chỉ vì lúc vận lực không lường đủ sức nặng của binh khí, lực đạo bất túc, nên thanh đao mới rơi trở lại, chém ngay vào đầu gối y. Y kinh hãi vội vàng vận sức lên cánh tay, vừa cố gượng lại thì đã thấy kình phong ùa vào mặt, nửa cái neo gãy đánh thẳng tới. Cái neo đó uy mãnh lăng lệ, không cách gì đỡ, y vội vàng sử kình đạp mạnh hai chân, lật ngửa một cái, lộn mèo xuống sông.
Người đó tuy tránh thoát được nửa cái neo sắt đánh vào mặt nhưng tay phải của Du Đại Nham vẫn còn đánh tới, chưởng đó trúng ngay bụng dưới của y, chỉ thấy lục phủ ngũ tạng đều đảo lộn, kêu lên một tiếng, bất tỉnh nhân sự trước khi rơi tõm vào trong sóng nước.
Du Đại Nham thở phào một cái, thấy người nọ tuy trúng một chưởng mà vẫn nắm chặt thanh Đồ Long đao không buông, cười nhạt nghĩ thầm: ?Ngươi có chiếm được bảo đao rồi cũng táng mệnh nơi đáy nước.?
Bỗng nhiên có một bóng trắng lấp loáng, một dải lụa trắng lao vụt xuống sông, cuốn lấy ngang lưng người nọ, luôn cả thanh đao, kéo lên thuyền. Du Đại Nham giật mình, theo dải lụa nhìn theo, chỉ thấy tại mũi thuyền có một bóng người gầy nhỏ, mặc áo bào xanh, đang luôn tay cuốn lụa. Du Đại Nham lại muốn nhảy tới đầu thuyền đánh tiếp, nhưng độc tính trong thân đã phát tác, mắt bỗng tối sầm, ngã ra sàn thuyền, ngất đi không còn biết gì nữa.
Không biết qua bao nhiêu thời gian, khi mở mắt ra, vật đầu tiên Du Đại Nham nhìn thấy là một lá tiêu kỳ, trên lá cờ có thêu một con lý ngư màu vàng. Chàng nhắm mắt lại, rồi lại mở ra lần nữa, vẫn chỉ thấy lá cờ nhỏ đó. Lá cờ đó cắm trong một chiếc bình sứ màu cánh trả, có hoa màu xanh, ánh một màu vàng lấp lánh, trên lá cờ thêu một con cá đang vùng vẫy trong làn sóng. Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Đây là lá cờ của Long Môn tiêu cục ở phủ Lâm An. Mình đang ở đâu thế này?? Lúc ấy đầu chàng mơ mơ màng màng, chỉ thấy hỗn loạn, không thể suy nghĩ nhiều. Cố gắng định thần, mới hay mình đang nằm trên một cái cáng, trước sau có người khiêng, còn chỗ đang ở dường như là một tòa đại sảnh. Chàng định quay đầu nhìn hai bên, nào ngờ thấy cổ cứng ngắc, không cách gì cử động.
Chàng kinh hãi quá, muốn nhảy ra khỏi cái cáng nhưng chân tay dường như không còn là của mình nữa, không những không sử lực được, mà ngay cả động đậy cũng không nốt, nên nghĩ ngay: ?Ta bị trúng độc của Thất Tinh Đinh và Văn Tu Châm trên sông Tiền Đường.?
Chàng nghe thấy hai người đang nói chuyện. Một người tiếng oang oang, nói:
– Các hạ họ gì?
Người kia trả lời:
– Ông không cần phải hỏi tên tôi, tôi chỉ hỏi ông, món hàng này ông nhận hay không nhận?
Du Đại Nham nghĩ thầm: ?Giọng người này nghe yểu điệu, dường như đàn bà.?
Người có tiếng nói to hơi sẵng giọng:
– Long Môn tiêu cục chúng tôi làm ăn cũng chẳng ế ẩm gì, các hạ như nếu không cho biết tính danh, xin mời kiếm tiêu cục khác vậy.
Tiếng đàn bà kia đáp:
– Ở phủ Lâm An này chỉ có Long Môn tiêu cục là hơn cả, các tiêu cục khác xem ra không bằng. Nếu như ông không quyết định được thì mau mau đi mời Tổng tiêu đầu ra đây.
Giọng người này có vẻ hơi vô lễ khiến người kia có vẻ không mấy vui, nói:
– Chính tôi là Tổng tiêu đầu. Tại hạ lúc này đang bận, không tiện tiếp khách, xin mời tôn giá để dịp khác.
Người đàn bà kia nói:
– A, hóa ra ông là Đa Tí Hùng Đô Đại Cẩm ?
Ngừng lại một lát, y tiếp:
– Đô tổng tiêu đầu, ngưỡng mộ đã lâu, đã lâu, tôi họ Ân.
Hình như trong lòng Đô Đại Cẩm thấy hơi khoan khoái, mới hỏi:
– Tôn giá có việc gì cần sai khiến?
Người khách họ Ân nói:
– Tôi hỏi ông trước đã, xem ông có nhận được không. Món hàng này rất là quan trọng, không thể sai sót nửa phân.
Đô Đại Cẩm cố dằn cơn giận, nói:
– Long Môn tiêu cục của chúng tôi mở ra đã hai chục năm nay, quan tiêu, diêm tiêu, kim ngân châu báu, lớn mấy chăng nữa cũng đã từng tiếp qua, trước nay chưa hề sai sẩy bao giờ.
Du Đại Nham đã từng nghe danh Đô Đại Cẩm, biết rằng y là tục gia đệ tử của phái Thiếu Lâm, quyền chưởng đơn đao, đều xuất sắc, lại thêm tài ném cương tiêu, có thể một hơi ném liền bảy lần bảy bốn mươi chín mũi, vì thế trên giang hồ đặt cho y một ngoại hiệu là Đa Tí Hùng.[7] Long Môn tiêu cục của y ở Giang Nam cũng khá nổi danh. Tuy nhiên đệ tử hai phái Võ Đương, Thiếu Lâm trước nay ít lai vãng, thân cận nên tuy có nghe tiếng, nhưng hai người không biết nhau.
Chàng nghe người khách họ Ân kia cười nho nhỏ, nói:
– Nếu tôi chẳng nghe tiếng Long Môn tiêu cục không sai sót, thì đâu có tới đây làm gì? Đô tổng tiêu đầu, tôi có một món hàng giao cho ông, nhưng có ba điều kiện.
Đô Đại Cẩm nói:
– Những món hàng cồng kềnh lôi thôi chúng tôi không nhận, lai lịch không minh bạch chúng tôi cũng không nhận, hàng nào dưới năm vạn lượng chúng tôi cũng không nhận.
Y chưa nghe ba điều của khách đã nói trước ba điều của mình. Người họ Ân nói:
– Món hàng của tôi ư, thật không có gì hợp với những điều đó. Đã không những cồng kềnh, lai lịch cũng không rõ ràng, còn nói về giá trị thì cũng khó nói. Thế nhưng ba điều của tôi không dễ gì đâu. Thứ nhất, phải đích thân Đô tổng tiêu đầu áp tống. Thứ hai, từ phủ Lâm An đưa đến phủ Tương Dương, Hồ Bắc, ngày đêm không nghỉ, trong mười ngày phải đến. Thứ ba, nếu có nửa phân sai sót chậm trễ, ha ha, không nói gì tính mệnh Đô tổng tiêu đầu mà thôi, đến toàn thể Long Môn tiêu cục gà chó cũng không còn.
Chỉ nghe bình một tiếng, hẳn là Đô Đại Cẩm đập tay lên bàn, quát lên:
– Ngươi muốn kiếm người đùa chơi cho vui, đừng có đến Long Môn tiêu cục. Không phải vì ta thấy ngươi gầy gò, ẻo lả, trên người chưa được ba lạng thịt, thì hôm nay đã cho ngươi biết tay.
Người họ Ân lại hắc hắc cười khẩy mấy tiếng, nghe mấy tiếng lịch bịch, có vật gì nặng ném lên bàn, nói:
– Đây là hai nghìn lượng vàng phí dụng bảo tiêu, đưa ông cầm trước.
Du Đại Nham nghe thế, trong lòng kinh ngạc:
– Hai nghìn lượng hoàng kim, đáng giá đến mấy vạn lượng bạc. Nếu cứ như tiêu cục đưa mười lấy về một, món hàng bảo tiêu cũng phải mấy vạn lượng vàng, nếu có chuyện gì không biết phải khó nhọc bao nhiêu năm mới có thể đền cho đủ.
Du Đại Nham cổ không động đậy được, mở mắt trừng trừng chỉ nhìn được lá cờ thêu con cá cắm trong bình, lúc đó thấy tòa đại sảnh bỗng dưng lặng thinh, chỉ nghe thấy tiếng ruồi nhặng vo ve, bay qua trước mặt. Chỉ nghe thấy tiếng thở của Đô Đại Cẩm trở nên nặng nề, dồn dập, Du Đại Nham tuy không thấy mặt, nhưng cũng hình dung ra y đang há hốc mồm, trố mắt nhìn hai nghìn lượng vàng sáng chói trên mặt bàn, trong lòng hoang mang, nghĩ đến việc y mở tiệm bảo tiêu, hàng ngày nhìn thấy kim ngân châu báu, nhưng nhìn tới nhìn lui cũng chỉ là tài vật của người khác, lúc này bỗng thấy hai nghìn lượng vàng ngay trước mặt, chỉ cần gật đầu, số vàng đó sẽ thuộc về mình, làm gì không khỏi động tâm?
Một lát sau, nghe Đô Đại Cẩm nói:
– Ân đại gia, ngài định nhờ tôi bảo tiêu món hàng gì?
Người họ Ân đáp:
– Tôi hỏi ông trước đã. Tôi đưa ra ba điều kiện trên, ông có theo được hay không?
Đô Đại Cẩm tính toán một hồi, giơ tay vỗ đùi một cái, nói:
– Ân đại gia đã đưa ra một giá cao như thế, họ Đô này dù có sống chết cũng phải làm. Bảo vật của Ân đại gia bao giờ thì đem đến?
Người họ Ân đáp:
– Món hàng tôi nhờ ông bảo vệ, chính là vị gia đài nằm trên cáng kia kìa.
Lời đó nói ra, Đô Đại Cẩm dĩ nhiên kinh ngạc ?Ồ? lên một tiếng, mà chính Du Đại Nham cũng hết sức ngạc nhiên, không nhịn được phải kêu lên : ?Ta ? ta ?? Nào ngờ tuy chàng há mồm thật to nhưng không phát ra thành tiếng, giống như người bị ma đè, dù cố gắng cách nào, nhưng cũng không vùng vẫy được, hóa ra lúc này toàn thân chàng đã bị phế, chỉ còn hai mắt chưa mù, tai chưa điếc thôi. Chỉ nghe Đô Đại Cẩm lắp bắp hỏi:
– Là ? là vị gia đài này ư?
Người họ Ân đáp:
– Đúng thế. Ông phải đích thân hộ tống, đổi xe, đổi ngựa nhưng không đổi người, đi suốt ngày đêm không nghỉ, trong mười ngày phải đưa lên núi Võ Đương, phủ Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc, giao cho chưởng môn tổ sư phái Võ Đương là Trương Tam Phong chân nhân.
Du Đại Nham nghe thấy câu đó, thở phào một cái, thấy yên bụng. Chàng nghe Đô Đại Cẩm hỏi:
– Phái Võ Đương? Chúng tôi là đệ tử phái Thiếu Lâm, tuy không có liên hệ gì với phái Võ Đương, nhưng có điều ? có điều trước nay chưa hề lai vãng ? thành thử ?
Người họ Ân cười nhạt nói:
– Vị gia đài này thân bị trọng thương, chỉ chậm giây lát thì dù nghìn vạn lạng vàng cũng không mua được. Món hàng này ông nhận thì nói, mà không nhận cũng nói. Đại trượng phu một lời đã quyết, chứ có gì mà thành thử hay vì chưng ??
Đô Đại Cẩm nói:
– Được rồi, nể mặt Ân đại gia, Long Môn tiêu cục chúng tôi nhận món hàng này.
Người họ Ân mỉm cười, nói:
– Tốt lắm. Hôm nay là hai mươi chín tháng ba, đến mồng chín tháng tư, nếu như ngươi không mang được vị gia đài này đến núi Võ Đương bình an, thì tất cả Long Môn tiêu cục dù con gà con chó cũng không để cho sống sót.
Nghe thấy tiếng leng keng leng keng, hơn một chục ngân châm nhỏ li ti bắn ra, cắm vào chiếc bình dùng để cắm ngọn tiêu kỳ, nghe choang một tiếng, chiếc bình sứ vỡ thành hơn chục mảnh, văng ra bốn phía.
Công phu phát xạ ám khí đó khiến ai nấy đều kinh hãi. Đô Đại Cẩm hoảng sợ kêu lên ?Ối chà?. Du Đại Nham trong lòng cũng sợ. Chỉ thấy người họ Ân nọ quát lớn:
– Thôi đi!
Những người khiêng Du Đại Nham để cái cáng xuống đất, cả bọn lục tục đi ra.
Một lát sau, Đô Đại Cẩm mới định thần, đến trước Du Đại Nham, nói:
– Gia đài cao tính đại danh là gì, có phải là người phái Võ Đương chăng?
Du Đại Nham chỉ giương mắt lên nhìn y, không sao trả lời được. Chàng thấy vị Đô tổng tiêu đầu này ước chừng trên dưới năm mươi tuổi, thân thể cao to, bắp thịt cánh tay cuồn cuộn, tướng mạo uy võ, rõ ràng là một hảo thủ của ngoại gia.
Đô Đại Cẩm lại nói tiếp:
– Vị Ân đại gia đó trông tuấn tú nho nhã thế, không ngờ võ công thật kinh người, không hiểu thuộc môn phái nào?
Y hỏi luôn mấy câu, Du Đại Nham chỉ nhắm mắt lại không lý gì đến. Đô Đại Cẩm trước nay vẫn tự hào là hảo thủ về phát xạ ám khí, cái ngoại hiệu Đa Tí Hùng rất vang dội, nhưng gã thiếu niên họ Ân kia chỉ vung tay áo, mấy chục mũi kim châm nhỏ như lông bò đã bắn vỡ tan một cái bình sứ, môn công phu đó, y tự nhủ không sao bì kịp.
Đô Đại Cẩm trông coi Long Môn tiêu cục hơn hai mươi năm nay, những chuyện lạ trên chốn giang hồ vốn đã thấy qua ít nhiều, nhưng việc đem hai nghìn lượng vàng để bảo vệ một người sống, chẳng những tay mình chưa hề nhận qua, mà có lẽ trên thiên hạ các tiêu hãng khác cũng chưa nghe đến. Nghĩ thế rồi thu nhặt hoàng kim, sai người khiêng Du Đại Nham vào phòng nghỉ ngơi, cho gọi tất cả các tiêu đầu trong tiêu cục, đóng xe thắng ngựa, ngay hôm đó lên đường.
Mọi người ăn uống xong, hàng hóa chất lên, tên chạy hiệu tay cầm lá cờ thêu con lý ngư đang vượt sóng, chạy ra cửa chính tiêu cục trương lên, lớn tiếng rao:
– Long Môn lý tam dược, Ngư nhi hóa vi long.[8] Du Đại Nham nằm trong xe, trong lòng thật là cảm khái: ?Ta Du Đại Nham tung hoành trên giang hồ, trước nay không coi bọn bảo tiêu ra cái gì, không ngờ hôm nay gặp phải đại nạn, lại phải nhờ đến bọn này hộ tống lên núi Võ Đương.? Lại nghĩ thêm: ?Vị bằng hữu cứu ta họ Ân kia là ai không biết, nghe giọng yểu điệu, có lẽ là đàn bà, Đô tổng tiêu đầu lại nói hình dung tuấn nhã, nhưng võ công trác tuyệt, hành sự khác người, chỉ tiếc ta không được gặp mặt y, để có một lời tạ ơn. Nếu Du Đại Nham này không chết, ơn đó có ngày sẽ báo đáp.?
Một hàng nhân mã ngựa không ngừng vó theo hướng tây mà đi, hộ tiêu ngoài Đô, Chúc, Sử ba tiêu đầu còn có thêm bốn tiêu sư trẻ tuổi khỏe mạnh. Ngựa chọn toàn là khoái mã, y như gã họ Ân đó nói, trên đường có đổi xe, đổi ngựa nhưng không đổi người, ngày đêm không lúc nào ngừng nghỉ.
Khi ra khỏi Lâm An, Đô Đại Cẩm trong bụng đầy những lo lắng, không biết trên đường sẽ xảy ra bao nhiêu trận ác đấu, nào ngờ khi đi qua Chiết Giang, An Huy, đến tỉnh Ngạc[9], mấy ngày liền đều thái bình vô sự. Sau đó họ qua Phàn Thành, ngang Thái Bình điếm, Tiên Nhân độ, huyện Quang Hóa, sang sông Hán Thủy đến Lão Hà khẩu, chỉ còn cách núi Võ Đương một ngày đường.
Hôm sau khi chưa đến giờ ngọ, họ đã đến Song Tỉnh Tử, chỉ còn cách núi Võ Đương chừng vài mươi dặm. Đường đi tuy có khó nhọc, nhưng không trễ hạn kỳ người khách họ Ân đã đưa ra, đúng ngày mồng chín tháng tư là đến núi Võ Đương. Từ hôm ra đi ai nấy đều canh cánh trong lòng đến nay cả bọn đều thấy trong người thơ thới, nhẹ nhõm.
Khi ấy trời đang vào cuối xuân, đầu hạ, trên sơn đạo hoa nở rực rỡ đón chào, trông thật đẹp mắt. Đô Đại Cẩm cầm roi ngựa chỉ lên ngọn Thiên Trụ Phong ẩn trong mây, nói:
– Chúc tam đệ, mấy năm gần đây phái Võ Đương thanh thế cực thịnh, tuy chưa bằng phái Thiếu Lâm chúng ta, nhưng Võ Đương thất hiệp danh tiếng vang dội, qua lại giang hồ đạt được tiếng tăm rất hiển hách. Xem ngọn Thiên Trụ Phong cao vượt từng mây, người thường nói nhân kiệt địa linh, phái Võ Đương xem quả có khác thật.
Chúc tiêu đầu nói:
– Phái Võ Đương tuy mấy năm gần đây thanh uy có lớn thật, nhưng nói cho cùng thì gốc rễ cũng chưa sâu, nếu so với đạo hạnh của phái Thiếu Lâm đã có hơn nghìn năm nay, thì làm sao bằng được. Không nói chi xa cứ ngay hai mươi bốn thế Hàng Ma Chưởng và bốn mươi chín mũi liên hoàn cương tiêu của tổng tiêu đầu thôi, người của phái Võ Đương ắt không thể nào tinh thuần đến thế được.
Sử tiêu đầu tiếp lời:
– Đúng vậy, lời đồn trên giang hồ, quá nửa không đúng sự thực. Võ Đương thất hiệp thanh danh có vang dội thật nhưng chân thực võ công đến bực nào, bọn mình cũng đâu đã nhìn thấy. Chỉ e toàn là do những người quê mùa trên chốn giang hồ thêm dầu thêm mỡ, phóng đại bản lĩnh của họ lên đến tận trời xanh.
Đô Đại Cẩm mỉm cười, kiến thức của y so với hai người Chúc, Sử cao hơn nhiều, trong lòng biết rằng thịnh danh của Võ Đương thất hiệp không phải khi không mà có, ắt tài nghệ phải kinh người. Thế nhưng y làm nghề bảo tiêu hơn hai mươi năm qua, ít khi gặp địch thủ, đối với công phu của mình cũng mười phần tin tưởng, nghe Chúc, Sử hai người một tung một hứng tán dương tài nghệ, dẫu rằng những câu đó nghe không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng vẫn không khỏi đắc ý thầm.
Đi được một quãng, sơn đạo hẹp dần, ba con ngựa không còn sóng vai được nữa. Sử tiêu đầu gò cương đi sau vài bước, Chúc tiêu đầu nói:
– Tổng tiêu đầu, khi gặp lão đạo phái Võ Đương Trương Tam Phong mình làm lễ như thế nào?
Đô Đại Cẩm nói:
– Hai bên không cùng môn phái, đúng ra thì coi như ngang hàng. Có điều là Trương lão đạo nay đã chín mươi tuổi rồi, trong võ lâm hiện nay thì ông ta cao tuổi hơn cả, bọn mình tôn trọng võ lâm tiền bối, có dập đầu mấy cái cũng không sao.
Chúc tiêu đầu nói:
– Cứ theo tôi, bọn mình khom lưng nói: ?Trương chân nhân, bọn vãn bối xin khấu đầu lễ ngài.? Ông ấy thể nào cũng đưa tay ngăn lại, nói: ?Từ xa đến là khách, không phải đa lễ.? Thế là mình khỏi phải lạy mấy cái.
Đô Đại Cẩm mỉm cười tự hỏi người nằm trong chiếc xe bóng nhoáng kia quả thực là ai. Người đó mười hôm nay không nói một lời, cũng không cử động, ăn uống toàn do những người chạy hiệu trong tiêu hãng lo cho. Đô Đại Cẩm cùng các tiêu sư đã đàm luận nhiều lần, nhưng cũng không tìm ra mối manh y là ai, là đệ tử phái Võ Đương chăng? Hay là bằng hữu của họ? Hay là kẻ thù của phái Võ Đương bị người ta bắt được đem lên núi? Đô Đại Cẩm càng gần núi Võ Đương thêm một bước, việc nghi hoặc trong lòng lại thêm một tầng. Y biết rằng không lâu nữa sẽ gặp Trương Tam Phong, chỉ nhìn mặt cũng sẽ minh bạch ngay, thế nhưng là họa hay phúc, không thể nào không áy náy.
Trong khi y còn đang trầm ngâm, bỗng nghe thấy tiếng vó câu từ sơn đạo phía tây vọng đến. Chúc tiêu đầu giục cương chạy lên xem. Chẳng mấy chốc, thấy có sáu con ngựa chạy ra, đến trước đoàn người của tiêu hãng chừng mươi trượng thì dừng lại, ba người trước, ba người sau. Đô Đại Cẩm trong lòng than thầm: ?Chẳng lẽ khi đã đến chân núi Võ Đương lại có chuyện?? Y nói nhỏ với Sử tiêu đầu:
– Cẩn thận bảo vệ cái xe lớn.
Nói rồi giục ngựa chạy lên. Tên chạy hiệu cầm dược lý tiêu kỳ cuộn lại rồi dương ra, đó là cách thức kính lễ, rao to lên:
– Long Môn tiêu cục ở phủ Lâm An đi qua quí địa, lễ vật chưa chu toàn, xin quí vị hảo bằng hữu rộng lòng tha thứ cho.
Đô Đại Cẩm xem sáu người chặn đường kia, chỉ có hai người mặc áo mũ màu vàng theo kiểu đạo sĩ, còn bốn người kia mặc quần áo thường. Những người này bên hông đều đeo đao kiếm, người nào cũng đầy vẻ anh khí, tinh thần sung túc. Đô Đại Cẩm chợt động tâm : ?Phải chăng đây là sáu người trong Võ Đương thất hiệp?? nên vọt ngựa lên trước, chắp tay nói:
– – Tại hạ là Đô Đại Cẩm của Long Môn tiêu cục ở phủ Lâm An, không dám xin hỏi cao tính đại danh của quí vị?
Người bên phải trong ba người hàng đầu dáng gầy cao, trên má bên trái có một nốt ruồi đen, trên nốt ruồi có mọc ba sợi lông dài, lạnh lùng nói:
– Đô huynh đến núi Võ Đương có chuyện gì thế?
Đô Đại Cẩm nói:
– Tệ cục nhận lời gửi gấm của người, đưa một người bị thương lên quí sơn, mong được gặp chưởng môn quí phái là Trương chân nhân.
Người đó hỏi lại:
– Đưa một người bị thương? Là ai thế?
Đô Đại Cẩm nói:
– Chúng tôi nhận lời một người khách họ Ân dặn dò, mang vị gia đài bị trọng thương đưa lên núi Võ Đương. Vị gia đài đó là ai, tại sao bị thương, bên trong có chuyện gì, chúng tôi hoàn toàn không biết. Long Môn tiêu cục nhận lời của người, làm tròn việc người ta giao, còn việc riêng của khách, chúng tôi trước nay không bao giờ hỏi đến.
Y bôn ba chốn giang hồ đã mấy chục năm, lại trông coi một hãng bảo tiêu, làm việc dĩ nhiên trơn tru, đầy đặn, câu nói đó nói ngay không can hệ gì đến mình, Du Đại Nham dù là bằng hữu của phái Võ Đương cũng được, mà dù là kẻ thù cũng không sao, không ai trách gì y được.
Người mặt có nốt ruồi quay qua hai người đứng bên đưa mắt một cái, rồi hỏi:
– Người khách họ Ân ư? Người đó hình dáng thế nào?
Đô Đại Cẩm đáp:
– Khách quan đó còn trẻ tuổi, người tuấn nhã đẹp đẽ, công phu ném ám khí thật hay.
Người có nốt ruồi đen hỏi thêm:
– Ngươi đã cùng y động thủ rồi ư?
Đô Đại Cẩm vội vàng chối:
– Không, không phải. Người đó tự mình ?
Câu nói chưa dứt, một gã lùn thấp trong những người đứng hàng đầu cướp lời:
– Còn Đồ Long đao đâu? Ở trong tay ai?
Đô Đại Cẩm ngạc nhiên hỏi:
– Cái gì đao Đồ Long? Có phải cái mà trước nay vẫn tương truyền ?Võ Lâm Chí Tôn, Bảo Đao Đồ Long? chăng?
Gã lùn thấp tính tình xem chừng nóng nảy, không muốn phải giảng giải thêm, đột nhiên xoay mình nhảy xuống ngựa, chạy đến trước cỗ xe lớn, vạch màn che ra, nhìn vào bên trong.
Đô Đại Cẩm thấy y thân thủ nhanh nhẹn, cách tung mình nhảy lên và rơi xuống, tư thức xem ra có vẻ quen thuộc, nghĩ thầm: ?Tổ sư sáng phái của Võ Đương là Trương Tam Phong trước đây đã từng ở chùa Thiếu Lâm mình, trong tư thức của phái Võ Đương không thoát khỏi đường nét của Thiếu Lâm, nói là tự mình sáng tạo ra, nhưng xem ra không hẳn thế.? Cho nên y không còn nghi ngờ gì nữa, hỏi:
– Các vị có phải là Võ Đương thất hiệp danh dương giang hồ đó chăng? Vị nào là Tống đại hiệp? Tiểu đệ nghe đến anh danh đã lâu, rất là ngưỡng mộ.
Người mặt có nốt ruồi nói:
– Cái hư danh lăng nhăng ấy, đáng gì đâu mà phải nói đến? Đô huynh quá khiêm nhường đấy thôi.
Gã lùn quay lại nhảy lên ngựa, nói:
– Y bị thương nặng lắm, không thể để lỡ, bọn mình nhận lấy trước là hơn.
Người mặt có nốt ruồi ôm quyền nói:
– Đô huynh từ xa đến thật khó nhọc, tiểu đệ xin cảm tạ.
Đô Đại Cẩm chắp tay hoàn lễ, nói:
– Không dám, xin đừng quá lời.
Người kia nói:
– Vị gia đài nọ thương thế không phải là nhẹ, chúng tôi nhận đem lên núi để cứu chữa trước.
Đô Đại Cẩm chỉ mong thoát được gánh nặng, vội vàng nói:
– Tốt lắm, vậy chúng tôi ở chốn này giao lại cho phái Võ Đương.
Người kia nói:
– Đô huynh yên tâm, do tiểu đệ đảm nhận là xong. Còn tiêu kim Đô huynh đã nhận đủ chưa?
Đô Đại Cẩm đáp:
– Đã lấy trước rồi.
Người kia lấy trong bọc ra một cục vàng ròng[10] ước chừng hai chục lượng, vươn tay đưa tới, nói:
– Đây là chút tiền trà nước, xin Đô huynh thưởng cho các anh em.
Đô Đại Cẩm từ chối không nhận, nói:
– Hai nghìn lượng vàng tiêu kim, đã đủ lắm rồi. Đô mỗ không phải là người tham lam bao nhiêu cũng không chán.
Người kia giật mình:
– Ủa, hai nghìn lạng hoàng kim kia ư?
Hai người bên cạnh y thúc ngựa chạy tới, một người nhảy lên chỗ xa phu, cầm lấy dây cương, đánh xe về phía trước, bốn người còn lại chạy theo phía sau.
Người mặt có nốt ruồi giơ tay một cái, nhẹ nhàng ném khối vàng đến trước mặt Đô Đại Cẩm, cười nói:
– Đô huynh không phải khách sáo, xin mời quay về Lâm An đi thôi.
Đô Đại Cẩm thấy cục vàng ném tới trước mặt, chỉ còn cách đưa tay nhận lấy, đang định ném trả, người kia đã giục ngựa, chạy vọt đi. Năm con ngựa kèm cái xe, quẹo qua một ngã rẽ, trong giây lát không còn thấy hình bóng gì nữa.
Đô Đại Cẩm nhìn lại khối vàng, thấy có năm vết ngón tay, lõm sâu vào vài phân. Hoàng kim tuy mềm hơn đồng sắt nhiều, nhưng chỉ lực như thế, không khỏi làm cho người ta kinh sợ. Đô Đại Cẩm ngơ ngẩn nhìn theo, nghĩ thầm: ?Đại danh của Võ Đương thất hiệp, quả nhiên chẳng phải ngẫu nhiên mà có. Trong phái Thiếu Lâm mình, có lẽ chỉ có vài vị sư bá, sư thúc chuyên nghiên cứu Kim Cương Chỉ mới có công lực như thế này.?
Chúc tiêu đầu thấy y chăm chăm xuất thần nhìn vào vết ngón tay trên đĩnh vàng nói:
– Tổng tiêu đầu, đệ tử của phái Võ Đương thật là không biết lễ số, gặp mặt đã không thông báo tên họ, bọn mình vạn dặm đường xa tít mù tới chân núi Võ Đương cũng không thèm mời lên núi nghỉ chân, ăn cơm. Anh em trong võ lâm với nhau, quả không coi tình bằng hữu ra gì.
Đô Đại Cẩm trong lòng đã vốn bất mãn, chỉ không muốn nói ra lời thôi, nghe vậy cười nhạt mấy tiếng, nói:
– Thì cũng đỡ cho mình mấy bước đi, chẳng cũng tốt sao? Đệ tử Thiếu Lâm bước chân vào đạo quan của phái Võ Đương, cũng thật là khó xử. Hai vị hiền đệ, thôi mình về phủ là vừa.
Chuyến bảo tiêu này tuy không gặp gì rắc rối, nhưng mọi việc do người ta sai khiến, dù vô tình hay cố ý thì cũng bị chiết nhục, Võ Đương thất hiệp đến tính danh cũng không thèm nói ra, rõ ràng chẳng coi bọn họ ra gì. Đô Đại Cẩm càng nghĩ càng tức, trong bụng tính thầm làm cách nào để cho hả giận. Một đoàn người theo đường cũ mà về, Đô Đại Cẩm trong lòng không vui, nhưng các tiêu sư và chạy hiệu trong lòng đều cao hứng, nghĩ lại mười ngày đêm gian khổ, đổi lấy hai nghìn lượng kim tiêu, tổng tiêu đầu trước nay tiền bạc rộng rãi, anh em thể nào cũng được hoa hồng phong hậu.
Đi đến chiều, cách Song Tỉnh Tử chỉ chừng mươi dặm, Chúc tiêu đầu thấy Đô Đại Cẩm mặt mày u uất, nói:
– Tổng tiêu đầu, việc ngày hôm nay, không nên để bụng. Núi cao sông dài, trên chốn giang hồ rồi cũng có ngày gặp lại nhau, để xem uy phong Võ Đương thất hiệp được đến đâu?
Đô Đại Cẩm thở dài đáp:
– Có một việc, trong lòng ta nghĩ lại mà hối hận.
Nói đến đây, bỗng nghe đằng sau có tiếng vó câu vọng đến, một con ngựa từ sau phi tới, tiếng chân lộp cộp, chạy ra vẻ rất nhàn nhã, nhưng lạ lùng thay mỗi lúc một gần. Mọi người quay đầu nhìn lại, hóa ra con ngựa đó bốn chân thật dài, thân so với ngựa thường phải cao hơn ít nhất là một thước. Chân dài dĩ nhiên chạy phải nhanh. Con ngựa đó là giống thanh thông[11], toàn thân đầy lông mượt.
Chúc tiêu đầu buột miệng khen một câu:
– Ngựa tốt quá!
Lại nói tiếp câu chuyện hồi nãy:
– Tổng tiêu đầu, chúng mình có làm gì sai trái đâu.
Đô Đại Cẩm ngậm ngùi đáp:
– Đây là ta nói chuyện hai mươi lăm năm trước. Lúc đó ta còn học nghệ tại chùa Thiếu Lâm, đang định xuống núi. Ân sư muốn giữ ta lại dăm năm, để dạy ta học cho hết pho Đại Vi Đà Chưởng. Lúc đó ta tuổi còn trẻ, khí thịnh, cứ nghĩ rằng với tài nghệ của mình, đã đủ để hành tẩu trên chốn giang hồ, không muốn chịu khổ sở ở lại chùa lâu hơn nữa, nên chẳng nghe lời khuyên của ân sư. Chao ôi, nếu như lúc đó ta chịu khó thêm năm năm khổ công, hôm nay nào có coi bọn Võ Đương thất hiệp ra gì đâu, khỏi phải một phen chịu họ làm nhục ?
Vừa nói đến đó, con ngựa thanh thông vượt qua bên cạnh đoàn xe của tiêu đội, người cưỡi ngựa liếc nhìn Đô Đại Cẩm và Chúc tiêu đầu hai người một cái, mặt lộ vẻ kinh ngạc.
Đô Đại Cẩm thấy có người đi qua nên ngừng lời, trên lưng ngựa là một thiếu niên ước chừng hai mươi mốt, hai mươi hai tuổi, mặt mày tuấn tú, tuy dáng người có hơi xanh xao, nhưng thần lãng khí sảng, thân hình tuy gầy yếu nhưng không kém vẻ nhanh nhẹn, hoạt bát. Thiếu niên đó ôm quyền chào:
– Làm ơn cho qua, làm ơn cho qua!
Con ngựa thanh thông y cưỡi vẫn sải vó, vượt qua tiêu đội, chạy vọt về phía trước.
Đô Đại Cẩm nhìn đằng sau lưng người nọ, hỏi:
– Chúc hiền đệ, ngươi xem người này là loại người nào?
Chúc tiêu đầu đáp:
– Y từ trên núi xuống, có lẽ là đệ tử phái Võ Đương không chừng. Có điều y không đeo binh khí, thân thể lại gầy gò yếu đuối, không ra vẻ người luyện võ chút nào.
Vừa nói tới đó, thiếu niên đó đột nhiên quay đầu ngựa vòng lại, từ đằng xa đã ôm quyền nói:
– Xin lỗi đã làm rộn quí vị, tiểu đệ có câu muốn hỏi, đừng trách cứ.
Đô Đại Cẩm thấy y ăn nói lễ độ, dừng ngựa hỏi lại:
– Tôn giá muốn hỏi điều gì?
Chàng thiếu niên nhìn tên chạy hiệu cầm trong tay tiêu kỳ có thêu con cá đang vượt vũ môn, nói:
– Quí cục có phải Long Môn tiêu cục ở phủ Lâm An chăng?
Chúc tiêu đầu đáp:
– Chính thị.
Người thiếu niên lại nói:
– Xin hỏi các vị cao tính đại danh? Đô tổng tiêu đầu của quí cục vẫn mạnh khỏe chứ?
Chúc tiêu đầu tuy thấy y dịu dàng lễ phép, nhưng trên chốn giang hồ, lòng người khó dò, không nên mới gặp đã nói thực ngay, nên nói:
– Tại hạ họ Chúc. Quí tính của bằng hữu là gì? Có quen biết gì với tổng tiêu đầu của tệ cục chăng?
Chàng thanh niên xoay mình nhảy xuống ngựa, một tay cầm cương, bước tới vài bước, nói:
– Tại hạ họ Trương, tiện tự Thúy Sơn. Đã từng ngưỡng mộ đại danh Đô tổng tiêu đầu của quí cục, nhưng vô duyên chưa được gặp.
Y vừa báo danh là Trương Thúy Sơn, Đô Đại Cẩm và Chúc, Sử nhị tiêu đầu đều kinh ngạc. Trương Thúy Sơn là người đứng hàng thứ năm trong Võ Đương thất hiệp. Trong những năm gần đây, võ lâm nhiều người ca ngợi đại danh, đều nói võ công của y rất cao cường, nào ngờ lại là một thiếu niên văn chất nho nhã, gầy gò ẻo lả như thế. Đô Đại Cẩm nửa tin nửa ngờ, vọt ngựa lên nói:
– Tại hạ chính là Đô Đại Cẩm, các hạ có phải là người trên giang hồ vẫn thường ca ngợi Ngân Câu Thiết Hoạch Trương ngũ hiệp chăng?
Thiếu niên nọ mỉm cười:
– Có gì là hiệp với không hiệp, Đô tổng tiêu đầu nói quá lời. Các vị đến núi Võ Đương, sao qua cửa không vào? Hôm nay chính là ngày tiệc thọ chín mươi tuổi của gia sư, nếu không làm lỡ việc gì gấp rút của các vị, xin mời lên núi uống chén thọ tửu được không?
Đô Đại Cẩm nghe y ăn nói thành khẩn, nghĩ thầm:
– Võ Đương thất hiệp sao nhân phẩm không giống nhau tí nào? Sáu người kia ngạo mạn vô lễ, còn vị Trương ngũ hiệp này lại thật là khiêm hòa thân mật.
Nghĩ thế liền nhảy xuống ngựa, cười nói:
– Nếu như lệnh sư huynh đều có bụng yêu bằng hữu như Trương ngũ hiệp, giờ này bọn chúng tôi chắc đang ở trên núi Võ Đương rồi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Cái gì? Tổng tiêu đầu đã gặp các sư huynh của tôi rồi ư? Người nào thế?
Đô Đại Cẩm nghĩ thầm: ?Ngươi thật là giỏi đùa cợt, đến lúc này mà còn giả ngây giả dại.? liền nói:
– Tại hạ hôm nay thật là may mắn, chỉ trong một ngày, gặp được đủ cả Võ Đương thất hiệp.
Trương Thúy Sơn ?A? lên một tiếng, đứng ngẩn người một hồi, hỏi lại:
– Thế Du tam ca của tôi ông đã gặp chưa?
Đô Đại Cẩm nói:
– Du Đại Nham Du tam hiệp ư? Tôi chẳng biết vị nào là Du tam hiệp. Chỉ được gặp sáu người, ắt là Du tam hiệp cũng ở trong số đó.
Trương Thúy Sơn nói:
– Sáu người? Thế thì lạ thật? Sáu người nào vậy nhỉ?
Đô Đại Cẩm hậm hực đáp:
– Các vị sư huynh đệ của ông không ai thông danh báo tính, làm sao tôi biết được? Các hạ là Trương ngũ hiệp, những người kia ắt phải là Tống đại hiệp cho chí Mạc thất hiệp chứ còn vào đâu được nữa.
Y nói đến chữ hiệp đều ngừng lại một tí, âm thanh kéo dài, có ý mỉa mai.
Thế nhưng Trương Thúy Sơn đang suy nghĩ, nên không để ý, hỏi thêm:
– Quả Đô tổng tiêu đầu thấy tận mắt ư?
Đô Đại Cẩm nói:
– Không phải chỉ mình tôi, mà cả tiêu hãng này, mấy chục đôi mắt đều thấy cả.
Trương Thúy Sơn lắc đầu:
– Như thế nhất định là không phải. Tống sư ca và những người kia hôm nay đều ở tại Tử Tiêu Cung hầu hạ sư phụ, chưa hề đặt chân xuống núi một bước. Sư phụ và Tống sư ca thấy quá ngọ rồi mà Du tam ca chưa về núi, nên sai tiểu đệ xuống dưới này chờ, làm sao Đô tổng tiêu đầu lại gặp được bọn Tống sư ca được?
Đô Đại Cẩm nói:
– Thế vị có một nốt ruồi đen trên mặt, trên nốt ruồi có ba sợi lông dài là Tống đại hiệp hay Du nhị hiệp?
Trương Thúy Sơn ngạc nhiên:
– Trong số sư huynh đệ của tôi, không ai trên mặt có nốt ruồi, trên nốt ruồi mọc lông cả.
Đô Đại Cẩm nghe thấy nói như thế, một luồng hơi lạnh chạy từ tim lên, nói:
– Sáu người đó tự xưng là Võ Đương thất hiệp, lại xuất hiện ngay dưới chân núi Võ Đương, trong số đó lại có hai người đội mũ đạo sĩ, chúng tôi tự nhiên ?
Trương Thúy Sơn ngắt ngang:
– Sư phụ chúng tôi tuy là đạo nhân, nhưng thu nhận toàn là tục gia đệ tử. Bọn sáu người đó tự xưng là Võ Đương lục hiệp ư?
Đô Đại Cẩm nhớ lại chuyện lúc đó, mới nghĩ ra là mình cho rằng họ là Võ Đương lục hiệp chứ đối phương không một lời nào tỏ lộ thân phận cả, chỉ không phủ nhận những sai lầm của mình thôi. Y cùng hai tiêu đầu Chúc, Sử mặt mày hoang mang, một lát sau mới nói:
– Nếu thế thì xem ra bọn sáu người này không có hảo ý, phải duổi theo ngay mới được.
Y nhảy lên ngựa, quay đầu lại theo hướng sơn lộ chạy lên.
Trương Thúy Sơn cũng lên ngựa, chạy song song với Đô Đại Cẩm, hỏi:
– Bọn sáu người đó mạo nhận tên tuổi, Đô huynh mặc họ đuổi theo làm gì.
Đô Đại Cẩm thở hổn hển nói:
– Đâu phải chỉ bọn họ. Tôi còn được người ta dặn dò phải mang người nọ lên giao cho Trương chân nhân. Sáu người đó giả mạo tính danh, nhận người đó đem đi rồi, e rằng ? e rằng có điều không ổn ?
Trương Thúy Sơn hỏi lại:
– Đô huynh phải đem ai giao cho sư phụ tôi? Sáu người đó nhận người nào?
Đô Đại Cẩm giục ngựa chạy nhanh hơn, một mặt kể lại đầu đuôi việc người ta ủy thác y giao một người trọng thương lên núi Võ Đương như thế nào. Trương Thúy Sơn hơi ngạc nhiên, hỏi:
– Người bị thương nặng kia tên họ là gì? Tuổi tác hình dáng ra sao?
Đô Đại Cẩm nói:
– – Nào ai biết tên gì họ gì, y bị thương nặng không nói được, cũng không động đậy, chỉ còn thở thoi thóp thôi. Người đó chừng độ trên dưới ba mươi.
Sau đó y mô tả lại tướng mạo, hình dáng Du Đại Nham.
Trương Thúy Sơn giật mình kinh hãi, kêu lên:
– Đó là ? là Du tam ca của tôi rồi.
Tuy trong lòng hoảng loạn, nhưng chỉ giây lát chàng đã trấn tĩnh được, đưa tay trái nắm cương ngựa Đô Đại Cẩm níu lại. Con ngựa đó đang chạy nhanh, bị Trương Thúy Sơn ghìm lại, lập tức đứng dừng ngay tại chỗ, không có thể bước lên đến nửa bước, máu từ mép chảy ra ào ào, hí lên rầm rĩ. Đô Đại Cẩm bị hất rơi phịch xuống đất, chỉ nghe soạt một tiếng đã rút thanh đơn đao ra khỏi vỏ. Y thầm sợ trong lòng, không ngờ người này thân hình gầy yếu, nhưng chỉ giơ tay gò cương, đã giữ một con ngựa khỏe không sao chạy được.
Trương Thúy Sơn nói:
– Đô đại ca đừng hiểu lầm, ông đường xa vạn dặm hộ tống sư ca của tôi đến đây, tiểu đệ hết sức cảm kích, không dám có ý gì khác đâu.
Đô Đại Cẩm hừ một tiếng, đút đao vào vỏ nhưng tay phải vẫn để trên cán. Trương Thúy Sơn nói:
– Du tam ca của tôi vì sao bị thương? Kẻ địch là ai? Ai là người nhờ Đô đại ca đưa anh ấy đến đây?
Cả ba câu hỏi đó Đô Đại Cẩm không trả lời được câu nào. Trương Thúy Sơn nhíu mày, hỏi tiếp:
– Những người tiếp nhận Du tam ca của tôi hình dáng ra sao?
Sử tiêu đầu mồm miệng nhanh nhảu, chen vào mô tả bọn người đó. Trương Thúy Sơn nói:
– Tiểu đệ đi trước một bước.
Nói rồi ôm quyền chào, giục ngựa chạy trước. Con ngựa thanh thông ra sức chạy, dĩ nhiên nhanh vô tả. Chỉ thấy hai bên tai gió vù vù, cây cối hai bên vùn vụt chạy về phía sau. Võ Đương thất hiệp cùng học với nhau, lại chung sức hành hiệp giang hồ, tình nghĩa khác gì ruột thịt. Trương Thúy Sơn nghe nói sư ca bị trọng thương, lại rơi vào tay một bọn người lai lịch không rõ rệt, lòng nóng như lửa đốt, giục ngựa luôn tay, dù con tuấn mã có lăn ra chết chắc chàng cũng không tiếc.
Chàng chạy một mạch đến khi gặp một túp lều tranh, ở đó là ngã ba đường, một lối đi lên núi Võ Đương, một lối hướng đông bắc đi về Vân Dương. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Nếu bọn này có lòng tốt đưa Du tam ca lên núi Võ Đương thì khi xuống núi ắt là mình đã gặp.? Nghĩ vậy chàng kẹp hai đùi, giục ngựa chạy về hướng đông bắc.
Thôi đường đó phải đến hơn nửa giờ, con ngựa tuy khỏe nhưng cũng chịu không nổi, càng lúc càng chậm dần. Nhìn trời thấy đã sắp tối mà đường núi không một bóng người, muốn hỏi thăm cũng không biết hỏi ai. Trương Thúy Sơn không ngừng tính toán trong đầu: ?Du tam ca võ công trác tuyệt, sao lại có thể bị người ta đánh đến trọng thương? Thế nhưng xem thần tình của Đô Đại Cẩm thì y không có vẻ nói láo.? Nhìn đường xem chừng đã sắp đến Thập Yển trấn.
Bỗng chàng thấy bên đường có một cỗ xe lớn lật nghiêng nằm trong đám cỏ cao. Đến gần hơn nữa, thấy con ngựa kéo xe đầu bị đánh vỡ, óc tung tóe, nằm chết trên mặt đất.
Trương Thúy Sơn nhảy xuống, lật rèm xe ra xem, thấy trong xe không có người. Chàng quay đầu trở lại, thấy trong đám cỏ dày có một người nằm phủ phục, không động đậy, tựa như đã chết từ lâu. Trương Thúy Sơn tim đập liên hồi, vội vàng chạy đến, nhìn phía sau thấy đúng là sư huynh Du Đại Nham, vội vàng thò tay bế lên.
Trong ánh chiều mờ mờ, chỉ thấy y hai mắt nhắm nghiền, mặt vàng như nghệ, thần sắc cực kỳ đáng sợ. Trương Thúy Sơn vừa kinh hãi vừa đau lòng, lấy má mình áp lên mặt y, cảm thấy còn hơi ấm. Chàng mừng quá, đưa tay vào sờ trên ngực, thấy trái tim vẫn còn đập nhè nhẹ, có điều lúc đập lúc không, xem ra lúc nào mạch cũng có thể ngừng.
Trương Thúy Sơn rơi lệ khóc:
– Tam ca, anh sao lại ? em là ngũ đệ ? ngũ đệ đây.
Chàng ôm y từ từ đứng lên, thấy hai tay hai chân thõng xuống, hóa ra các đốt xương tay chân đều đã bị người ta đánh gãy cả rồi. Lại thấy các đốt ngón tay, cổ tay, cánh tay, đùi đều có máu tươi chảy ra, rõ ràng địch nhân hạ thủ chưa lâu. Thế nhưng tất cả cũng đều gãy cả, ra tay độc ác như thế, khiến chàng kinh sợ không dám nhìn.
Lửa giận của Trương Thúy Sơn bốc lên, mắt như muốn nổ con ngươi, biết rằng kẻ địch đi chưa xa, bằng sức con tuấn mã chắc có thể đuổi kịp, trong cơn cuồng nộ, chàng định đuổi theo nhưng nghĩ lại: ?Tam ca mệnh trong giây lát, việc cứu mạng cho anh ta cần hơn. Người quân tử báo thù mười năm chưa muộn.?
Khi chàng đi xuống dưới núi chỉ định một lát sẽ lên lại nên không mang theo binh khí hay thuốc men, thấy tình cảnh Du Đại Nham như thế, nếu đi ngựa lắc qua lắc lại, mỗi bước một thêm đau đớn. Do đó chàng nhẹ nhàng ôm sư ca lên tay, thi triển khinh công, chạy lên núi. Con ngựa thanh thông lẽo đẽo theo sau, thấy chủ nhân không cưỡi mình, dường như cũng lạ.
Ngày hôm đó chính là ngày mở tiệc mừng sinh nhật thứ chín mươi của tổ sư phái Võ Đương Trương Tam Phong. Ngay từ sáng sớm, hỉ khí đã đầy Tử Tiêu Cung, sáu người học trò từ đại đệ tử Tống Viễn Kiều trở xuống, ai ai cũng đều bái thọ sư phụ, chỉ trong bảy người còn thiếu Du Đại Nham chưa về. Trương Tam Phong cùng mọi người biết rằng Du Đại Nham hành sự cẩn trọng, đi Giang Nam để tiêu diệt bọn giặc đó cũng không phải là lợi hại gì, nên nghĩ thể nào cũng về kịp. Thế nhưng đợi đến chính ngọ vẫn chưa thấy hình bóng y đâu. Mọi người không còn nhẫn nại được nữa, Trương Thúy Sơn nói:
– Để con xuống núi đón tam ca.
Nào ngờ chàng đi rồi, cũng lại không nghe tin tức gì cả. Con ngựa thanh thông chàng cưỡi là loại chạy thật nhanh, dẫu có chạy đến Lão Hà Khẩu, quay trở về cũng còn kịp. Đến giờ dậu cũng vẫn chưa thấy y về núi. Tiệc thọ bày ra trong đại sảnh đã sẵn sàng, ngọn nến đỏ đã cháy đến quá nửa, mọi người ai nấy đều thấy trong dạ không yên. Đệ tử thứ sáu là Ân Lê Đình[12], đệ tử thứ bảy là Mạc Thanh Cốc sốt ruột đi ra đi vào Tử Tiêu Cung không biết bao nhiêu lần. Trương Tam Phong biết tính hai người học trò mình, Du Đại Nham thì ổn trọng dè dặt, có thể đảm đương việc lớn, Trương Thúy Sơn thì thông minh lanh lợi, biện sự nhanh nhẹn, xưa nay không phải là kẻ do dự, lừng khừng, đến lúc này chưa về núi hẳn có chuyện gì.
Tống Viễn Kiều nhìn ngọn hồng chúc, cười nói:
– Sư phụ, tam đệ và ngũ đệ chắc gặp chuyện không vừa ý, nên phải ra tay can thiệp. Sư phụ vẫn thường dạy chúng con phải tích đức, làm việc thiện, hôm nay là ngày đại hỉ nghìn năm chưa có một lần của lão nhân gia, hai đệ tử làm một việc nghĩa, thì cũng là một cách ăn mừng thật phải.
Trương Tam Phong vuốt bộ râu dài, cười:
– Ha ha, năm ta tám mươi tuổi, con có cứu một người quả phụ đâm đầu xuống giếng, thật là hay. Chỉ có điều cứ mười năm mới làm việc tốt một lần, người đời đợi lâu thế thì phát chán ngấy mất thôi.
Cả năm người học trò cùng cười rộ. Trương Tam Phong tính tình vui vẻ, thầy trò vẫn thường nói đùa với nhau.
Đệ tử thứ bốn Trương Tùng Khê nói:
– Lão nhân gia phải thọ tối thiểu cũng hai trăm tuổi, chúng con mỗi mười năm làm một việc tốt, tính ra cũng không phải là ít đâu.
Đệ tử thứ bảy Mạc Thanh Cốc cười:
– Ha ha, chỉ sợ bảy đệ tử chúng con không sống được lâu đến thế ?
Y nói chưa dứt câu, Tống Viễn Kiều và nhị đệ tử Du Liên Châu cùng đứng lên đi tới bên mái hiên hỏi:
– Phải tam đệ đó không?
Chỉ nghe Trương Thúy Sơn nói:
– Em đây!
Thanh âm có lẫn tiếng nghẹn ngào. Mọi người thấy chàng hai tay bồng một người tiến vào, mặt đầy vết máu lẫn mồ hôi, chạy đến trước mặt Trương Tam Phong quì xuống, khóc không ra tiếng, kêu lên:
– Sư phụ, tam ? tam ca bị người ta ám toán ?
Mọi người hết sức kinh hãi, còn Trương Thúy Sơn loạng choạng, ngã ngửa về phía sau. Chàng vừa chạy một quãng dài không ngừng, lại thêm trong lòng đau thương, đến bây giờ chịu không nổi, vừa thấy mặt sư phụ và anh em đồng môn là lăn ra bất tỉnh.
Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu biết rằng Trương Thúy Sơn ngất đi chỉ vì tâm thần xúc động, lại lao lực quá độ mà ra, còn tam sư đệ Du Đại Nham không biết sống chết ra sao. Hai người không hẹn mà cùng xông tới bế Du Đại Nham lên, chỉ thấy hơi thở rất yếu, mong manh như sợi tơ.
Trương Tam Phong thấy đứa học trò yêu bị thương đến thành như thế, trong lòng hết sức chấn động, không kịp hỏi han, đi luôn vào phòng lấy ra một bình ?Bạch Hổ Đoạt Mệnh Đan?. Miệng bình vốn gắn kín bằng sáp trắng, lúc này không còn thì giờ cạy sáp để mở nắp ra, hai ngón tay bên trái bóp nhẹ, chiếc bình vỡ tan, lấy ra ba viên thuốc màu trắng, nhét vào miệng Du Đại Nham. Thế nhưng Du Đại Nham không còn tri giác, làm sao nuốt xuống nổi?
Trương Tam Phong hai tay dùng ngón tay cái và ngón trỏ hợp lại, thành thế Hạc Chủy Kình, dùng đầu ngón tay trỏ điểm vào huyệt Long Dược trên đầu Du Đại Nham, cách vành tai ba phân, vận nội lực day nhè nhẹ. Với công lực của ông hiện giờ, sử dụng ?Hạc Chủy Kình điểm Long Dược huyệt? thì dù người có mới chết cũng phải hoàn hồn giây lát, vậy mà tay ông day đến hai mươi lần, Du Đại Nham vẫn không động đậy.
Trương Tam Phong thở dài, hai tay để thành kiếm quyết, lòng bàn tay úp xuống, cùng ấn vào huyệt Giáp Xa của Du Đại Nham. Huyệt Giáp Xa này nằm ở trên má, ngay chỗ hai hàm răng cắn lại, Trương Tam Phong âm thủ điểm vào, lập tức chưởng tâm ngửa lên trên, biến thành dương thủ, một âm một dương đổi cho nhau, đổi qua đổi lại đến lần thứ mười hai, Du Đại Nham mới há miệng ra, chầm chậm nuốt đơn dược vào cổ họng.
Ân Lê Đình và Mạc Thanh Cốc từ nãy giờ nín thở đứng xem, bây giờ cùng kêu ?A? một tiếng. Thế nhưng bắp thịt cổ họng Du Đại Nham đã cứng rồi, viên thuốc tuy vào đến cổ nhưng không xuống bụng. Trương Tùng Khê liền đưa tay xoa bóp bắp thịt cổ, còn Trương Tam Phong đưa ngón tay đóng huyệt Khuyết Bồn và Du Phủ trên vai, Dương Quan, Mệnh Môn ở sau lưng Du Đại Nham để khi y tỉnh dậy không vì đau đớn quá mà lại hôn mê.
Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu lúc bình thời thấy sư phụ dù gặp chuyện khó khăn hung hiểm cách nào cũng vẫn an nhiên, bình tĩnh, bây giờ thấy ông tay hơi run, mắt lộ vẻ kinh hoảng, hai người biết rằng thương thế tam sư đệ mười phần nguy kịch, không phải chuyện nhỏ.
Không bao lâu, Trương Thúy Sơn mơ mơ màng màng tỉnh lại, kêu lên:
– Sư phụ, tam ca có cứu được chăng?
Trương Tam Phong không trả lời, chỉ nói:
– Thúy Sơn, trên đời này có ai mà không chết?
Bên ngoài bỗng thấy tiếng chân người, một tên tiểu đồng tiến vào bẩm:
– Ngoài cửa có một tiêu khách xin được gặp tổ sư gia, nói là Đô Đại Cẩm của Long Môn tiêu cục ở phủ Lâm An.
Trương Thúy Sơn đứng vụt dậy, mặt đầy vẻ giận dữ, hét lên:
– Chính y đó.
Chạy vọt ra ngoài, chỉ nghe mấy tiếng loảng xoảng của binh khí rơi xuống đất. Ân Lê Đình và Mạc Thanh Cốc vừa định chạy ra trợ giúp sư huynh, đã thấy Trương Thúy Sơn tay phải nắm cổ một đại hán, xách vào, quăng mạnh xuống đất, giận dữ nói:
– Cũng chỉ vì tên này làm hỏng hết mọi sự.
Mạc Thanh Cốc nghe nói y làm cho tam sư ca bị thương như thế, giơ chân định đá vào Đô Đại Cẩm. Tống Viễn Kiều vội kêu lên:
– Ngừng lại.
Mạc Thanh Cốc vội vàng co chân về.
Lại nghe bên ngoài có người nói:
– Người của phái Võ Đương có nói chuyện phải quấy hay không thì bảo? Chúng tôi có hảo ý lên đây cầu kiến, sao lại làm nhục chúng tôi như thế?
Tống Viễn Kiều hơi nhướng mày, giơ tay vỗ vào sau lưng và vai của Đô Đại Cẩm mấy cái, giải các huyệt đạo do Trương Thúy Sơn điểm, nói:
– Khách ở bên ngoài không nên huyên náo, chờ đó một lát, để xem phải trái thế nào.
Mấy lời đó ngữ khí uy nghiêm, nội lực đầy đủ. Chúc Sử hai tiêu đầu nghe thấy bị nhiếp phục ngay, lại tưởng Trương Tam Phong xuất ngôn, nên đâu còn dám hó hé gì nữa.
Tống Viễn Kiều nói:
– Ngũ đệ, tam đệ bị thương ra sao, ngươi từ từ kể lại, không phải vội.
Trương Thúy Sơn hậm hực trừng mắt nhìn Đô Đại Cẩm, rồi tường thuật Long Môn tiêu cục nhận lãnh việc hộ tống Du Đại Nham lên núi Võ Đương thế nào, bị sáu người mạo danh tiếp nhận, mọi sự kể lại đầy đủ. Tống Viễn Kiều nhìn thấy tài nghệ của Đô Đại Cẩm như thế, quyết không thể nào có đủ bản lãnh hại Du Đại Nham, vả lại còn dám lên đây cầu kiến, ắt trong lòng không phải man trá, nên dịu xuống hỏi y kỹ càng mọi việc xảy ra.
Đô Đại Cẩm nhất nhất cứ thực tình kể lại, sau cùng mới nói:
– Tống đại hiệp, họ Đô tôi làm việc không chu đáo, làm lụy đến Du tam hiệp như thế này, có chết cũng đáng. Có điều cả cục chúng tôi ở phủ Lâm An, già trẻ lớn bé lúc này chẳng biết tính mệnh ra sao.
Trương Tam Phong liên tiếp dùng song chưởng đặt lên hai huyện Thần Tàng và Linh Đài của Du Đại Nham, dùng nội lực đẩy vào thân thể của đứa học trò, nghe Đô Đại Cẩm nói như thế, liền nói:
– Liên Châu, con dẫn Thanh Cốc, lập tức hai người xuống Lâm An, bảo hộ cho người già trẻ con trong Long Môn tiêu cục.
Du Liên Châu đáp lời, trong lòng hơi ngạc nhiên, nhưng hiểu ngay lòng từ bi, hiệp nghĩa của sư phụ, vì người khách họ Ân kía có nói là nếu như việc có nửa phần sơ xuất, sẽ giết sạch tất cả toàn thể Long Môn tiêu cục đến con gà con chó cũng không tha. Câu nói đó tuy chỉ là một lời hăm dọa, nhưng Đô Đại Cẩm cùng tất cả các hảo thủ trong tiêu cục đều ra ngoài bảo tiêu, nếu như quả gặp nguy nan, ắt không có ai chống cự.
Trương Thúy Sơn nói:
– Sư phụ, gã họ Đô này làm việc quá ư hồ đồ, để đến nỗi tam sư ca ra nông nỗi này, mình đã không hỏi tội thì thôi, lẽ đâu lại còn đến bảo vệ gia quyến già trẻ nhà y?
Trương Tam Phong lắc đầu, không trả lời. Tống Viễn Kiều nói:
– Ngũ đệ, sao em bụng dạ hẹp hòi thế? Đô tổng tiêu đầu phải nghìn dặm bôn ba là vì ai?
Trương Thúy Sơn cười nhạt:
– Y vì hai nghìn lạng vàng chứ đâu phải vì có lòng tốt với Du tam ca?
Đô Đại Cẩm nghe nói mặt đỏ bừng, nhưng ngẫm lại thì quả thật y nhận món hàng này cũng chỉ vì tiêu kim quá hậu. Tống Viễn Kiều quát lên:
– Ngũ đệ, không được vô lễ với khách, em đã mệt mỏi nửa ngày rồi, mau đi nghỉ.
Trong phái Võ Đương, quyền sư huynh rất lớn, Tống Viễn Kiều tính lại đoan nghiêm, từ Du Liên Châu trở xuống, ai ai cũng rất kính trọng, Trương Thúy Sơn vừa nghe sư huynh trách mắng, không dám cãi lời, nhưng vì lo lắng cho thương thế của tam sư huynh nên không chịu lui về nghỉ. Tống Viễn Kiều nói tiếp:
– Nhị đệ, sư phụ đã có lệnh, em cùng thất đệ phải đi suốt ngày đêm, sự tình khẩn cấp, không nên để lỡ việc.
Du Liên Châu và Mạc Thanh Cốc vâng lời, vội vàng về phòng chuẩn bị binh khí, y phục. Đô Đại Cẩm thấy Du Mạc hai người định xuống Lâm An bảo hộ già trẻ nhà mình, cảm thấy trong lòng hết sức an ủi, ôm quyền cảm tạ Trương Tam Phong:
– Trương chân nhân, việc của vãn bối, không dám làm phiền Du Mạc nhị hiệp, xin cáo từ.
Tống Viễn Kiều nói:
– Đêm nay xin các vị ở lại đây nghỉ ngơi, chúng tôi còn nhiều điều muốn hỏi.
Tuy lời nói của ông bình thường nhẹ nhàng, nhưng lại có một vẻ uy nghiêm, khiến người ta không dám từ chối. Đô Đại Cẩm chỉ lặng yên không nói, ngồi sang một bên. Du Liên Châu và Mạc Thanh Cốc bái biệt sư phụ, bịn rịn nhìn Du Đại Nham mấy lần, rồi mới xuống núi. Hai người trong lòng nặng như chì, chẳng biết lần này là sinh ly hay tử biệt, không biết mai sau có còn gặp lại Du Đại Nham nữa không.
Lúc đó trong đại sảnh lặng yên không một tiếng động, chỉ nghe thấy tiếng hô hấp trầm trọng của Trương Tam Phong, lại thấy trên đỉnh đầu ông nhiệt khí bốc lên, tưởng như một cái lồng hấp[13] vậy. Phải đến hơn nửa tiếng đồng hồ, đột nhiên Du Đại Nham ?A? lên một tiếng lớn, vang động cả nhà. Đô Đại Cẩm giật nảy người, liếc mắt nhìn trộm Trương Tam Phong, thấy mặt ông không lộ vẻ gì buồn hay vui nên không biết đó là triệu chứng tốt hay xấu.
Trương Tam Phong dẽ dàng nói:
– Tùng Khê, Lê Đình, hai con đưa tam ca vào phòng nghỉ ngơi.
Trương Tùng Khê và Ân Lê Đình vội đưa người bị thương vào phòng rồi lui ra. Ân Lê Đình không nhịn nổi hỏi:
– Sư phụ, võ công của tam ca có thể toàn bộ khôi phục được không?
Trương Tam Phong thở dài, một hồi sau mới nói:
– Y có bảo toàn được tính mệnh hay không, phải một tháng sau mới rõ, nhưng gân chân tay đứt, xương cốt gãy, không có cách nào nối lại được. Oại cả một đời, cả một đời Nói đến đây ông nghẹn ngào buồn bã lắc đầu. Ân Lê Đình đột nhiên òa lên khóc.
Trương Thúy Sơn nhảy dựng lên, nghe bốp một cái, đã đánh cho Đô Đại Cẩm một cái bạt tai. Lần này chàng ra tay nhanh như điện, Đô Đại Cẩm giơ tay đỡ, nhưng tay đưa ra thì mặt đã trúng chưởng rồi. Trương Thúy Sơn không dằn nổi cơn giận, cùi chỏ trái lại xoay qua, thúc luôn vào hông. Chiêu đó tuy thật nhanh nhưng Trương Tùng Khê đã giơ tay đẩy vào vai Trương Thúy Sơn nên thế đó rơi ra ngoài. Đô Đại Cẩm nhảy vội về phía sau, nghe coong một tiếng, một khối vàng ròng từ trong bọc của y rơi xuống đất.
Trương Thúy Sơn chân trái móc một cái, hất đĩnh vàng lên, giơ tay bắt lấy, cười khẩy:
– Đồ tham tài vô nghĩa, người ta cho ngươi một đĩnh kim nguyên bảo, ngươi liền đưa Du tam ca của ta ra cho họ giầy vò ?
Nói chưa dứt câu, đột nhiên ?Ủa? một tiếng, nhìn vào năm vết ngón tay trên khối vàng:
– Đại sư ca, cái này ? cái này là công phu Kim Cương Chỉ của phái Thiếu Lâm mà.
Tống Viễn Kiều cầm lấy thoi vàng, nhìn một lát, rồi đưa cho sư phụ. Trương Tam Phong lật qua lật lại nhìn mấy lần, đưa mắt nhìn Tống Viễn Kiều, không nói một lời.
Trương Thúy Sơn kêu lên:
– Sư phụ, cái này đúng là Kim Cương Chỉ của phái Thiếu Lâm. Trên đời này làm gì có môn phái nào có nổi công phu này, có phải thế không, có phải thế không thầy?
Chỉ trong chớp mắt, Trương Tam Phong nhớ lại thuở còn nhỏ mình ở trong Tàng Kinh Các hầu hạ sư phụ Giác Viễn ra sao, đấu chưởng với Côn Lôn Tam Thánh Hà Túc Đạo thế nào, rồi bị tăng chúng chùa Thiếu Lâm đuổi bắt phải chạy lên núi Võ Đương, mấy chục năm trời truyện cũ hiện ra rõ ràng. Mặt ông hiện vẻ hoang mang, cứ theo vết ngón tay trên thoi vàng này, quả đúng là Kim Cương Chỉ Pháp của phái Thiếu Lâm, Trương Thúy Sơn nói không sai, không có môn phái nào có nổi công phu đó. Không nói gì phái Võ Đương chuyên về luyện nội công cho thâm hậu, không để ý đến các môn ngạnh công đập vàng phá đá, ngay các môn phái ngoại gia, chuyên luyện cạnh bàn tay, quả đấm, sức cánh tay, sức chân đá cho đến cả dùng đầu đập, dùng cùi chỏ thúc, đầu gối đánh hay cạnh bàn chân, nhưng đến luyện ngón tay thì không thể nào đạt đến công phu đó.
Nghe Trương Thúy Sơn hỏi đi hỏi lại, nếu ông nói ra sự thực thì bọn học trò, môn hạ nhất định sẽ không để yên cho phái Thiếu Lâm, và các đại môn phái không thể không sóng gió.
Trương Thúy Sơn thấy sư phụ trầm ngâm không nói, biết rằng suy nghĩ của mình không sai, lại gặng tiếp:
– Sư phụ, trong võ lâm có kỳ nhân dị sĩ nào tự mình luyện thành môn Kim Cương Chỉ này không?
Trương Tam Phong chầm chậm lắc đầu, nói:
– Phái Thiếu Lâm phải mất hàng ngàn năm mới thành được tuyệt kỹ này, không phải một lúc mà xong. Dù có người nào tuyệt đính thông minh, cũng không tự mình nghĩ ra được.
Ngừng lại một lát, ông tiếp:
– Hồi ta còn nhỏ ở chùa Thiếu Lâm, vì chưa được truyền thụ võ công nên đến giờ phút này cũng không biết tại sao tấm thân máu thịt của con người lại có thể luyện đến mức có ngón tay mạnh đến thế.
Mắt Tống Viễn Kiều bỗng dưng lóe lên một tia sáng khác lạ, nói lớn:
– Gân cốt chân tay của tam đệ, đúng là bị Kim Cương Chỉ Lực bẻ đứt rồi.
Ân Lê Đình ?A? lên một tiếng, nước mắt dưng dưng, chịu không nổi chảy xuống thành giòng. Đô Đại Cẩm nghe thấy người tàn hại Du Đại Nham là đệ tử của phái Thiếu Lâm, lại càng kinh hoảng, há hốc mồm, một lát sau mới ấp úng:
– Không ? nhất định là không phải, tôi ở trong chùa Thiếu Lâm học nghệ hơn mười năm, chưa bao giờ gặp người mặt có nốt ruồi đó cả.
Tống Viễn Kiều ngưng thần nhìn y, thản nhiên không động thanh sắc, nói:
– Lục đệ, ngươi đưa Đô tổng tiêu đầu và anh em vào hậu viện nghỉ ngơi, sửa soạn cơm rượu, dặn lão Vương tiếp đãi khách phương xa cho tử tế, không được sơ sót.
Ân Lê Đình vâng lời, dẫn đường bọn người Đô Đại Cẩm đi xuống hậu viện. Đô Đại Cẩm còn muốn biện bạch vài câu, nhưng trong tình cảnh đó, một câu cũng không nói ra nổi.
Ân Lê Đình lo liệu cho bọn tiêu sư xong, quay trở lại phòng Du Đại Nham, chỉ thấy tam sư ca mở mắt trừng trừng như người mất hồn, còn đâu hình dáng anh hùng hào sảng lúc bình thời, trong lòng không khỏi đau đớn, chỉ kêu lên được một tiếng ?tam ca?, rồi ôm mặt chạy ra. Tới đại sảnh, chàng thấy Tống Viễn Kiều và các anh em đang ngồi trước mặt sư phụ, nên đến bên cạnh Trương Thúy Sơn ngồi xuống.
Trương Tam Phong nhìn ra cây hòe trước sân xuất thần, lắc đầu nói:
– Việc này ta cũng đành bó tay, Tùng Khê, con nghĩ sao?
Trong bảy đệ tử của phái Võ Đương, Trương Tùng Khê là người đa mưu túc trí hơn cả. Bình thời chàng trầm mặc ít nói, nhưng suy tính liệu sự, nói đâu đúng đó, từ lúc Trương Thúy Sơn ôm Du Đại Nham về núi, tuy trong lòng đau đớn, nhưng vẫn suy tưởng mọi chuyện bên trong xem có gì, bấy giờ nghe sư phụ hỏi, mới nói:
– Cứ như đệ tử suy nghĩ, đầu dây mối nhợ không phải là phái Thiếu Lâm mà là thanh đao Đồ Long.
Trương Thúy Sơn và Ân Lê Đình cùng ?A? lên một tiếng. Tống Viễn Kiều nói:
– Tứ đệ, sự lý bên trong, em đã suy tưởng minh bạch, mau nói ra để xin sư phụ chỉ thị.
Trương Tùng Khê nói:
– Tam ca hành sự mau lẹ, vững vàng, đối với ai cũng hết lòng, chắc không gây thù chuốc oán một cách khinh thị. Anh ấy xuống Giang Nam trừ bọn giặc, là một bọn đầu trộm đuôi cướp, võ lâm ai ai cũng ghét bỏ, phái Thiếu Lâm không thể nào vì chuyện đó mà hạ thủ đả thương tam ca.
Trương Tam Phong gật đầu. Trương Tùng Khê lại nói tiếp:
– Tam ca chân tay gân cốt bị gãy, chỉ là ngoại thương, nhưng tại phủ Lâm An Chiết Giang lại trúng kịch độc. Cứ như đệ tử nghĩ, trước hết mình nên đến Lâm An tra xét xem tại sao tam ca trúng độc, ai là người hạ thủ ?
Trương Tam Phong lại gật đầu nói:
– Chất độc mà Đại Nham bị trúng rất là kỳ lạ, ta cũng chưa nghĩ ra là loại thuốc độc nào. Lòng bàn tay Đại Nham có bảy cái lỗ nhỏ, hông và đùi lại có những vết châm li ti. Trên chốn giang hồ, chưa nghe cao thủ nào sử dụng những loại ám khí độc như thế cả.
Tống Viễn Kiều nói:
– Việc này quả thật kỳ quái. Cứ theo thường lý mà suy, người bắn những ám khí nhỏ như thế mà tam đệ không tránh kịp, ắt phải là cao thủ hạng nhất, thế nhưng quả thực là cao thủ thì sao lại tẩm thuốc độc trên ám khí?
Mọi người lặng yên không nói, ai ai cũng đều suy nghĩ xem người nào, môn phái nào sử dụng những loại ám khí như thế. Một lúc sau, cả năm người đều hoang mang, không nghĩ ra là ai.
Trương Tùng Khê nói:
– Tại sao gã mặt có nốt ruồi kia lại đánh đứt gân cốt của tam ca? Nếu như y có thù oán với tam ca, một chưởng cũng đã giết được rồi, còn nếu muốn cho thêm đau đớn, khổ sở, sao không đánh gãy xương sống, xương sườn? Chuyện này thật rõ ràng, y chỉ muốn ép buộc tam ca cung khai. Thế nhưng y hỏi việc gì, cứ đệ tử suy tưởng, ắt là vì đao Đồ Long. Đô Đại Cẩm có nói, trong số sáu người có một tên hỏi là: ?Đồ Long đao đâu? Ở trong tay ai??.
Ân Lê Đình nói:
– Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng. Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong. Câu này truyền đã mấy trăm năm nay, chẳng lẽ đến bây giờ, quả thực mới xuất hiện thanh đao Đồ Long sao?
Trương Tam Phong nói:
– Làm gì đã mấy trăm năm, cùng lắm chỉ độ bảy, tám mươi năm thôi. Hồi ta còn trẻ cũng chưa nghe thấy câu này.
Trương Thúy Sơn nhỏm dậy, nói:
– Tứ ca nói rất phải, cái đầu dây mối nhợ làm hại tam ca ắt là chỉ ở trong một giải Giang Nam thôi, mình phải đi tìm cho ra. Có điều bọn ác tặc phái Thiếu Lâm hạ thủ độc ác đến thế, mình không thể nào bỏ qua được.
Trương Tam Phong nói với Tống Viễn Kiều:
– Viễn Kiều, con nghĩ bây giờ mình phải tính sao?
Những năm gần đây mọi việc trong phái Võ Đương, Trương Tam Phong đều giao cho Tống Viễn Kiều lo liệu cả, vị đại đệ tử này làm gì cũng chu đáo mực thước, không để sư phụ phải lo nghĩ. Nghe sư phụ nói thế, y lập tức đứng dậy, cung kính nói:
– Việc này chẳng phải chỉ là báo thù cho tam đệ thôi đâu, mà còn liên quan đến đại sự của bản phái, nếu như ứng phó không phải, chỉ sợ sẽ gây ra một trận sóng gió trong võ lâm, kính xin sư phụ dạy bảo.
Trương Tam Phong nói:
– Ừ, con và Tùng Khê, Lê Đình hai người, đem lá thư của ta lên chùa Thiếu Lâm trên núi Tung Sơn bái kiến phương trượng Không Văn thiền sư, nói rõ mọi việc, xin ông ta chỉ thị. Việc này chúng ta không cần phải nhúng tay vào, chùa Thiếu Lâm môn hộ rất nghiêm cẩn, Không Văn phương trượng là người vọng trọng võ lâm, ắt sẽ có cách xử trí thích đáng.
Tống Viễn Kiều, Trương Tùng Khê, và Ân Lê Đình ba người lập tức cung kính vâng lời. Trương Tùng Khê nghĩ thầm:
– Nếu như chỉ mang một lá thư, thì chỉ cần sai lục đệ đi cũng đủ. Sư phụ bảo đại sư ca đích thân xuất mã, lại sai ta đi theo, bên trong ắt có thâm ý. Chắc là phòng việc chùa Thiếu Lâm muối mặt không nhận, nên muốn bọn mình tùy cơ mà hành sự.
Quả nhiên Trương Tam Phong nói tiếp:
– Bản phái và Thiếu Lâm hai bên có những liên quan thật đặc thù. Ta là đào đồ của phái Thiếu Lâm, trong bao nhiêu năm nay, có lẽ họ thấy ta tuổi tác đã cao, nên không lên núi Võ Đương bắt về, tuy vậy hai bên dẫu sao cũng vẫn có chỗ không thuận thảo.
Nói đến đây, ông mỉm cười, tiếp tục:
– Các con lên núi Thiếu Lâm, đối với phương trượng Không Văn dĩ nhiên cung kính, nhưng cũng không nên làm mất thanh danh của bản môn.
Tống Trương Ân ba người cùng lên tiếng vâng mệnh.
Trương Tam Phong quay lại nói với Trương Thúy Sơn:
– Thúy Sơn, sáng mai con lên đường xuống Giang Nam, tìm cách tra xét, mọi việc nghe lời nhị sư ca dặn dò.
Trương Thúy Sơn thõng tay nhận lệnh. Trương Tam Phong nói tiếp:
– Chén rượu thọ tối nay mình không uống nữa. Một tháng sau, tất cả lại tụ hội ở đây, nếu như không chữa nổi cho Đại Nham, sư huynh đệ cũng được nhìn thấy y lần cuối.
Ông nói tới đó không khỏi bùi ngùi, không ngờ mình uy chấn võ lâm mấy mươi năm, đến năm chín mươi tuổi, đứa học trò yêu quí lại gặp phải chuyện bất hạnh như thế này. Ân Lê Đình đưa tay áo gạt lệ, khóc lên rưng rức. Trương Tam Phong phất tay một cái, nói:
– Tất cả đi ngủ.
Tống Viễn Kiều khuyên:
– Sư phụ, tam sư đệ một đời hành hiệp trượng nghĩa, tích đức thật dày. Người đời thường nói rằng ?người lành sẽ được trời giúp?, hoàng thiên hữu nhãn, ắt không để cho y ? cho y chết yểu ?.
Nói đến đây nghẹn ngào, nước mắt y ròng ròng chảy xuống, biết rằng càng khuyên càng tăng thêm mối đau lòng, nên cùng các sư đệ chúc sư phụ ngủ ngon, chia nhau về phòng.
[1] Cao quí nhất trong võ lâm là bảo đao Đồ Long, ra lệnh cho mọi người không ai không tuân theo.
[2] Ỷ Thiên nếu không xuất hiện, thì không cái gì có thể ganh đua được.
[3] Mặt trời, mặt trăng chiếu sáng, vua loài chim ưng giương đôi cánh ra. Trong chữ Hán, chữ nhật và chữ nguyệt ghép lại thành chữ minh, ý nói đây là một chi lưu của Minh giáo.
[4] Tức Quan Vũ hay Quan Công, em kết nghĩa của Lưu Bị đời Tam Quốc.
[5] Kim nhỏ như râu con muỗi.
[6] Một cân Tàu có mười sáu lượng, ý nói ngang ngửa. Lưỡng bại câu thương là hai bên cùng bị thương, ai cũng thiệt cả.
[7] Con gấu nhiều tay [8] Sau ba lần nhảy ở Long Môn con cá chép hóa thành rồng.
[9] Tức Hồ Bắc [10] Kim nguyên bảo là vàng được đúc thành từng cục, mỗi triều đại lại ban hành khi tiền giấy còn chưa thông dụng. Cục vàng đó đúc như một chiếc thuyền, thường là vàng từ 91.5% trở lên (khá nguyên chất) nặng chừng 90 gram, dưới đáy có hai chữ ?túc kim? bên trên thường là chữ ?thọ?. Loại ngân nguyên bảo hay kim nguyên bảo ít lưu hành, thường chỉ do triều đình phong thưởng những người có công, có thể coi là một loại tiền hiếm có. Đời Hán đúc hình móng ngựa nên gọi là ?mã đề kim?, qua đời Đường thì hình dẹp, đến đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh mới đúc thành hình thuyền, mỗi đời theo niên hiệu mà gọi như Thiên Phúc, Thuần Hóa, Hồng Võ …
[11] ngựa có màu xanh trắng [12] Cứ theo sách vở để lại, bảy người đệ tử của Trương Tam Phong là Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu, Du Đại Nham, Trương Tùng Khê, Trương Thúy Sơn, Ân Lợi Hanh, Mạc Thanh Cốc. Tên của Ân Lợi Hanh lấy từ chữ trong kinh Dịch ?Nguyên Hanh Lợi Trinh?. Thế nhưng vì tên này không cùng một loại với sáu tên kia ? tất cả đều tả cảnh như cầu ở xa xa (Viễn Kiều), thuyền đậu liền nhau (Liên Châu), tảng đá lớn (Đại Nham), cây tùng bên giòng suối (Tùng Khê), núi biếc (Thúy Sơn), hang núi sâu (Thanh cốc). Vì thế trong bản này, Kim Dung đã đổi tên người thứ sáu thành Ân Lê Đình (cây lê bên cạnh toà nhà). ? lời chú của dịch giả.
[13] Nguyên tác chưng lung là loại giỏ bằng tre đan để hấp bánh hay đồ ăn

Hết tập 3

********************************************************************************************************************

TẬP 4:

TỰ TÁC TANG LOẠN Ý BÀNG HOÀNG

Tình sư đệ nghĩa anh em, Đau lòng nét bút càng thêm thần sầu.
Trương Thúy Sơn lòng đầy đau thương, căm giận, không cách gì phát tiết, nằm trằn trọc hơn một tiếng đồng hồ, chàng len lén trở dậy, quyết ý tìm bọn Đô Đại Cẩm đánh một trận cho bõ tức. Chàng e ngại đại sư huynh, tứ sư huynh ngăn cản, nên không dám gây tiếng động, rón rén đi ra. Đến đại sảnh, chàng thấy một bóng người hai tay chắp sau lưng, không ngừng đi qua đi lại.
Trong ánh sáng mông lung mờ ảo thấy người đó thân dài lưng rộng, bước chân ngưng trọng, chính là sư phụ. Trương Thúy Sơn náu mình sau cột, không dám cử động, tính thầm phải quay về phòng ngay. Thế nhưng ắt là sư phụ sẽ hay biết, nếu bị tra hỏi, đành phải nói thực thì thể nào cũng bị trách mắng.
Chỉ thấy Trương Tam Phong đi lại một hồi, ngửng đầu ngẫm nghĩ, bỗng nhiên đưa tay phải, tại không trung làm bút viết lên thành chữ. Trương Tam Phong cả văn lẫn võ đều thông, ngâm thơ viết chữ, học trò đều biết nên cũng không lấy làm lạ. Chàng theo dõi nét bút ở tay, hóa ra ông viết đi viết lại mấy lần hai chữ ?tang loạn[1]?, rồi lại viết hai chữ ?đồ độc[2]?. Trương Thúy Sơn trong lòng rung động, nghĩ thầm: ?Sư phụ trong lòng đang nghĩ đến ?Tang Loạn Thiếp?.
Chàng có ngoại hiệu là ?Ngân Câu Thiết Hoạch?, vốn bởi tay trái sử dụng hổ đầu câu bạc vụn, tay phải sử phán quan bút thép ròng mà ra. Từ khi mang cái tên đó rồi, Thúy Sơn e ngại danh quá kỳ thực, sợ giới văn nhân chê cười, nên tiềm tâm học phép viết chữ, chân thảo triện lệ, loại nào cũng tập. Khi đó chàng thấy sư phụ dùng ngón tay làm bút, đạt đến tình trạng ?không nét nào duỗi ra mà không thu vào, không nét nào đi rồi mà không quay lại? chính là bút ý của Vương Hi Chi trong Tang Loạn Thiếp.
Tang Loạn Thiếp hai năm trước chàng đã tập qua, biết là nét bút túng dật, mạnh mẽ chắc nịch nhưng không bằng được nét chữ trang nghiêm cẩn thận, khí tượng vững vàng trong ?Lan Đình Thi Tự Thiếp?, hay ?Thập Thất Thiếp?. Lúc này, chàng thấy sư phụ đưa tay viết liên tiếp: ?Hi Chi đốn thủ, tang loạn chi cực, tiên mộ tái ly đồ độc, truy duy kháo thậm? mười tám chữ, mỗi nét, mỗi chữ đều tràn đầy uất hận, bi phẫn, nên bỗng cảm thông được? tâm tình Vương Hi Chi khi viết ?Tang Loạn Thiếp?.
Vương Hi Chi là người đời Đông Tấn, lúc đó trung nguyên đang rối ren, rôi vào tay dị tộc. Họ Vương, họ Tạ là những gia đình có thế lực, nay phải di cư xuống miền Nam tránh giặc, trong cái tai biến đó, phần mộ của ông cha cũng bị dày xéo, khiến những đau khổ trong lòng không sao phát tiết ra cho hết, nên tất cả những uất ức đều thể hiện trong bài Tang Loạn Thiếp. Trương Thúy Sơn đang tuổi thanh niên, không lo không sầu, trước đây làm sao lãnh hội được những thâm ý trong bài thiếp? Lúc này gặp phải cái cảnh đại họa, không biết sống chết ra sao của sư huynh mới hiểu được hai chữ ?tang loạn?, hai chữ ?đồ độc?, hay bốn chữ ?truy duy kháo thậm[3]?.
Trương Tam Phong viết đi viết lại mấy lần, bỗng thở dài một tiếng, bước tới giữa sân, đứng trầm ngâm một hồi rồi đưa ngón tay, lại bắt đầu viết chữ. Lần này cách viết chữ hoàn toàn khác hẳn. Trương Thúy Sơn theo nét bút thì thấy chữ đầu tiên là chữ “võ”, rồi đến chữ “lâm”, tiếp tục hai mươi bốn chữ chính là câu người thường truyền tụng “Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long. Hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng. Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?? Dường như Trương Tam Phong đang tìm cách suy nghĩ cho ra thâm ý của hai mươi bốn chữ này để biết vì cớ gì Du Đại Nham bị thương? Việc này có liên hệ gì đến hai món thần binh lợi khí là đao Đồ Long và kiếm Ỷ Thiên?
Chỉ thấy ông viết một lần hai mươi bốn chữ rồi viết lại lần nữa, nét bút mỗi lúc một dài, nhưng đưa tay mỗi lúc một chậm, đến về sau ngang dọc, đóng mở, chẳng khác gì? thi triển quyền cước. Trương Thúy Sơn ngưng thần theo dõi, trong lòng vừa mừng vừa sợ, hai mươi bốn chữ mà sư phụ vừa viết kia hóa ra là một pho võ công thật cao minh, mỗi chữ bao gồm nhiều chiêu, mỗi chiêu lại bao gồm nhiều cách biến hóa. Chữ long và chữ phong nhiều nét, chữ đao, chữ hạ ít nét. Thế nhưng nhiều nét mà không rườm rà, ít nét cũng không thô lậu, lúc thu vào thì như con sâu co mình, lúc bung ra thì như con thỏ vuột chạy, lâm ly sảng khoái, cương kiện hùng hồn. Nét phóng dật thì vi vu nhẹ nhàng như tuyết rơi lả tả, nét nặng nề thì hậu trọng như voi đi, uy nghi như hổ bước.
Trương Thúy Sơn sau phút giây thảng thốt, vội định thần chú tâm ghi nhớ. Hai mươi bốn chữ đó bao gồm hai chữ bất, hai chữ thiên, thế nhưng những chữ đó viết ra hình giống nhau mà ý không đồng, khí tưởng giống mà thần không giống, biến hóa ảo diệu, quả thật là một công trình.
Những năm gần đây rất ít khi Trương Tam Phong hiển thị võ công, Ân Lê Đình và Mạc Thanh Cốc hai tiểu đệ tử phần lớn do Tống Viễn Kiều và Du Liên Châu thay thầy truyền thụ, do đó Trương Thúy Sơn tuy tiếng là đệ tử thứ năm của Trương Tam Phong, nhưng lại đích thực là quan môn đệ tử [4] do ông thân truyền. Trước đây Trương Thúy Sơn học chưa đến nơi đến chốn nên nhiều khi thấy sư phụ thi triển quyền kiếm cũng không hiểu được những chỗ bác đại tinh thâm. Sau này võ học của chàng đại tiến, đặc biệt tối hôm nay hai thầy trò lại tâm ý tương thông, tình chí hợp nhất, cùng gặp cảnh tang loạn mà bi phẫn, gặp cảnh đồ độc mà uất ức. Trương Tam Phong tình đến mà đem hai mươi bốn chữ diễn thành một pho võ công. Lúc đầu viết chữ ông không có ý đó, mà Trương Thúy Sơn nấp ở đằng sau cái cột cũng là cơ duyên xảo hợp. Cả thầy lẫn trò hai người tâm thần đều mê say, chìm đắm vào cảnh giới thư pháp kết hợp với võ công, quên hẳn cả người lẫn ta.
Phép viết đó, Trương Tam Phong diễn đi diễn lại, thoáng cái đã hơn hai tiếng đồng hồ, đến lúc trăng lên đến đỉnh đầu, ông hú lên một tiếng dài, tay phải quét từ trên thẳng xuống, như ánh kiếm vung ra, như mũi tên phóng tới, sấm chưa kịp rền, điện chưa kịp xẹt. Chiêu đó chính là nét sổ sau cùng trong chữ ?phong?.
Trương Tam Phong ngửng đầu lên nhìn trời, hỏi:
– Thúy Sơn, đường thư pháp đó con thấy sao?
Trương Thúy Sơn giật mình kinh hãi, không ngờ rằng mình ẩn ở sau cây cột, sư phụ tuy không quay đầu lại, nhưng đã biết rồi, vội vàng chạy ra, nói:
– Đệ tử có phúc được coi lén tuyệt kỹ của sư phụ, thật là thỏa lòng. Để con đi gọi các vị sư ca ra để cùng ngưỡng mộ, được không?
Trương Tam Phong lắc đầu:
– Hứng của ta đã hết rồi, có diễn lại cũng không sao viết được đẹp như thế. Bọn Viễn Kiều, Tùng Khê không biết thư pháp, dẫu có được coi, cũng hiểu biết không bao nhiêu.
Nói xong ông phất tay, quay vào nội đường.
Trương Thúy Sơn không dám đi ngủ, sợ sau một giấc sẽ quên những chiêu thức tinh diệu mới vừa được xem, lập tức ngồi xếp bằng, mỗi nét mỗi gạch, mỗi chiêu mỗi thức cố gắng nhớ thật kỹ. Mỗi khi nổi hứng chàng lại đứng dậy biểu diễn vài đường. Không biết qua bao lâu thời gian, chàng mới ghi nhớ hết những biến hóa của hai mươi bốn chữ, bao gồm hai trăm mười lăm nét đó.
Chàng đứng dậy, tập lại một lần, thấy tất cả những nét vươn ra, nắm bắt chẳng khác gì chim nhạn tung bay, chim điêu xoải cánh, khi vươn cổ, lúc thu mình, thế như mây bay, toàn thân nhẹ nhàng lãng đãng, chẳng khác gì đằng vân giá vụ. Chưởng sau cùng đánh thẳng xuống, nghe phụp một tiếng đánh rách ngay chính áo chàng một mảng lớn. Trương Thúy Sơn vừa sợ vừa mừng, quay đầu lại thấy mặt trời đã chiếu ở bên tường phía đông. Chàng giơ tay dụi mắt, chỉ sợ mình nhầm, định thần cho kỹ, quả nhiên đã quá trưa. Hóa ra chàng tiềm tâm luyện công, vô tình vô ý, không ngờ đã mất hơn nửa ngày trời.
Trương Thúy Sơn giơ tay áo chùi mồ hôi trên trán, chạy đến phòng của tam sư ca, thấy Trương Tam Phong song chưởng đang đè vào ngực và bụng Du Đại Nham, vận công chữa bệnh cho y. Chàng hỏi ra mới biết Tống Viễn Kiều, Trương Tùng Khê và Ân Lê Đình ba người đã ra đi từ sáng sớm. Ai nấy thấy chàng tĩnh tọa, nhập định, không đến quấy rầy chàng luyện công. Bọn tiêu sư Long Môn tiêu cục cũng đã xuống núi. Lúc đó toàn thân Trương Thúy Sơn ướt đầm mồ hôi, nhưng vì gấp chuyện trả thù cho sư huynh, chàng không kịp tắm rửa thay quần áo, chỉ mang theo binh khí và quần áo tùy thân, lấy vài chục lượng bạc, đến phòng Du Đại Nham, nói:
– Sư phụ, đệ tử đi đây.
Trương Tam Phong gật đầu, mỉm cười, ý như khuyến khích.
Trương Thúy Sơn đi đến bên cạnh giường, thấy Du Đại Nham mặt mày xám xịt, quyền cốt nhô lên, hai má lõm xuống, mắt nhắm nghiền, ngoại trừ mũi còn thở nhè nhẹ, nếu không chẳng khác gì người đã chết. Chàng thấy trong lòng đau đớn, nghẹn ngào nói:
– Tam ca, dù em có phải tan xương nát thịt, cũng sẽ vì anh mà báo thù.
Nói xong chàng quì xuống lạy sư phụ, ôm mặt chạy ra ngoài.
Trương Thúy Sơn cưỡi con ngựa thanh thông chân dài, phi nhanh xuống núi. Lúc đó đã xế chiều nên chỉ chạy được năm mươi dặm thì trời đã tối. Chàng vừa vào quán trọ thì mây đen vần vũ, rồi mưa ào ào đổ xuống như trút nước. Mưa càng lúc càng to, mãi đến khuya vẫn không ngừng. Sáng hôm sau, chàng trở dậy, thấy bốn bề mờ mịt, tai chỉ nghe tiếng mưa lách tách. Chàng gọi chủ quán mua một bộ áo tơi, đội mưa ra đi. Cũng may là con ngựa thanh thông thật là thần tuấn, tuy trời mưa, đường trơn như mỡ, nhưng vẫn phóng như bay.
Đi đến Lão Hà Khẩu, qua sông Hán Thủy thấy nước sông đục ngầu, ào ào chảy xuôi, thế nước thật là nguy hiểm. Khi qua Tương Phàn, chàng nghe trên đường người ta kháo nhau, bên dưới hạ lưu đê bị vỡ, người bị thương vô số kể. Hôm đó đi đến Nghi Thành, thấy dân chúng chạy lụt bồng bế nhau, tay xách nách mang trên đường, trong khi trời mưa chưa dứt, ai nấy ướt như chuột lột, tình cảnh thật đáng thương.
Trương Thúy Sơn đang đi, thấy trước mặt một đoàn người ngựa, tiêu kỳ dương cao, chính là các tiêu sư của Long Môn tiêu cục. Chàng giục ngựa chạy lên, vượt qua tiêu đội, quay đầu lại, chặn ngay giữa đường.
Đô Đại Cẩm thấy Trương Thúy Sơn đuổi đến, trong lòng kinh hoảng, ấp úng nói:
– Trương ? Trương ngũ hiệp có điều chi chỉ dạy?
Trương Thúy Sơn nói:
– Những dân chúng bị thủy tai, Đô tổng tiêu đầu có thấy không?
Đô Đại Cẩm không ngờ chàng lại hỏi y câu đó, ngẩn người, nói:
– Cái gì?
Trương Thúy Sơn cười khẩy:
– Yêu cầu nhân ông mở lòng, đem hoàng kim ra cứu tế dân chúng.
Đô Đại Cẩm mặt biến sắc, nói:
– Chúng tôi là người bảo tiêu, đem mạng sống mình để trên đường đao mũi kiếm kiếm cơm ăn, có đâu tiền bạc cứu tế chẩn tai?
Trương Thúy Sơn hạ giọng:
– Ngươi mau bỏ hai nghìn lạng vàng trong bọc ra, đưa cả cho ta.
Đô Đại Cẩm tay cầm cán đao, nói:
– Trương ngũ hiệp, phải hôm nay ông định làm khó dễ họ Đô này chăng?
Trương Thúy Sơn nói:
– Đúng thế, ta cho ngươi biết tay.
Chúc Sử hai tiêu đầu cũng rút binh khí ra, cùng Đô Đại Cẩm đứng ngang hàng. Trương Thúy Sơn chỉ hai tay không, cười nhạt mấy tiếng, nói:
– Đô tổng tiêu đầu, ngươi nhận tiền của người ta, phải làm tròn việc người ta giao chứ? Hai nghìn lạng hoàng kim kia, ông mặt mũi nào mà nhận.
Đô Đại Cẩm mặt mày tím ngắt, nói:
– Du tam hiệp chả lên tới núi Võ Đương là gì? Khi giao y cho chúng tôi, y đã bị trọng thương, đến bây giờ cũng chưa chết.
Trương Thúy Sơn giận quá, quát lên:
– Ngươi còn già hàm, Du tam ca của ta hồi ở Lâm An chân tay có bị gãy không?
Đô Đại Cẩm lặng yên không đáp.
Sử tiêu đầu xen vào:
– Trương ngũ hiệp, ông quả thực muốn gì, xin nói thẳng ra.
Trương Thúy Sơn nói:
– Ta muốn đem xương chân xương tay các ngươi bẻ ra từng tấc một.
Câu nói đó vừa xong, chàng liền nhảy xuống, phi thân đến trước. Sử tiêu đầu giơ côn định đánh, Trương Thúy Sơn tay trái vung ra chộp lấy, sử võ công vừa mới học, chính là yếu quyết nét phẩy trong chữ thiên. Cây côn trong tay Sử tiêu đầu tuột ra, y cũng rơi xuống ngựa. Chúc tiêu đầu muốn lùi lại, nhưng còn làm sao cho kịp? Trương Thúy Sơn thuật tay sử yếu quyết nét nhấn của chữ thiên, tay quét ngang trúng ngang xương sườn y, nghe bình một tiếng, hất y cả người lẫn yên ra xa hơn một trượng. Hóa ra Chúc tiêu đầu hai chân quặp chặt lấy yên, mà kình đạo của nét quét đó hết sức mãnh liệt, cái đai buộc yên ngựa cũng bị đứt lìa, Chúc tiêu đầu chân vẫn còn ở trong ngàm, nên ngã lăn ra không dậy nổi.
Đô Đại Cẩm thấy chàng ra tay nhanh như thế, sợ hãi, giựt cương giục ngựa chạy lên. Trương Thúy Sơn quay đầu trở lại, tay trái đấm ra, chính là nét chấm trong chữ hạ, nghe bịch một tiếng, trúng ngay hậu tâm y. Đô Đại Cẩm thân hình rung động, võ công của y so với Chúc Sử tiêu đầu cao hơn nhiều, nên không té xuống ngựa. Y nhảy xuống toan giao đấu, bỗng cổ họng mằn mặn, ọe một tiếng, phun ra một ngụm máu tươi. Chân y thất thểu bước tới, vội hít một hơi, chỉ thấy trong ngực máu nóng dồn lên, tuy cố giữ nhưng không chịu nổi, đầu gối nhũn ra ngồi bệt xuống đất.
Trong tiêu hãng còn ba thanh niên tiêu sư và một số chạy hiệu, trông thấy thế chỉ biết há hốc mồm, trợn mắt đứng nhìn, không ai dám chạy tới đỡ.
Trương Thúy Sơn lúc đầu lửa giận bừng bừng, những tưởng muốn đem chân tay bọn Đô Đại Cẩm từng người đánh gãy hết cho hả cơn tức. Thế nhưng chàng thấy mình thuận tay một quyền một chưởng, đã đánh cho ba tên tiêu sư bò lê bò càng, Đô Đại Cẩm lại bị trọng thương, nên không khỏi thầm kinh dị, đâu ngờ hai mươi bốn chữ ?Ỷ Thiên Đồ Long Công? lại có uy lực ghê gớm đến thế.
Trong lòng thấy vui, chàng không còn muốn ra tay tàn nhẫn, nên nói:
– Họ Đô kia, hôm nay ta xuống tay lưu tình, đánh cho các ngươi như thế cũng đã đủ. Ngươi bỏ hết số tiền hai nghìn lượng vàng trong túi ra, đem đi cứu tế người bị nạn. Ta ngấm ngầm xem xét, nếu ngươi giữ lại dù một lượng, tám tiền, ta sẽ đến Long Môn tiêu cục? giết hết tất cả, con gà con chó cũng không còn.
Câu cuối cùng là chàng nghe Đô Đại Cẩm thuật lại, bây giờ nghĩ lại, thuận miệng nói ra. Đô Đại Cẩm từ từ đứng lên, nhưng thấy lưng đau quá, mỗi lần cử động, lại thổ ra một ngụm máu tươi. Sử tiêu đầu chỉ bị thương ngoài da thịt, biết mình không phải là đối thủ của Trương Thúy Sơn, nên không còn mạnh miệng nói cứng nữa. Y nói:
– Trương ngũ hiệp, chúng tôi tuy nhận tiêu kim của người ta, nhưng vì chuyến này làm không nên việc, đành phải đem tiền trả lại. Hơn nữa, tiền bạc để hết tại tiêu cục ở Lâm An, chúng tôi thân tại nơi xa xôi, làm gì có mang tiền theo để mà cứu tế tai dân.
Trương Thúy Sơn cười nhạt nói:
– Bộ ngươi khinh ta là đứa trẻ con sao? Long Môn tiêu cục các ngươi bao nhiêu người đi hết, ở phủ Lâm An đâu còn tay hảo thủ nào giữ nhà, số hoàng kim đó các ngươi phải đem theo chứ.
Chàng nhìn qua tiêu đội, đi tới một cỗ xe lớn, giơ chưởng lên đánh một cái, nghe lách cách mấy tiếng, thùng xe vỡ toang, rơi ra mấy chục lượng vàng. Bọn tiêu sư ai nấy biến sắc, kinh hãi không hiểu tại sao chàng lại biết được chỗ họ giấu vàng. Đâu biết rằng Trương Thúy Sơn tuổi tuy còn trẻ, nhưng đi theo các sư huynh hành hiệp, chuyện trên chốn giang hồ chứng kiến đã nhiều. Chàng thấy vết cỗ xe này lún sâu vào bùn nhiều hơn cả, ba tên tiêu sư trẻ thấy Đô Đại Cẩm bị thương ngã xuống, không chạy lại cứu trợ, lại đến cỗ xe này canh chừng, biết rằng trong xe phải chứa vật gì quí giá. Thấy hoàng kim rơi ra đầy đất, chàng cười khẩy mất tiếng, quay mình nhảy lên ngựa chạy đi.
Trương Thúy Sơn thấy chuyện đó xảy ra thật là thống khoái, liệu rằng Đô Đại Cẩm e sợ tính mạng già trẻ trong nhà, không dám không đem hai nghìn lượng vàng ra cứu tế người bị nạn. Chàng một mặt chạy trên đường, một mặt nghĩ đến những biến hóa của chiêu số trong hai mươi bốn chữ. Tối hôm đó học được pho võ công này, chỉ tưởng sư phụ ra chiêu biến hóa kỳ diệu thôi, nào ngờ một khi thi triển mới thấy thật là thần uy, trong bụng còn vui gấp mười lần nhặt được của báu. Thế nhưng chợt nghĩ đến Du Đại Nham sống chết chưa biết ra sao, chàng không khỏi thở dài một tiếng.
Trời mưa lớn liên tiếp mấy ngày trời, con ngựa thanh thông tuy tráng kiện, nhưng cũng không chịu nổi, đến địa giới tỉnh Giang Tây thì miệng sùi bọt trắng, thân nóng bừng bừng. Trương Thúy Sơn thương cho con vật, nên chạy chậm lại. Chàng đi một mạch đến phủ Lâm An thì đã ba mươi tháng tư.
Trương Thúy Sơn vào một khách điếm, nghĩ thầm:
– Ta đi đường chạy thật chậm, không biết bọn Đô Đại Cẩm đã về đền tiêu cục chưa? Nhị ca và thất đệ không biết bây giờ ở chỗ nào? Ta đã làm cho bọn tiêu sư bị mất mặt, không tiện đến gặp họ, tối nay mình đến tiêu cục thám thính xem sao.
Ăn cơm tối xong, hỏi người chủ quán đường đi, biết Long Môn tiêu cục nằm ở bờ Tây Hồ. Chàng lên phố mua một bộ áo khăn, thêm một cái quạt xếp vốn nổi danh của đất Hàng Châu. Về phòng tắm rửa sạch sẽ, chải đầu gọn ghẽ, thay bộ quần áo mới, soi gương chàng thấy mình đã thành một công tử đẹp trai, đâu còn vẻ gì một hiệp sĩ uy chấn võ lâm? Trương Thúy Sơn mượn bút mực, định đề lên trên quạt một bài thơ, nào ngờ cầm bút lên, tự nhiên không chủ ý mà viết xuống hai mươi bốn chữ ?Ỷ Thiên Đồ Long?, nét nào nét ấy đều như muốn xuyên qua giấy mà đi. Viết xong chàng đưa lên ngắm không khỏi đắc ý, nghĩ thầm:
– Học được sư phụ pho quyền pháp ấy, ngay cả thư pháp[5] mình cũng đại tiến.
Chàng phe phẩy quạt, thảnh thơi đi dạo nhắm hướng Tây Hồ mà tới.
Hồi đó nhà Tống đã bị diệt, phủ Lâm An thuộc về người Nguyên. Lâm An vốn là kinh đô cũ của nhà Nam Tống, người Mông Cổ sợ dân chúng còn nhớ tiền triều, lưu luyến chúa cũ, nên đặt trọng binh trấn áp. Để ra oai, nơi đây họ còn bạo ngược hơn những nơi khác, nên mười nhà thì chín bỏ trống, đa số dân chúng dời đi nơi khác. Một trăm năm trước, phủ Lâm An nhà nào cũng dương liễu rủ, đâu đâu cũng có tiếng đàn tiếng sáo, nay đâu còn nữa.
Trương Thúy Sơn thẳng đường đi tới, thấy đâu đâu cũng ngói vỡ tường xiêu, cảnh vật tiêu điều, cái thành quách một thời phong thịnh của đất Giang Nam nay chỉ là hư phế. Lúc đó trời chưa tối hẳn, nhưng nhà nào cũng cửa đóng then cài, trên đường không ai qua lại, chỉ thấy kỵ binh Mông Cổ hoành hành, tra hỏi, đi tuần qua lại.
Trương Thúy Sơn không muốn gây thêm phiền nhiễu, mỗi khi nghe tiếng thiết kỵ quân Nguyên, liền náu mình dưới góc tường hay hẻm nhỏ.
Trước đây cứ vừa chập tối là mặt hồ đã đầy đèm đóm, bây giờ khi Trương Thúy Sơn chạy đến mặt đê, chỉ thấy mặt hồ đen ngòm, không ai qua lại. Chàng theo lời chỉ dẩn của người chủ quán, tìm đến trụ sở Long Môn tiêu cục. Tiêu cục đó là một dãy năm căn nhà lớn, mặt quay về phía Tây Hồ, trước cửa có một đôi sư tử bằng đá trắng, khí tượng uy võ. Trương Thúy Sơn đứng từ xa nhìn tới, di chuyển dần lại, thấy ngay trên mặt hồ ngay trước tiêu cục, có một chiếc du thuyền, đầu thuyền treo hai cái đèn lồng bằng sa xanh, dưới ánh đèn có một người đang ngồi uống rượu.
Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Người này kể cũng có nhã hứng thật!?. Lại thấy cái lồng đèn lớn treo bên ngoài tiêu cục cũng không đèn nến gì, cánh cửa có vòng đồng sơn màu đỏ kia cũng đóng chặt, chắc là người trong tiêu cục đã đi ngủ cả rồi.
Trương Thúy Sơn chạy đến trước cửa, nghĩ thầm: ?Một tháng trước, có người đưa tam ca qua cánh cửa này, không biết người đó là ai??. Trong lòng bùi ngùi, bỗng nghe sau lưng có tiếng người thở dài.
Tiếng thở dài đó trong đêm đen tĩnh lặng nghe như tiếng ma kêu, Trương Thúy Sơn quay đầu lại, thấy sau lưng không có ai cả, đảo mắt nhìn quanh một vòng, trừ người khách ngồi một mình trên chiếc thuyền trên hồ kia, chung quanh nào thấy bóng người. Trương Thúy Sơn hơi lấy làm lạ, nhìn người khách kia, thấy y áo dài xanh, mũ vuông, trông giống hệt mình, cũng ăn mặc ra dáng văn nhân, trong ánh sáng mờ mờ không nhìn rõ mặt, chỉ thấy nhìn ngang mặt y thật xanh xao, ánh đèn từ chiếc đèn lồng phất bằng bích sa chiếu vào, phản ảnh màu nước lục, nước lạnh thuyền đơn, lạnh lẽo thê lương, trông như không phải người trần thế. Lại thấy y ngồi trên thuyền một hồi lâu, trừ việc gió thổi vào quần áo phơ phất, y tuyệt nhiên yên lặng không động đậy.
Trương Thúy Sơn đã tính nhân lúc tối trời sẽ vượt tường vào tiêu cục, nhưng thấy có người trên thuyền, e rằng đêm hôm làm thế không được quang minh chính đại, nên đi đến trước đại môn của tiêu cục, cầm cái vòng đồng, gõ vào cửa coong coong coong ba tiếng. Trong đêm vắng, ba tiếng gõ đó kêu vang rất to, truyền đi thật xa. Đợi một hồi, trong nhà không thấy ai ra mở cửa. Trương Thúy Sơn lại gõ thêm ba tiếng nữa, thanh âm vẫn kêu rất to, chàng lắng tai nghe, bên trong nhà cũng vẫn không thấy tiếng chân người. Chàng lấy làm lạ, đưa tay vào cánh cửa đẩy một cái, cửa lập tức mở ra không một tiếng động, hóa ra cửa không cài then. Chàng tiến vào gọi lớn:
– Đô tổng tiêu đầu có trong nhà không?
Nói rồi tiến vào đại sảnh.
Đại sảnh tối đen như mực, không đèn đuốc gì cả. Ngay lúc đó, bỗng nghe bình một tiếng, cánh cửa chính bỗng đóng lại. Trương Thúy Sơn lập tức hiểu ngay, vội nhảy ra ngoài phòng, thấy cửa đã đóng chặt, lại có cài then, rõ ràng trong nhà có người. Chàng? cười khẩy mấy tiếng, nghĩ thầm: ?Các ngươi làm trò quỉ gì đây?? Nghĩ thế chàng lại mạnh dạn tiến vào trong nhà.
Vừa đến cửa sảnh, bỗng thấy hơi gió từ trước sau, trái phải thổi tới, bốn bề đều có người cùng xông vào tấn công. Trương Thúy Sơn nghiêng người nhảy qua, trong bóng tối thấy ánh sáng hơi động, cả bốn người đó trong tay đều có binh khí. Chàng xoay qua bên trái, xông qua phía tây, hữu chưởng từ trái chém ngang qua phải, nghe chát một tiếng, đánh trúng huyệt Thái Dương của một người, lập tức người đó lăn ra bất tỉnh. Tiếp theo tay trái từ góc phải trên đánh chéo xuống góc trái dưới, đánh trúng ngay mạng sườn của một người khác. Hai chiêu đó là một nét ngang, một nét phẩy trong tự quyết chữ ?bất?. Hai cú đánh vừa xong, tay trái gạt xuống, tay phải liền tống ra, đủ bốn nét của chữ bất đã đánh ngã tất cả bốn đối thủ.
Chàng không biết bọn mai phục trong đại sảnh để tập kích kia thuộc hạng người nào, nên ra tay không lấy gì làm nặng, mỗi chiêu chỉ sử độ ba thành kình lực. Người sau cùng bị cú thôi sơn phải lui về sau mấy bước, nghe lách cách, đã làm gãy một chiếc ghế bằng gỗ gụ, quát lên:
– Ngươi? tàn ác như thế, ra tay quả là độc địa, nếu như nam nhi hán, đại trượng phu thì để lại tên đi.
Trương Thúy Sơn cười đáp:
– Nếu ta thực sự ra tay độc địa, liệu ngươi còn sống được không? Tại hạ là Võ Đương Trương Thúy Sơn đây.
Người đó ?Ồ? một tiếng tựa hồ quá ư kinh ngạc, nói:
– Có thực ngươi là Võ Đương Trương ngũ ? Trương ngũ ? Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn chăng? Ngươi không mạo danh đấy chứ?
Trương Thúy Sơn mỉm cười, thò tay vào hông mò binh khí, tay trái hổ đầu câu bằng bạc vụn, tay phải phán quan bút bằng thép ròng, hai món binh khí đánh vào nhau, nghe coong một tiếng, lửa bắn ra tung tóe.
Đốm lửa đó chỉ trong chớp mắt nhưng Trương Thúy Sơn đã nhìn rõ bốn người đều mặc tăng y màu vàng, hóa ra họ là hòa thượng. Trong bốn nhà sư có hai người đối mặt với chàng, nên cũng nhìn rõ tướng mạo. Trương Thúy Sơn thấy hai người đó mặt đầy vết máu, mắt lóe ra đầy vẻ oán độc, tưởng như muốn ăn thịt, lột da chàng mới hả, nên lấy làm lạ hỏi:
– Bốn vị đại sư là ai?
Chỉ nghe một tăng nhân kêu lên:
– Mối huyết hải thâm cừu này, hôm nay chưa trả được, chạy đi thôi!
Nói xong bốn nhà sư cùng đứng dậy chạy ra cửa, trong đó có một người chân khập khiễng, được vài bước đã ngã lăn ra đất, hình như bị trúng đòn nặng hơn cả. Hai nhà sư quay lại đỡ lên, dìu y ra ngoài sảnh.
Trương Thúy Sơn kêu lớn:
– Bốn vị ở lại một chút, cái gì mà huyết hải ?
Nói chưa dứt câu, bốn nhà sư đã vượt tường chạy mất. Trương Thúy Sơn thấy chuyện buổi tối hôm nay rất là bất thường, suy nghĩ giây lát, vẫn không hiểu được nguyên do, tại sao trong Long Môn tiêu cục lại có bốn hòa thượng mai phục? Mình vừa bước chân vào đã tập kích, lại còn nói gì ?huyết hải thâm cừu? ? Chàng nghĩ thầm: ?Chuyện này chỉ hỏi những người trong tiêu cục mới có thể giải được những nghi nan này?. Chàng cao giọng gọi:
– Đô tổng tiêu đầu có nhà không? Đô tổng tiêu đầu có nhà không?
Đại sảnh trống không, vang vọng tiếng chàng dội lại, nhưng tuyệt nhiên không có ai trả lời.
Chàng nghĩ thầm: ?Nhất định không phải họ ngủ say đến thế. Chẳng lẽ họ sợ mình nên trốn hết rồi chăng? Lẽ nào mọi người trong tiêu cuộc đều đi cả, không còn một ai?? Chàng thò tay vào bọc lấy đồ đánh lửa thắp lên, thấy trên bàn có để một cái chân nến bèn? châm vào đó, đi ra sau nhà. Đi chưa được mấy bước thấy dưới đất có một người đàn bà nằm phục xuống, không động đậy. Trương Thúy Sơn gọi to:
– Này chị kia, làm sao thế?
Người đàn bà đó không đáp, Trương Thúy Sơn cầm vai kéo lên soi đèn nhìn mặt, không khỏi kêu lên thất thanh.
Người đàn bà đó mặt như mỉm cười, nhưng bắp thịt đã cứng, chết từ lâu rồi. Khi Trương Thúy Sơn cầm vai bà ta, đâu ngờ bà ta đã chết mà mặt vẫn còn cười, lúc đêm hôm nhìn thấy, không thể không giật mình. Chàng đứng thẳng dậy, thấy ở trước cái cột bên trái cũng có một người, đến gần nhìn xem, hóa ra là một ông già, quần áo mặc theo kiểu đầy tớ, mặt cũng cười một cách ngô nghê, nằm chết ở đó.
Trương Thúy Sơn trong lòng cảm thấy kỳ lạ, tay trái lấy hổ đầu câu từ thắt lưng ra, tay phải giơ cao ngọn nến, từng bước từng bước đi xem xét, thấy đông một người, tây một người, bên trong bên ngoài, đến mấy chục mạng chết đầy mặt đất, xem ra cả Long Môn tiêu cục không một ai sống sót. Chàng hành tẩu giang hồ, sinh bình những cảnh ghê gớm thấy cũng đã nhiều, nhưng trước cái cảnh sát diệt mãn môn đang chứng kiến, cũng không khỏi tim đập thình thịch. Trương Thúy Sơn thấy bóng mình trên tường cũng lập lòe, hóa ra tay chàng cầm đèn phát run, cây nến cũng rung động nên bóng chàng cũng chuyển theo.
Chàng thu móc đứng lại, nghĩ đến hai câu : ?Đường đi nếu có gì sai chạy, ta sẽ giết Long Môn tiêu cục của ngươi đến con gà con chó cũng chẳng còn?. Bây giờ thấy Long Môn tiêu cục ai cũng chết cả, ắt là tại vì hộ tống Du Đại Nham không được chu đáo. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Người ta hạ độc thủ như thế này cũng vì Du tam ca, hẳn phải là một hảo bằng hữu của anh ấy. Người này bản lãnh so với Đô Đại Cẩm cao hơn nhiều, lại biết rằng đường đi thể nào cũng gặp hung hiểm, sao y không tự mình đưa Du tam ca tới núi Võ Đương? Tam ca nhân hậu chính trực, ghét kẻ ác như kẻ thù, sao lại giao kết bạn bè với kẻ lòng độc như rắn rết thế này??.
Chàng càng nghĩ những nghi vấn càng nhiều, nên từ căn nhà phía tây cất bước đi ra. Dưới ánh nến, thấy hai tăng nhân mặc áo màu vàng, lưng dựa vào tường, nhìn trừng trừng, nhe răng cười.
Trương Thúy Sơn vội vàng lùi lại hai bước, giơ câu ra chặn hỏi:
– Hai vị ở đây làm gì thế?
Hai nhà sư đó nằm yên không động đậy, mới hiểu ra rằng họ cũng chết cả rồi. Đột nhiên chàng thấy lạnh ở tim, kêu lên:
– Ối chao, không được rồi, huyết hải thâm cừu, huyết hải thâm cừu ?
Bây giờ chàng mới hiểu tại sao lúc trước bốn nhà sư kia có hỏi 😕 Ngươi? tàn ác như thế, ra tay quả là độc địa, nếu như nam nhi hán, đại trượng phu thì để lại tên đi.? Lại còn nói : ?Mối huyết hải thâm cừu này, hôm nay chưa trả được? Xem ra món nợ máu mấy chục mạng của Long Môn tiêu cục, đổ cả lên đầu mình rồi. Khi đó mình không biết được chuyện này, đã không những chính miệng nói tên ra, lại còn lộ ra cả món võ khí thành danh ngân câu thiết hoạch. Nhưng bốn gã sư áo vàng đó lai lịch ra sao?
Trương Thúy Sơn ra tay quá nhanh, chỉ mới sử bốn nét trong tự quyết một chữ ?bất? đã đánh ngã cả bốn nhà sư, không kịp coi gia số võ công của đối phương, thế nhưng tứ tăng khi xông vào đều kình lực cương mãnh, hiển nhiên là đường lối ngoại gia của Thiếu Lâm. Đô Đại Cẩm là đệ tử Thiếu Lâm nên những nhà sư hẳn là do y kêu gọi đến viện thủ, không biết Du nhị ca và Mạc thất đệ giờ này ở đâu, sư phụ đã sai đến đây bảo hộ gia quyến trẻ già của Long Môn tiêu cục, với khả năng của nhị ca sao đến nỗi để người ta hạ thủ như thế này?
Trương Thúy Sơn trầm ngâm giây lát, hiểu rõ nguyên do, nghĩ thầm: ?Nếu những nhà sư này từ chùa Thiếu Lâm đến, thể nào phái Thiếu Lâm cũng đổ tội lên đầu mình, dẫu rằng sau này rồi mọi việc cũng ngã ngũ, hung thủ đích thực là ai, hai phái Thiếu Lâm Võ Đương liên thủ thể nào cũng phải tìm ra manh mối. Chuyện này hiện giờ mình chưa thể làm gì, tốt nhất là đi kiếm nhị ca và thất đệ là cần kíp hơn cả?.
Chàng thổi tắt nến, chạy ra bờ tường, nhảy vọt ra ngoài.
Chân chưa chạm đất,? bỗng nhiên nghe vù một tiếng thật lớn, một món binh khí nặng nề đánh ngang qua thắt lưng, lại nghe một người nói:
– Trương Thúy Sơn, ngã này.
Trương Thúy Sơn đang ở trên không, không cách gì né tránh, cú đánh của kẻ địch lại vừa độc vừa mạnh, trong cơn nguy cấp, chàng đưa tay trái đè vào binh khí của địch, mượn sức, nhẹ nhàng khéo léo nhảy trở lại đầu tường. Chiêu đó chính là nét mác trong tự quyết chữ võ, thật đúng là ?sai trì yến khởi, chấn tốc hồng phi, lâm nguy chế tiết, trung hiểm đằng ki (cơ)?[6], trong đường tơ kẽ tóc, chuyển nguy thành an.
Trong khi đang ở vào thế không còn cách gì khác hơn, chàng đâu ngờ rằng pho võ công mới học khi nặng thì như đá lở, khi nhẹ lại như khói sương, không tốn một chút hơi sức giải ngay được thế đánh của đối phương.
Chân trái chàng đạp lên đầu tường, tay phải rút phán quan ra, biết rằng đòn vừa rồi của kẻ địch đánh ngang hông, vừa độc địa, vừa mãnh liệt, quả là một hảo thủ không thể coi thường. Người vừa tập kích thấy Trương Thúy Sơn dễ dàng tránh được thế của mình, quả thực ngoài dự định, nhịn không nổi phải ?Ồ? một tiếng, quát lên:
– Hảo tiểu tử, ngươi quả không phải tay vừa.
Trương Thúy Sơn tay trái cầm câu, tay phải cầm bút, đưa ra bảo vệ mặt trước, đầu câu và mũi bút đều hướng về phía đối phương, chiêu này gọi là ?Cung Linh Giáo Huấn?[7], là một cách để biểu lộ sự kính trọng khi đối địch với một bậc tiền bối trong võ lâm. Vừa rồi khi đối phương ra tay tập kích, nếu như Trương Thúy Sơn không học được của sư phụ pho võ công hóa xuất từ thư pháp ra thì ắt là đã lưng nát, xương gãy, trong lòng tuy rất bực tức nhưng vẫn cẩn thủ sư huấn, không dám thất lễ với một cao thủ.
Trong bóng đêm chàng thấy đứng hai bên hai nhà sư mặc áo vàng, mỗi người cầm trong tay một thanh thiền trượng to chắc. Tăng nhân ở bên trái giơ gậy dậm xuống đất một cái, nghe ầm một tiếng lớn, nói:
– Trương Thúy Sơn, Võ Đương thất hiệp các ngươi cũng là những người đã thành danh trên chốn giang hồ, sao lại hành sự tàn ác đến như thế?
Trương Thúy Sơn nghe y gọi thẳng tên mình chứ không gọi là Trương ngũ hiệp, cũng không gọi Trương ngũ gia, trong bụng hơi giận nên chỉ lạnh lùng đáp:
– Đại sư chưa hỏi đầu đuôi, chưa nói phải trái, núp ở dưới chân tường lén lén lút lút tập kích, như thế là hành vi của anh hùng hảo hán chăng? Tôi vẫn thường nghe võ công phái Thiếu Lâm trì danh thiên hạ, nào ngờ thủ đoạn ám toán cũng có chỗ độc đáo hơn người.
Nhà sư đó giận dữ gầm lên một tiếng, cầm ngang thiền trượng nhảy lên đầu tường, người chưa hạ xuống nhưng đầu trượng đã đánh tới. Trương Thúy Sơn thấy một làn kình phong? đâm thẳng vào ngực, liền vung hổ đầu câu vòng lên, chặn thiền trượng lại, phán quan bút lập tức điểm ra, nghe keng một tiếng, bút đã điểm ngay vào thân gậy. Tăng nhân đó thấy cánh tay chấn động, không còn đứng vững trên đầu tường được, rơi phịch xuống đất. Thế nhưng hai bên giao qua một chiêu, Trương Thúy Sơn cũng thấy hai tay tê chồn, hóa ra sức cánh tay của tăng nhân đó thật mạnh, nên hỏi lớn:
– Hai vị là ai, xin thông báo pháp hiệu?
Nhà sư ở phía bên phải từ tốn đáp:
– Bần tăng Viên Âm, còn đây là sư đệ Viên Nghiệp.
Trương Thúy Sơn hạ đầu câu, đầu bút xuống, cung kính nói:
– Hóa ra là hai vị đại sư thuộc hàng chữ ?Viên? của chùa Thiếu Lâm, tiểu khả[8] từng nghe tên đã lâu, không hiểu muốn dạy bảo chuyện gì?
Giọng của Viên Âm xem chứng như không có hơi sức, thở hổn hển, nói:
– Chuyện này có quan hệ đến đại sự của hai phái Thiếu Lâm Võ Đương, sư huynh đệ bần tăng chỉ là tiểu bối trong phái Thiếu Lâm, không đủ tư cách để nói, nhưng hôm nay chỉ muốn hỏi một câu, Long Môn tiêu cục trai gái mấy chục người, trong đo có cả hai người sư điệt của chúng tôi, đều chết dưới tay Trương ngũ hiệp. Người đời thường nói là ?mệnh con người có liên quan đến trời, sao cho được an lành về sau?, mong được hỏi Trương ngũ hiệp định như thế nào?
Tuy y nói có vẻ khiêm hòa nhưng mỗi lời đều có ý kết tội, xem ra người này so với Viên Nghiệp còn lợi hại hơn nhiều. Trương Thúy Sơn cười nhạt đáp:
– Mệnh án tại Long Môn tiêu cục này do ai ra tay, chính tiểu khả cũng đang lấy làm lạ. Đại sư sao một mực cho là độc thủ của tiểu khả, phải chăng chính mắt đại sư trông thấy?
Viên Âm gọi:
– Tuệ Phong, ngươi ra đối chất với Trương ngũ hiệp.
Sau những gốc cây đi ra bốn nhà sư mặc áo vàng, chính là bốn người vừa bị Trương Thúy Sơn dùng tự quyết chữ ?bất? đánh ngã. Nhà sư có pháp danh Tuệ Phong khom lưng nói:
– Khải bẩm sư bá, Long Môn tiêu cục mấy chục nhân khẩu, trong đó có cả Tuệ Thông, Tuệ Quang hai vị sư huynh, đều bị ? tên ác tặc họ Trương hạ độc thủ.
Viên Âm nói:
– Các ngươi chính mắt trông thấy không?
Tuệ Phong đáp:
– Quả thực chính mắt nhìn thấy, nếu như bốn người đệ tử chạy không nhanh, thì cũng chết dưới tay tên ác tặc này rồi.
Viên Âm nói:
– Đệ tử nhà Phật không được nói láo, việc này có liên quan đến hai đại môn phái Thiếu Lâm chúng ta và phái Võ Đương, nghìn vạn lần không được nói năng bậy bạ.
Tuệ Phong quì ngay xuống đất, chắp tay nói:
– Có Đức Phật ở trên, đệ tử Tuệ Phong xin thưa rằng, quả là tình thực mà nói, quyết không dám lừa dối sư bá.
Viên Âm nói:
– Ngươi đem tình hình mắt ngươi trông thấy, nói lại đầu đuôi xem nào.
Trương Thúy Sơn nghe đến đây, từ trên đầu tường nhảy ngay xuống đất.
Viên Nghiệp tưởng rằng Trương Thúy Sơn định gia hại Tuệ Phong, huy động thiền trượng ngay đầu chàng quét ngang. Trương Thúy Sơn rùn mình, lách người về phía trước, chuyển ngay ra phía sau lưng Tuệ Phong. Viên Nghiệp đánh không trúng, cứ đúng theo chiêu số của Phục Ma Trượng thì sẽ chuyển đầu đâm lại vào vai Trương Thúy Sơn. Thế nhưng lúc này chàng đang đứng sau Tuệ Phong, nếu như thiền trượng hồi chuyển, ắt sẽ đánh vào Tuệ Phong trước, trong cơn kinh hoảng chỉ còn cách cố giữ trượng lại, quát lên:
– Ngươi định làm trò gì?
Trương Thúy Sơn nói:
– Ta muốn cẩn thận lắng nghe cho kỹ xem y kể lại chuyện ta giết người của Long Môn tiêu cục như thế nào.
Tuệ Phong thấy Trương Thúy Sơn đứng ngay cạnh mình, cách nhau không đầy hai thước, binh khí trong tay chỉ vung lên, là mình sẽ táng mệnh ngay lập tức dẫu rằng có hai vị sư bá ở bên, muốn cứu cũng không kịp. Thế nhưng y trong lòng phẫn nộ nên vẫn ngang nhiên không sợ, nói lớn:
– Viên Tâm sư thúc ở Giang Bắc nhận được thư cáo cấp của Đô Đại Cẩm sư huynh, nên lập tức phái Tuệ Thông, Tuệ Quang hai vị sư huynh ngày đêm chạy đến cứu nguy, sau lại truyền hiệu lệnh, sai đệ tử cùng ba người sư đệ, đến Long Môn tiêu cục. Chúng con vừa đến tiêu cục, Tuệ Quang sư huynh đã e ngại đêm nay sẽ có cường địch đến, nên sai bốn người chúng con phục tại tường phía đông để chờ, lại dặn nên cẩn thận đừng để trúng kế điệu hổ ly sơn, không được tự ý đi khỏi nơi đây.
Viên Âm nói:
– Sau đó thế nào? Nói ta nghe.
Tuệ Phong nói:
– Trời vừa tối không lâu, bỗng nghe Tuệ Thông sư huynh lên tiếng chửi mắng, cùng người động thủ ở hậu sảnh, sau đó nghe y kêu lên thảm thiết, tựa hồ đã bị trọng thương. Chúng con chạy đến thì thấy ? y ?y đã viên tịch, tên ác tặc họ Trương ?
Đến đây, y dậm chân nghiến răng chỉ ngay vào mặt Trương Thúy Sơn, nói:
– -??????????? Chính mắt ta thấy ngươi một chưởng đánh Tuệ Quang sư huynh văng vào tường chết tươi. Ta tự biết không phải là địch thủ của tên ác tặc, nên nằm phục ở bên ngoài cửa sổ, thấy ngươi đi ra hậu viện giết người, sau đó tám người từ hậu viện chạy ra, ngươi đuổi theo, dùng chỉ điểm chết từng người một, đến khi già trẻ lớn bé không còn một ai, ngươi mới nhảy qua tường đi mất.
Trương Thúy Sơn lặng yên đứng nghe, Tuệ Phong nói đến nước bọt tung tóe, văng cả vào mặt chàng, chàng cũng không né tránh, cũng không xuất thủ, chỉ lạnh lùng nói:
– Rồi sau thế nào?
Tuệ Phong phẫn uất nói:
– Sau thế nào ư? Về sau ta trở lại tường phía đông cùng ba vị sư đệ thương lượng, đều thấy ngươi võ công quá cao, bốn người chúng ta không thể nào địch nổi, chỉ còn cách xem xét tình hình rồi sẽ tính sau. Nào ngờ đợi chẳng bao lâu, ngươi đã phá cửa trở vào, lần này lại còn gọi đích danh Đô tổng tiêu đầu ra nói chuyện. Bốn người bọn ta biết rằng ra là chết, nhưng cũng cùng ngươi sống mái một phen. Ta hỏi tên họ ngươi, ngươi không phải tự báo danh hiệu,? gọi là ?Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn? đấy ư? Lúc đầu ta không tin, nghĩ ngươi là một trong Võ Đương thất hiệp lẽ nào lại giở trò giết người không nháy mắt, tàn ác như thế, nhưng đến khi ngươi tự lộ binh khí, thì còn giả làm sao được?
Trương Thúy Sơn nói:
– Ta tự báo tính danh, lộ xuất binh khí, cái đó thì quả thật không phải là giả, bốn người bọn ngươi chính ta đánh ngã. Thế nhưng ngươi nói lại đi: ?Mấy chục nhân mạng trong tiêu cục này, các ngươi chính mắt trông thấy họ Trương này giết hại?.
Ngay lúc đó, Viên Âm phất tay áo một cái, nắm ngay lấy Tuệ Phong kéo ra xa vài thước, nghiêm nghị nói:
– Ngươi nói lại một lần nữa, để cho vị Trương ngũ hiệp danh chấn thiên hạ này không còn cãi chầy cãi cối được nữa.
Y dùng tay áo đẩy Tuệ Phong ra xa cốt y thân không còn tại nơi hiểm địa, để Trương Thúy Sơn không có thể nổi giận bất ngờ, ra tay giết người diệt khẩu, không ai đối chất.
Tuệ Phong nói:
– Tốt lắm, để ta nói lại một lần, chính mắt ta trông thấy ngươi xuất chưởng đánh chết Tuệ Quang, Tuệ Thông hai vị sư huynh, chính mắt ta thấy ngươi dùng chỉ điểm chết tám người của tiêu cục.
Trương Thúy Sơn lại hỏi:
– Ngươi có trông rõ mặt mày ta không? Ta mặc quần áo thế nào?
Nói rồi đánh lửa châm đuốc, chiếu ngay vào mặt mình. Tuệ Phong giương mắt nhìn diện mạo chàng, hậm hực nói:
– Chính ngươi mặc bộ quần áo này, trường bào phương cân, không sai. Lúc đó tay trái ngươi cầm một cái quạt xếp, cái quạt đó, ngươi đang? gài trên cổ áo kia kìa.
Trương Thúy Sơn giận quá hóa điên, không hiểu tại sao y lại cố tình vu hãm mình như thế, giơ cao ngọn đuốc, tiến lên hai bước, quát lên:
– Ngươi có gan thì nói lại một lần đi, kẻ giết người chính là Trương Thúy Sơn, không phải ai khác.
Hai mắt Tuệ Phong đột nhiên phát ra một thần sắc kỳ dị, chỉ vào mặt chàng nói:
– Ngươi ? ngươi ? ngươi không ?
Bỗng dưng ngã nhào xuống đất, nằm lăn ra. Viên Âm và Viên Nghiệp cùng hoảng hốt kêu lên, xông lại đỡ y dậy. Tuệ Phong hai mắt mở trừng trừng, đầy vẻ kinh ngạc sợ hãi, nhưng khí đã tuyệt rồi.
Viên Âm kêu lên:
– Ngươi ? ngươi đánh chết y rồi ư?
Biến cố đó xảy ra thật mau, Viên Âm và Viên Nghiệp dĩ nhiên vừa sợ vừa tức, đến Trương Thúy Sơn cũng không sao lường được, lập tức quay đầu lại, chỉ thấy sau lùm cây có cái gì hơi động. Trương Thúy Sơn quát lên:
– Đừng chạy.
Chàng tung mình nhảy tới, biết rằng trong bụi có người ẩn phục, xông vào rất là nguy hiểm, nhưng trong thế kẹt, nếu không bắt được kẻ ám tiễn thương nhân kia, bản thân mình không sao thoát khỏi can hệ.
Nào ngờ khi thân chàng còn đang ở trên không, lại nghe thấy hai tiếng vù vù ở phía sau, hai cây thiền trượng chia hai bên tả hữu đánh tới, đồng thời nghe hai nhà sư quát lên:
– Ác tặc đừng chạy.
Trương Thúy Sơn đưa bút và câu xuống gạt ra, trả lại hai đòn trong tự quyết chữa ?đao?, ngân câu móc trúng thiền trượng của Viên Nghiệp, phán quan bút điểm vào thiền trượng của Viên Âm, thân hình mượn sức nhảy lên, nhảy lên đầu tường, chăm chú nhìn vào bụi cây, chỉ còn thấy tàn hơi rung động, còn kẻ ẩn trong đó không thấy tung tích gì nữa.
Viên Nghiệp liên tiếp rống lên, huy động thiền trượng toan nhảy lên đầu tường thí mạng. Trương Thúy Sơn quát lên:
– Đuổi theo chính hung thủ là cần, hai vị đừng có ngăn trở.
Viên Âm thở hổn hển nói:
– Ngươi ? ngươi ngay trước mắt bọn ta giết người, lại còn tính chuyện bài bây ư?
Trương Thúy Sơn huy động hổ đầu câu ép cho Viên Nghiệp không sao nhảy lên trên tường được. Viên Âm nói:
– Trương ngũ hiệp, chúng tôi hôm nay không cần phải lấy mạng của ngươi, các hạ bỏ binh khí xuống, theo chúng tôi về chùa Thiếu Lâm là xong.
Trương Thúy Sơn giận dữ đáp:
– Hai người làm vướng chân vướng tay để cho hung thủ chạy mất, đến bây giờ cũng còn chưa biết đầu đuôi. Ta theo các ông về chùa Thiếu Lâm làm gì?
Viên Âm đáp:
– Về chùa Thiếu Lâm để cho phương trượng bản tự định đoạt. Ngươi giết hại ba người của chùa chúng tôi, chuyện này là chuyện lớn, ta không thể giải quyết được.
Trương Thúy Sơn cười nhạt:
– Uổng cho các ông là hảo thủ thuộc hàng chữ ?Viên? của chùa Thiếu Lâm, hung thủ ở ngay trước mắt đào tẩu, vậy mà không biết gì cả.
Viên Âm nói:
– Thiện tai ! Thiện tai ![9] Ngươi làm hại mạng người, nhất định ta không thể để ngươi chạy thoát.
Trương Thúy Sơn thấy y một mực đổ cho mình là thủ phạm, trong lòng càng bực bội thêm, một mặt đấu khẩu với y, một mặt sách chiêu với Viên Nghiệp không cho y nhảy lên đầu tường, càng lúc đấu càng mãnh liệt, nên cười nhạt nói:
– Hai vị đại sư có bản lãnh thì cứ bắt tôi đi !
Viên Nghiệp giơ thiền trượng giáng xuống đất một cái, mượn sức nhảy vọt lên, Trương Thúy Sơn cũng nhảy theo, khinh công của chàng so với Viên Nghiệp cao hơn nhiều nên đứng từ cao đánh xuống, nhanh chẳng khác gì đang cưỡi gió. Viên Nghiệp giơ ngang trượng định đỡ, hổ đầu câu của Trương Thúy Sơn lập tức chuyển qua, nghe xoẹt một tiếng đã móc trúng vai, máu chảy tung tóe, khiến y kêu rống lên, rơi trở lại đất. Cú đánh đó là Trương Thúy Sơn còn thủ hạ lưu tình, chứ nếu không chỉ đi xéo qua một chút sẽ móc ngay vào yết hầu của Viên Nghiệp, y không khỏi chết ngay tại chỗ.
Viên Âm kêu lên:
– Viên Nghiệp sư đệ, bị thương có nặng không?
Viên Nghiệp giận dữ nói:
– Chẳng sao cả ! Sao sư huynh không xuất thủ mà cứ đứng đó lèm bèm gì nữa?
Viên Âm ho một tiếng, giơ trượng đánh lên. Viên Nghiệp vẫn rất hùng hổ, không để ý tới chỗ bị thương trên đầu vai, múa trượng như gió cuốn, hai bên xáp lại tấn công. Trương Thúy Sơn thấy hai nhà sư này tí lực[10] thật là mạnh mẽ, sử một loại binh khí thật nặng nề, nếu để họ nhảy lên được trên tường, một chống hai muốn thắng càng thêm khó khăn. Nghĩ thế chàng thủ môn hộ thật nghiêm nhặt, từ cao đánh xuống, nhị tăng không cách gì có thể đánh lên. Ba nhà sư hàng chữ ?tuệ? võ công kém xa, thấy hai vị sư bá đánh đã lâu mà chưa nên công cán gì, muốn nhảy vào tương trợ, nhưng không có cách gì chen vào được.
Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Hiện tại không có cách gì hay hơn là phải điều tra cho ra hung thủ, không thể để cho bọn họ cứ luẩn quẩn quấy rầy mình mãi được?. Chàng bèn giơ câu và bút đan chéo ra trước mặt để chặn các thế tấn công đánh tới, hú lên một tiếng, đang định nhảy đi, bỗng nghe phía bên trong tường một người rống lên như sấm, sau lưng đã thấy một luồng lực đánh tới. Chàng liền nhảy xuống đất, thì thấy một tăng nhân cao lớn nhảy qua tường, vươn tay ra toan đoạt binh khí của chàng. Trong bóng đêm không nhìn rõ diện mạo, nhưng mười ngón tay y như mười cái móc câu, trảo cũng cứng mà cách đoạt cũng mạnh, đúng là môn Hổ Trảo Công cực kỳ lợi hại của phái Thiếu Lâm.
Viên Nghiệp kêu lên:
– Viên Tâm sư huynh, dù cách nào cũng không để cho tên ác tặc này chạy thoát.
Trương Thúy Sơn từ khi học nghệ thành đến nay, ít khi gặp địch thủ, nửa tháng trước lại được thêm ?Ỷ Thiên Đồ Long Công?, võ công càng cao. Lúc này chàng thấy các nhà sư Thiếu Lâm cực kỳ uy mãnh, lại muốn chọc cho đối phương nổi giận, nên đem hổ đầu câu và phán quan bút cài lại vào lưng, kêu lên:
– Hỡi ba người của chùa Thiếu Lâm hãy tất cả xông lên, ta Trương Thúy Sơn đâu có sợ gì?
Thấy tay trái của Viên Tâm chộp tới, chàng vươn tay phải ra dùng chỉ đối lại, nghe soạt một tiếng đã xé rách một mảnh tay áo tăng bào. Thủ trảo của nhà sư lại toan chộp vào vai Trương Thúy Sơn, chàng liền giơ chân trái đá lên, trúng ngay đầu gối y.
Nào ngờ hạ bàn công phu của Viên Tâm rất là chắc chắn, tuy đầu gối bị trúng một cú đá mạnh nhưng y chỉ loạng choạng mà không ngã. Y rống lên như hổ gầm, tay phải lại chộp ra. Cùng lúc đó, hai thiền trượng của Viên Âm, Viên Nghiệp cũng đồng thời đánh tới, một thọc ngang hông, một trên bổ xuống.
Viên Âm khi nói luôn luôn ho sù sụ như người bị bệnh nặng, thực ra trong ba người y là người có võ công cao hơn cả. Cây thiền trượng bằng đồng đúc nặng đến mấy chục cân mà y sử dụng chẳng khác gì một món binh khí tầm thường, đâm chém đỡ gạt, nhẹ nhàng như không.
Trương Thúy Sơn gặp được hảo thủ, nghĩ thầm:
– Phái Võ Đương ta và phái Thiếu Lâm ít lâu nay cùng nổi danh trong võ lâm, thế nhưng bên nào cao bên nào thấp, chưa bao giờ có dịp so sánh. Hôm nay quả là một dịp hay để xem cao tăng chùa Thiếu Lâm đến độ nào.
Nghĩ thế chàng thi triển hai bàn tay không, giữa hai cây thiền trượng và một đôi hổ trảo tung hoành qua lại, chém phạt chộp nắm, chỉ đâm chưởng lách, tuy một địch ba, nhưng lại dần dần chiếm được thượng phong.
Thiếu Lâm và Võ Đương hai bên đều có sở trường sở đoản, phái Võ Đương có được một vị cái thế kỳ tài là Trương Tam Phong, trong khi Thiếu Lâm đã có hơn nghìn năm sửa đổi truyền thụ, không phải kém cỏi gì. Có điều lúc này Trương Thúy Sơn là loại hảo thủ bậc nhất của phái Võ Đương trong khi Viên Âm, Viên Tâm, Viên Nghiệp tuy võ công cũng có mức thành tựu, nhưng tại chùa Thiếu Lâm cũng chỉ là loại hạng nhì. Hai bên đánh càng lâu, Trương Thúy Sơn thần khí càng thêm sung túc, tiêu sái nhẹ nhàng. Chàng tay phải? đánh ra, sử thế móc trong tự quyết chữ ?Long?, chộp ngay được thiền trượng của Viên Nghiệp, thuận tay hất ra đỡ ngay thiền trượng của Viên Âm vừa đánh tới. Thế đó mượn sức đánh sức, nghe choang một tiếng lớn,? khiến tai mọi người đều lùng bùng. Lực khí Viên Âm và Viên Nghiệp đều mạnh, lại thêm lực đạo của Trương Thúy Sơn khiến cho hổ khẩu hai người đều ứa máu. Viên Tâm trong lòng kinh hãi, xông lên cứu viện. Trương Thúy Sơn đưa chân móc một cái, lật chưởng đánh vào đầu vai y, lại mượn sức y đang xông về trước, đẩy y ngã xuống.
Trương Thúy Sơn cười khẩy:
– Muốn bắt ta để đưa lên chùa Thiếu Lâm, các ngươi phải học thêm vài năm nữa.
Nói xong quay mình định đi. Viên Tâm tung mình nhảy tới, kêu lên:
– Hung đồ chớ chạy.
Kế? tiếp Viên Âm và Viên Nghiệp hai người cũng chạy đến nơi. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Nếu ba gã hòa thượng này cứ luẩn quẩn không chịu buông, chẳng lẽ mình đánh chết họ?. Chàng liền đề một khẩu khí, thi triển khinh công chạy vụt đi.
Viên Tâm và Viên Nghiệp kêu la rầm rĩ chạy đuổi theo. Hai người khinh công không bằng Trương Thúy Sơn nên chỉ gào lên:
– Bắt lấy tên hung thủ giết người ! Ác tặc chớ có chạy !
Tiếp tục chạy theo bờ hồ không chịu bỏ.
Trương Thúy Sơn trong lòng cười thầm, nghĩ bụng các ngươi đuổi theo ta sao nổi. Bỗng nghe Viên Tâm và Viên Nghiệp ở sau lưng cùng kêu lên:
– Ối chà !
Viên Âm kế đó cũng kêu lên hình như cả ba người đều bị đau đớn. Trương Thúy Sơn kinh ngạc quay đầu nhìn, chỉ thấy ba nhà sư đều giơ tay ôm mắt phải, tựa hồ trúng phải ám khí. Quả nhiên nghe thấy Viên Nghiệp lớn tiếng chửi:
– Họ Trương kia, ngươi có giỏi thì đánh mù nốt mắt trái ta đi.
Trương Thúy Sơn cũng ngớ người ra: ?Không lẽ mắt phải y đã bị người nào làm mù rồi ư? Không biết ai là người đã ám trợ mình??. Chàng chợt nghĩ ra, kêu lên:
– Thất đệ, thất đệ, em ở đâu đó ?
Trong Võ Đương thất hiệp chỉ có người thứ bảy là Mạc Thanh Cốc phát xạ ám khí giỏi hơn cả, nên Trương Thúy Sơn nghĩ rằng y đã đến.
Chàng kêu lên mấy lần nhưng không nghe tiếng ai trả lời. Trương Thúy Sơn cử bộ chạy nhìn chung quanh mấy cây liễu lớn ở ven hồ, nhưng không thấy bóng một ai. Viên Nghiệp một mắt bị bắn mù, giận dữ điên cuồng, không còn kể sống chết nhất định xông lên cùng Trương Thúy Sơn một mất một còn. Thế nhưng Viên Âm biết rằng dù còn cả hai mắt, ba người cũng không phải là địch thủ của Trương Thúy Sơn, nên níu Viên Nghiệp lại, nói:
– Viên Nghiệp sư đệ, việc báo cừu đâu phải chỉ tại một lúc này? Chuyện này dù ta và ngươi không lý đến, lão phương trượng và hai vị sư thúc cũng bỏ qua sao được ?
Trương Thúy Sơn thấy ba nhà sư không đuổi theo nữa, trong lòng đầy nghi hoặc: ?Người trong bóng tối náu mình ra tay ám trợ ta, không biết là ai?.? Chàng không dám ở lại bờ hồ lâu hơn nữa, rảo bước trở về khách điếm, nhưng chưa được mươi trượng thấy đám lau lách bên hồ không ngừng rung động.
Lúc này mặt hồ không có gió, lau lách xào xạc hẳn là có người nấp ở bên trong. Trương Thúy Sơn chạy đến, đang định lên tiếng hỏi, trong đám lau nhảy vụt ra một người, giơ đao nhắm đầu chàng chém xuống, quát lên:
– Ngươi không chết, thì ta chết !
Trương Thúy Sơn nghiêng người đá lên, trúng ngay cổ tay phải y. Cương đao trong tay người đó tuột ra, lấp lánh một tia ánh sáng trắng, nghe tõm một tiếng đã rơi xuống hồ. Nhìn lại người đó, mặc tăng bào, đầu trọc, cũng lại là một nhà sư chùa Thiếu Lâm. Trương Thúy Sơn quát:
– Ngươi ở đây làm gì ?
Chỉ thấy trong đám lau còn ba người nữa, không biết đã chết hay chỉ bị thương. Chàng thấy nhà sư đó võ công bình bình, nên không cố kỵ, đi tới mấy bước cúi mình xuống xem, thấy ba người đó chính là Đô Đại Cẩm và Chúc, Sử tiêu đầu của Long Môn tiêu cục.
Trương Thúy Sơn kinh ngạc, kêu lên:
– Đô tổng tiêu đầu, ông ? ông sao lại ?
Nói chưa dứt câu, Đô Đại Cẩm đã nhảy lên, hay tay túm chặt lấy ngực chàng, nghiến răng nói:
– Ác tặc, ta bất quá để lại có ba trăm lượng hoàng kim, ngươi ? ngươi cũng hạ độc thủ.
Trương Thúy Sơn nói:
– Ngươi định làm gì?
Chàng định dùng cầm nã pháp thoát ra, thấy khóe mắt, khóe miệng y đều có máu tươi, lúc này tuy là ban đêm, nhưng chỉ cách nhau không đầy nửa thước, nhìn thấy rõ ràng, kinh hãi hỏi:
– Ông bị nội thương chăng?
Đô Đại Cẩm quay qua nhà sư Thiếu Lâm kia nói:
– Sư đệ, ngươi nhìn cho rõ, người này tên gọi Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn, chính là ? chính là hung thủ hại người. Ngươi mau chạy đi, chạy nhanh đi, đừng để y đuổi kịp ?
Đột nhiên hai tay nắm chặt, dùng đầu đập mạnh vào trán Trương Thúy Sơn một cái, muốn cùng chàng hai bên đầu cùng vỡ toang để chết một lượt.
Trương Thúy Sơn vội vàng hai tay xoay qua, đẩy vào đầu vai y một cái, chỉ nghe soạt một tiếng, Đô Đại Cẩm đã bị hất văng ra ngoài nhưng áo chàng cũng bị rách một mảng lớn ngay trước ngực. Trương Thúy Sơn tuy rất lớn mật, nhưng hôm nay gặp bao nhiêu là chuyện khác thường, thần tình Đô Đại Cẩm lại khiến cho người ta hãi sợ, khiến chàng không khỏi tim đập thình thịch, cúi đầu nhìn xuống, Đô Đại Cẩm mắt đã trợn trắng,? khí đã tuyệt rồi. Y vốn đã bị nội thương nặng, chàng chỉ đẩy nhẹ vào đầu vai y, quyết không thể nào giết y nổi.
Gã sư chùa Thiếu Lâm kêu lên thất thanh:
– Ngươi ? ngươi lại giết Đô sư huynh ?
Lập tức quay mình chạy trốn, vừa kinh hoảng, vừa gấp gáp, chỉ chạy được vài bước đã ngã nhào.
Trương Thúy Sơn lắc đầu, thấy hai chân của Chúc, Sử tiêu đầu chìm dưới nước hồ, chết cũng đã lâu. Nhìn lại ba xác chết, chàng không khỏi bồi hồi. Tuy với Đô Đại Cẩm không có giao tình, Long Môn tiêu cục hộ tống Du Đại Nham không chu đáo, khiến chàng một phen căm hận, nhưng một khi thấy họ bất minh bất bạch chết đi, không khỏi không thương cảm. Chàng đứng bên bờ hồ chốc lát, bỗng dưng nghĩ ra: ?Đô Đại Cẩm có nói: Ác tặc, ta bất quá để lại có ba trăm lượng hoàng kim, ngươi cũng hạ độc thủ?. Ta bảo y đem hai nghìn lượng vàng ra cứu tế nạn dân, có lẽ y tiếc của nên lén giữ lại ba trăm lượng. Không nói gì đến việc ta không biết,? nếu có biết, cũng chỉ cười, lẽ đâu lại vì thế mà làm khó y bao giờ?.
Chàng nhắc thử cái túi sau lưng Đô Đại Cẩm, quả nhiên nặng chịch, mở ra có mấy đĩnh vàng rơi xuống bên mặt xác chết. Ngay lúc đó, chàng cảm thấy cái vô thường của cõi nhân sinh, vị tổng tiêu đầu này một đời khổ sở, nghìn dặm bôn ba, trên đầu đao mũi kiếm xả thân, chỉ cốt được một mớ hoàng kim, bây giờ trước mắt vàng rơi ngay bên cạnh, nhưng y vẫn không được hưởng. Chàng mới rồi đánh với Thiếu Lâm tam tăng, tuy toàn thắng nhưng cái tiếng anh hùng nhất thời, một trăm năm sau, so với Đô Đại Cẩm có khác gì đâu. Nghĩ tới đó chàng không khỏi thở dài một tiếng.
Bỗng dưng Trương Thúy Sơn nghe thấy tiếng đàn tình tang, từ trong hồ đưa tới. Chàng ngửng đầu lên, thấy thanh niên văn sĩ nhìn thấy bên ngoài Long Môn tiêu cục đang gẩy đàn trên thuyền. Dưới chân là ba cái xác chết, nếu để chiếc du thuyền xích lại gần bờ e ngại người nọ nhìn thấy sẽ hoảng sợ kêu lên, kinh động đội tuần quân Mông Cổ,? sẽ gây thêm phiền nhiễu. Còn đang chần chừ, bỗng nghe người văn sĩ nọ gẩy nhẹ ba tiếng, quay đầu lại, nói:
– Huynh đài có nhã hứng du ngoạn bờ hồ lúc canh khuya, sao không xuống thuyền chơi?
Nói rồi đưa tay ra vẫy một cái. Phía sau có sẵn một người lái đò nhỏm dậy, đẩy hai mái chèo, đưa chiếc thuyền nhỏ bơi vào bờ. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Người này từ trước đến nay vẫn ở trên hồ, có thể y nhìn thấy gì chăng, sao mình không hỏi thăm y một chút?. Nghĩ vậy chàng chãy đến bên bờ nước, đợi chiếc thuyền đến gần, nhẹ nhàng nhảy xuống đầu thuyền.
Người thư sinh trong thuyền đứng dậy, mỉm cười, chắp tay chào, đưa tay trái ra chỗ thượng thủ, mời khách ngồi xuống. Ánh sáng từ chiếc đèn lồng phất bích sa chiếu vào, tay người đó trắng còn hơn tuyết. Nhìn lại tướng mạo, thấy y mặt ngọc hơi gầy, mi cong mũi thẳng, khi mỉm cười bên má trái có đồng tiền núm vào, nhìn xa tưởng là một công tử phong lưu tuấn nhã, nhưng bây giờ đối diện, rõ ràng là một thiếu nữ mặc giả trai.
Trương Thúy Sơn tuy là người tiêu sái, phóng khoáng, nhưng qui củ sư môn, chuyện trai gái phòng phạm rất kỹ lưỡng. Võ Đương thất hiệp hành tẩu giang hồ, đối với nữ sắc lúc nào cũng rất nghiêm cẩn, nay chàng thấy đối phương là một người con gái, vừa kinh ngạc, lập tức má đỏ bừng, đứng ngay dậy, nhảy vội lên bờ, chắp tay nói:
– Tại hạ không biết cô nương ăn mặc nam trang, nên đã vô ý mạo muội.
Thiếu nữ không trả lời. Bỗng nghe tiếng mái dầm khua lên, chiếc thuyền lặng lẽ đi ra giữa hồ, người con gái đó gẩy đàn hát rằng:
Kim tịch hứng tận, Lai tiêu du du.
Lục Hòa tháp hạ, Thùy liễu biên chu.
Đãi quân tử hề, Ninh đương lai du ?
Hứng tối nay đến đây đã cạn, Mong đêm mai lại đến cùng nhau.
Lục Hòa tháp dưới chân cầu, Bên cây liễu rủ thuyền câu đứng chờ.
Người quân tử nếu không quản ngại, Tới nơi đây du ngoạn một phen.
Chiếc thuyền đi mỗi lúc một xa, tiếng hát cũng nhỏ dần, chỉ thấy sóng nước rung động, chiếc thuyền nhỏ như hạt đậu chìm lẫn vào sắc nước.
Sau một phen đao quang kiếm ảnh, kịch đấu trong gió tanh mưa máu, bỗng gặp cảnh nhẹ nhàng lả lướt như thế, Trương Thúy Sơn lặng người đứng trên bờ hồ, lòng không khỏi dâng lên một nỗi nao nao, mãi một lúc lâu sau, mới quay về khách điếm.
Hôm sau trong thành Lâm An, vụ huyết án mấy chục mạng của Long Môn tiêu cục truyền ra ai ai cũng biết. Trương Thúy Sơn tướng mạo nho nhã, nên không ai nghi ngờ chàng. Suốt ngày hôm đó, chàng nhàn du khắp các phố phường, đền miếu, nghe ngóng tung tích nhị sư ca Du Liên Châu và thất sư đệ Mạc Thanh Cốc. Thế nhưng đi cả buổi, chàng không tìm ra được một ký hiệu liên lạc nào của Võ Đương thất hiệp cả.
Đến lúc xế chiều, trong lòng lại rộn lên tiếng hát của người thiếu nữ:
Kim tịch hứng tận, Lai tiêu du du.
Lục Hòa tháp hạ, Thùy liễu biên chu.
Đãi quân tử hề, Ninh đương lai du ?
Hình ảnh cô gái đó lại chập chờn hiện ra trước mắt. Chàng nghĩ thầm: ?Miễn là ta giữ lễ, gặp cô ta một lần cũng đâu hề gì ? Nếu như có cả nhị sư ca và thất sư đệ ba người cùng đi có lẽ hay hơn, nhưng lúc này trừ việc hỏi thăm cô ta ra, không còn nơi nào khác để có thể tìm ra sự thực cái mệnh án đêm hôm trước?.
Ăn cơm tối xong, chàng nhắm hướng Lục Hòa tháp, bên sông Tiền Đường đi tới.
[1] tai nạn lớn (catastrophe) [2] làm thương tổn, phục độc (to injure, to poison) [3] đau khổ cùng cực [4] Đệ tử sau cùng [5] phép viết chữ Hán [6] con chim én bay ngang hồ, gặp lúc con vịt trời cũng bay lên, trong khi đang nguy hiểm, vội vàng bay vụt lên (người dịch chưa tìm ra nguồn gốc của bốn câu này, quí vị nào biết xin chỉ giáo. Đa tạ) [7] Cung kính nghe lời dạy bảo [8] tiếng tự xưng nhún mình một cách khiêm tốn (Từ Hải tr. 944) [9] từ tiếng Phạn Sa độ (sadhu) là tán thán từ nghĩa là ?quí hóa thay? thường dùng để ngợi khen nhưng ở đây được dùng để thay thế một tiếng niệm Phật [10] sức cánh tay

Hết tập 4

********************************************************************************************************************

TẬP 5:

HẠO TÍ TỰ NGỌC MAI HOA TRANG
Nghĩa chàng như non Thái, Tình thiếp tựa biển Đông.
Dẫu trăm đường ngăn trở, Đã quyết cũng nên công.
Từ sông Tiền Đường đến tháp Lục Hòa chuyển qua một khúc quanh lớn, sau đó mới chảy thẳng về hướng đông. Chỗ đó với phủ thành cũng chẳng gần nên dù đi nhanh, lúc Trương Thúy Sơn đến Lục Hòa tháp trời cũng đã tối. Chàng thấy bên phía đông ngọn tháp có ba cây liễu lớn, bên dưới quả nhiên đậu một chiếc thuyền. Thuyền trên sông Tiền Đường đều có buồm, so với thuyền nhỏ để đi chơi ở Tây Hồ thì lớn hơn nhiều, nhưng đầu thuyền cũng treo hai cái đèn lồng bích sa không khác gì hôm qua. Trương Thúy Sơn thấy tim đập thình thịch, cố định thần, đi đến dưới cây liễu, thấy cô gái đó ngồi một mình dưới hai cái đèn lồng. Nàng mặc một chiếc áo dài màu xanh nhạt, nay đã đổi sang quần áo phụ nữ.
Trương Thúy Sơn vốn chỉ muốn hỏi nàng về chuyện tối hôm qua, lúc này thấy nàng đã đổi qua trang phục đàn bà, còn đang ngại ngùng, thì thiếu nữ ngửng đầu lên nhìn trời ngâm rằng:
Ngồi ôm gối đầu thuyền đợi khách, Biết bao giờ người mới đến cho, Sóng kia có ý muốn đùa, Lay em mau tỉnh cơn kia mơ màng.[1] Trương Thúy Sơn cao giọng nói:
– Tại hạ là Trương Thúy Sơn có chuyện muốn thỉnh giáo nhưng chưa dám mạo muội.
Thiếu nữ đáp:
– Tối qua mây đen đầy trời, không thấy ánh trăng. Đêm nay mây tan, trời trong, cảnh đẹp hơn nhiều.
Tiếng nàng trong trẻo dịu dàng nhưng khi nói thì ngửng lên nhìn trời, không nhìn chàng lấy một lần. Trương Thúy Sơn nói:
– Không dám, xin hỏi tôn tính của cô nương.
Thiếu nữ đó đột nhiên quay đầu qua, đôi mắt sáng trong vắt nhìn thẳng vào mặt chàng nhưng không trả lời. Trương Thúy Sơn thấy nàng mặt mày đẹp đẽ nhưng ánh mắt như có điều dồn bức, cảm thấy hơi xấu hổ, không dám hỏi thêm, xoay mình nhảy lên bờ sông, chạy ngược về phía mặt đường.
Chạy được mươi trượng, chàng ngừng lại, nghĩ thầm: ?Trương Thúy Sơn ơi hỡi Trương Thúy Sơn, ngươi bảy thước ngang tàng, nam nhi hán đại trượng phu, tung hoành giang hồ, có điều gì sợ hãi đâu, sao hôm nay lại ngại một cô gái trẻ tuổi là sao??. Quay đầu nhìn lại, chỉ thấy chiếc thuyền của cô gái nọ thuận theo dòng nước sông Tiền Đường chảy xuôi, hai ngọn đèn lồng chiếu lên mặt sông. Trương Thúy Sơn nhất thời lòng dạ phân vân, nên cứ theo con đường dọc theo sông mà tản bộ.
Người ở trên bờ, thuyền trôi dưới nước, một người một thuyền, song song mà đi. Cô gái vẫn ngồi ôm gối trên đầu thuyền, chăm chú ngắm vành trăng non ở chân trời.
Trương Thúy Sơn đi được một lúc, không hẹn mà cũng theo nàng nhìn vầng trăng treo, bỗng thấy từ phía đông bắc một đám mây đen nổi lên. Quả thực trời không sao lường trước được, đám mây đen đó kéo lên rất nhanh, chẳng mấy chốc đã che kín mặt trăng, rồi một trận gió thổi tới, mưa lác đác rơi. Bờ sông là một cánh đồng trống, không có nơi nào để trú mưa cả. Trương Thúy Sơn dẫu không nghĩ đến chuyện đụt mưa, nhưng tuy không nặng hạt, nếu để lâu, thân thể ắt cũng ướt hết.
Thiếu nữ vẫn ngồi ở đầu thuyền nên mưa xuống tạt cả vào người. Trương Thúy Sơn giật mình tỉnh lại, kêu lên:
– Cô nương, cô vào trong khoang thuyền tránh mưa đi thôi.
Cô gái ?A? lên một tiếng, đứng dậy, cũng sững người, nói:
– Thế ông cũng không sợ mưa ướt hay sao?
Nói rồi đi vào trong khoang thuyền, khi trở ra, tay cầm một cái dù, vung tay ném lên bờ.
Trương Thúy Sơn giơ tay tiếp lấy, thấy đó là một chiếc ô nhỏ phất bằng giấy dầu, giương lên, thấy trên tàn vẽ cảnh viễn sơn cận thủy, vài cây liễu rủ, một bức thủy mặc giản dị nhưng phong nhã. Bên cạnh bức họa có đề bảy chữ: ?Tà phong tế vũ bất tu qui?[2].
Những chiếc dù làm ở Hàng Châu đều có vẽ vời viết chữ, trước nay đều thế cả, không lấy gì làm lạ. Tranh vẽ và chữ viết của thợ làm dù, cũng không khác gì đồ sứ ở đất Giang Tây, ít nhiều thể nào cũng có vẻ hàng buôn bán. Thế nhưng thư họa trên chiếc dù nhỏ này lại thật tinh vi tuy bảy chữ viết kia nét ẻo lả hơi thiếu kình lực, hẳn là do con nhà khuê tú viết nên, nhưng vẫn toát ra vẻ thanh lệ thoát tục.
Trương Thúy Sơn nghiêng đầu ngắm những nét bút trên chiếc dù nhưng chân vẫn không ngừng, nào ngờ trước mặt có một cái rãnh nhỏ, chân trái vẫn bước tới đạp vào chỗ không. Nếu như người thường, bước hụt đó không thể nào không ngã bổ chửng. Thế nhưng chàng biến chiêu thật nhanh, chân phải lập tức đá về phía trước, thân mình dĩ nhiên vọt lên, nhẹ nhàng xảo diệu rơi qua bờ rãnh bên kia. Trên thuyền thiếu nữ kêu lên:
– Giỏi lắm.
Trương Thúy Sơn quay đầu nhìn ra, thấy nàng đầu đội một chiếc nón lá, đứng ở đầu thuyền, gió mưa thổi tới phiêu phiêu, chẳng khác gì nàng tiên đang cưỡi trên đầu sóng.
Thiếu nữ nói:
– Nét vẽ, chữ viết trên chiếc dù, liệu có lọt được vào mắt Trương tướng công chăng?
Trương Thúy Sơn đối với nét vẽ không quan tâm lắm, chỉ lưu tâm đến thư pháp, nói:
– Nét bút theo lối viết của Vệ phu nhân[3] trên Danh Cơ Thiếp, bút tuy đứt nhưng ý vẫn liền, bút tuy ngắn nhưng ý vẫn dài, quả là phô diễn được cái khéo léo của trâm hoa, tả vận.[4] Thiếu nữ thấy chàng nhận ra tự thể của mình, trong lòng vui lắm, nói:
– Trong bảy chữ có chữ ?bất? viết kém nhất.
Trương Thúy Sơn nhìn kỹ, nói:
– Chữ bất đó viết rất tự nhiên, dẫu rằng không kín đáo khác hẳn sáu chữ kia, dư vận bất tận, khiến càng nhìn càng không biết chán.
Cô gái nói:
– Vậy ư. Tôi cảm thấy chữ này hơi khác, nhưng không nhìn ra có điểm gì không phải, nay tướng công nói ra, mới hiểu được.
Chiếc thuyền cô gái đang đi thuận dòng trôi xuôi, Trương Thúy Sơn cũng ở trên bờ đi theo, hai người nói chuyện thư pháp, một hỏi một đáp, không để ý mà đã đi cả dặm. Lúc đó trời đã tối, mặt hai người nhìn nhau không còn rõ nữa. Thiếu nữ bỗng nói:
– Quả là ?Cùng chàng nói chuyện một đêm,? Còn hơn sách vở mười năm dùi mài?[5]. Đa tạ Trương tướng công chỉ điểm, giờ xin từ biệt.
Nàng giơ tay lên, người lái thuyền ở phía sau lập tức giương buồm, từ từ kéo lên cao. Buồm gặp gió, chiếc thuyền đi nhanh hơn, Trương Thúy Sơn thấy chiếc thuyền xa dần, trong lòng cảm thấy bồi hồi. Bỗng chàng nghe tiếng nàng vọng lại từ xa:
– Tôi họ Ân ? mai này có dịp, sẽ lại thỉnh giáo tướng công thêm ?
Trương Thúy Sơn nghe thấy nàng nói ba chữ : ?Tôi họ Ân?, giật mình kinh hãi: ?Đô Đại Cẩm từng nói là, người nhờ y hộ tống Du tam ca, là một thư sinh tướng mạo đẹp đẽ, tự xưng họ Ân, hay chính là cô gái này mặc giả trai??.
Nghĩ như thế, chàng không còn hiềm gì nam nữ, đề khí đuổi theo. Tuy chiếc thuyền buồm kia chạy nhanh, nhưng Trương Thúy Sơn thi triển khinh công, chẳng mấy chốc đã đuổi kịp, lớn tiếng gọi:
– Ân cô nương, cô có biết Du tam ca Du Đại Nham của tôi không?
Thiếu nữ đó quay đầu lại, nhưng không trả lời. Trương Thúy Sơn tựa như có nghe một tiếng thở dài, nhưng vì người ở trên bờ, người tại dưới thuyền, nên nghe không rõ, không biết có phải cô gái thở dài hay không.
Trương Thúy Sơn lại nói tiếp:
– Trong lòng tôi có biết bao nhiêu điều không hiểu, xin cô cho biết.
Cô gái đáp:
– Việc gì phải nhất định hỏi cho ra?
Trương Thúy Sơn nói:
– -??????????? Ủy thác Long Môn tiêu cục hộ tống Du tam ca của tôi đến đất Ngạc, có phải là Ân cô nương chăng? Cái ân đức đó, phải có khi báo đáp.
Thiếu nữ nói:
– Ân ân oán oán, thật là khó nói.
Trương Thúy Sơn nói tiếp:
– Du tam ca của tôi đến chân núi Võ Đương, lại bị người ta hạ độc thủ, Ân cô nương có biết không?
Cô gái lại nói:
– Tôi thật quả không vui, rất tiếc về chuyện đó.
Hai người một hỏi, một đáp, gió mỗi lúc một mạnh, chiếc thuyền buồm đi mỗi lúc một nhanh. Trương Thúy Sơn nội lực thâm hậu, trước sau vẫn đi ngang với chiếc thuyền, không chậm hơn chút nào. Thiếu nữ đó nội lực không bì được với Trương Thúy Sơn nhưng mỗi câu mỗi chữ đều nghe được rõ ràng.
Sông Tiền Đường càng về hạ lưu, mặt sông càng rộng, gió nhẹ mưa phùn đã dần dần biến thành cuồng phong bạo vũ. Trương Thúy Sơn hỏi:
– Tối hôm qua mấy mươi người của Long Môn tiêu cục bị giết chết, do ai hạ thủ, cô nương có biết không?
Cô gái nói:
– Tôi đã nói với Đô Đại Cẩm, phải hộ tống Du tam hiệp đến núi Võ Đương cho chu đáo, nếu như đường đi có nửa phần sai sót ?
Trương Thúy Sơn tiếp:
– Cô sẽ giết hết tất cả tiêu cục, dù con gà con chó cũng không còn.
Cô gái nói:
– Đúng thế. Y bảo hộ Du tam hiệp không đến nơi đến chốn, đó là y tự rước họa vào thân, còn trách gì ai được nữa?
Trương Thúy Sơn thấy lạnh trong lòng, nói:
– Trong tiêu cuộc có bao nhiêu nhân mạng, đều do ? do ?
Cô gái nói:
– Đều do tôi giết cả.
Trương Thúy Sơn tai bỗng ù đi, chàng không sao ngờ được người con gái kiều mị như hoa kia lại là hung thủ giết người không chớp mắt, một lúc sau, mới nói:
– Còn ? còn hai hòa thượng của chùa Thiếu Lâm thì sao?
Thiếu nữ đáp:
– Cũng chính tôi giết. Tôi vốn không muốn cùng phái Thiếu Lâm kết oán cừu, nhưng bởi vì họ dùng ám khí tẩm độc đả thương tôi trước, thành thử không tha được.
Trương Thúy Sơn nói:
– Thế sao.. thế sao bọn họ lại đổ cho tôi?
Người con gái cười khúc khích mấy tiếng, nói:
– Cái đó là do tôi sắp đặt đấy.
Trương Thúy Sơn lửa giận bốc lên, lớn tiếng nói:
– Cô sắp đặt để cho họ tưởng là tôi ư?
Thiếu nữ yêu kiều mỉm cười:
– Chính thế.
Trương Thúy Sơn giận dữ:
– Tôi với cô nương không thù không oán, sao lại làm thế ?
Cô gái giơ tay áo phẩy một cái, cúi đầu đi vào trong khoang thuyền. Đến nước này, Trương Thúy Sơn không thể nào không hỏi cho ra nhẽ, nhưng thấy chiếc thuyền buồm cách xa bờ đến mấy trượng, không cách gì có thể nhảy lên được. Trong cơn cuồng nộ, chàng giơ chưởng đánh mạnh vào một cây phong ở bên bờ sông, lách cách mấy tiếng, đã gãy xuống hai cành lớn.
Chàng vận sức ném một cành ra giòng nước, tay trái cầm cành cây kia, chân phải điểm một cái, nhảy ra giữa sông. Chân trái vừa chạm vào cành cây liền mượn sức, nhảy về phía trước. Trong khi còn đang ở trên không, chàng ném cành cây còn lại ra, vừa rơi xuống, chân phải lại điểm vào cành cây một cái, mượn sức lần nữa, nhảy vọt lên đầu thuyền, lớn tiếng nói:
– Cô ? cô sắp đặt cách nào ?
Trong khoang thuyền lúc này tối mò, không một tiếng động. Trương Thúy Sơn toan tiến vào, nhưng trong cơn thịnh nộ vẫn còn tự chế, nghĩ thầm:
– Nếu ta tiến vào trong khoang thuyền của phụ nữ, e rằng vô lễ.
Chàng còn đang phân vân, bỗng thấy ánh lửa lóe lên, bên trong đã thắp một ngọn nến. Thiếu nữ nói:
– Xin mời vào trong này.
Trương Thúy Sơn sửa lại mũ áo, gập dù lại, tiến vào khoang thuyền, bỗng nhiên sững người. Trong thuyền ngồi một thiếu niên thư sinh, khăn vuông, áo xanh, tay cầm quạt phe phẩy, thần thái cực kỳ tiêu sái. Trong khoảnh khắc cô gái đã cải nam trang, nếu nhìn thoáng qua, hình thù mặt mũi trông chẳng khác gì Trương Thúy Sơn.
Chàng hỏi cô sắp đặt cách nào khiến cho các nhà sư chùa Thiếu Lâm tưởng lầm là mình, thiếu nữ chỉ cải trang, không cần trả lời, khiến chàng hiểu ngay, trong khi trời tối, ai cũng tưởng hai người là một, thảo nào Tuệ Phong và Đô Đại Cẩm nhất định đổ riệt cho chàng đã hạ độc thủ.
Thiếu nữ giơ cây quạt xếp chỉ chỗ đối diện, nói:
– Trương ngũ hiệp, xin mời ngồi.
Nàng cầm chiếc ấm trà nhỏ nhắn lên rót một ly, đưa đến trước mặt, nói:
– Hàn dạ khách lai trà đương tửu[6]. Trong thuyền không có rượu, không khỏi làm giảm cái thanh hứng của Trương ngũ hiệp.
Cách nàng rót và mời trà rất mực nho nhã khiến cho lửa giận của Trương Thúy Sơn không sao phát ra được, chỉ đành khom mình nói:
– Đa tạ.
Thiếu nữ thấy chàng quần áo ướt đẫm, nói:
– Trong thuyền có quần áo, trời mùa xuân lạnh cóng, Trương ngũ hiệp ra sau thuyền thay đi.
Trương Thúy Sơn lắc đầu:
– Không cần Nói rồi ám vận nội công, một luồng hơi ấm từ đan điền xông lên, toàn thân nóng bừng, nước trên y phục dần dần bốc hơi đi hết. Cô gái nói:
– Nội công phái Võ Đương đứng đầu võ lâm, tiểu muội mời Trương ngũ hiệp thay áo, quả thực không biết trời cao đất dày là gì.
Trương Thúy Sơn nói:
– Cô nương ở môn phái nào, có thể cho biết được chăng?
Nghe Trương Thúy Sơn hỏi câu đó, thiếu nữ nhìn qua song cửa, trong đầu mi gợn lên một nét buồn. Trương Thúy Sơn thấy thần sắc nàng có điều u uất, không tiện gặng hỏi, một lúc sau nhịn không nổi, mới nói:
– Du tam ca của tôi bị kẻ nào làm hại, mong cô nương cho biết.
Cô gái đáp:
– Chẳng cứ gì Đô Đại Cẩm nhìn lầm, mà chính tôi cũng sai nốt. Tôi vẫn nghĩ Võ Đương thất hiệp phong tư anh sảng, có lý nào lại là những người thô lỗ táo tợn như thế.
Trương Thúy Sơn thấy nàng không trả lời câu hỏi của mình, nhưng lại nói ?phong tư anh sảng?, hiển nhiên ngay tận mặt tán dương phong thái mình, trong lòng rộn ràng, hai má nóng bừng, nhưng không hiểu nàng nói thế là có ý gì.
Thiếu nữ thở dài một tiếng, đột nhiên vén tay áo bên trái lên, lộ ra cánh tay trắng muốt như ngọc. Trương Thúy Sơn vội vàng cúi xuống, không dám nhìn. Thiếu nữ lại nói:
– Ngũ hiệp có nhận ra ám khí này không ?
Trương Thúy Sơn thấy cô ta nói đến ?ám khí?, mới dám ngửng lên, thấy trên cánh tay bên trái của cô gái có cắm ba mũi cương tiêu nho nhỏ màu đen, làn da nàng trắng như tuyết, chỗ trúng tiêu lại đen như mực. Ba mũi tiêu đó ở cán đều khắc hình hoa mai, thân tiêu bất quá chỉ dài độ một tấc rưỡi, nhưng đã ngập vào thịt đến một tấc rồi. Trương Thúy Sơn giật mình kinh hãi, đứng ngay dậy, kêu lên:
– Đây là mai hoa tiêu của phái Thiếu Lâm, sao ? sao lại màu đen thế này ?
Thiến nữ nói:
– Đúng thế. Chính là mai hoa tiêu của phái Thiếu Lâm, trên mũi tiêu có tẩm chất độc.
Cánh tay của nàng trắng muốt trên có cắm ba ngọn tiểu tiêu, dưới ánh nến lung linh chiếu vào trông đẹp bội phần. Cảnh tượng đó vừa làm rung động lòng người, vừa có vẻ thần bí ghê sợ, chẳng khác gì một trương Tuyên chỉ[7] ai nhỏ trên đó ba giọt mực.
Trương Thúy Sơn nói:
– Phái Thiếu Lâm là danh môn chính phái, trên ám khí không đời nào lại tẩm chất độc, thế nhưng những đóa mai hoa tiêu này, trừ đệ tử phái Thiếu Lâm ra, chưa nghe có môn phái nào, nhân vật nào biết dùng cả. Cô nương trúng tiêu đã bao lâu rồi ? Mau tìm cách giải độc gấp.
Cô gái thấy chàng thần sắc tỏ ra hết sức quan thiết, nói:
– Trúng tiêu cũng đã hơn hai mươi ngày, nhưng độc tính bị tôi dùng thuốc chặn lại, nhất thời chưa lan ra ngoài, nhưng có điều là ba ngọn tiêu này không thể nhổ ra được, vì sợ một khi rút ra, độc tính sẽ theo máu mà lan ra khắp nơi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Trúng tiêu đã hai mươi ngày mà chưa lấy ra, e rằng ? e rằng sau này trị lành rồi, trên da sẽ có ? sẽ có sẹo lớn.
Kỳ thực chàng định nói rằng : ?e rằng độc tính ở trong cơ thể quá lâu, cánh tay này phải phế bỏ?.
Cô gái nước mắt doanh tròng, buồn bã nói:
– Tôi cũng đã hết sức để ? hôm qua, lúc ban chiều tìm kiếm thuốc giải trong người những nhà sư chùa Thiếu Lâm ? ôi, cánh tay này chắc hỏng mất.
Nói rồi nàng từ từ bỏ tay áo xuống. Trương Thúy Sơn trong ngực bỗng thấy nóng ran, nói:
– Ân cô nương, cô có tin tưởng ở tôi không? Tại hạ nội lực tuy thô thiển, nhưng tin rằng có thể giúp cô nương trục được chất độc trong cánh tay ra.
Thiếu nữ nhoẻn một nụ cười, lộ ra chút núm đồng tiền trên má, dường như trong lòng vui sướng lắm, nhưng rồi lại nói ngay:
– Trương ngũ hiệp, trong bụng ông có rất nhiều điều chưa rõ, để tôi nói cho minh bạch trước, miễn cho sau khi giúp tôi rồi lại đâm hối hận.
Trương Thúy Sơn khẳng khái nói:
– Trị bệnh cứu người, là chuyện phải làm của chúng tôi, sao lại còn hối hận?
Cô gái nói:
– Dẫu sao cũng đã giữ được hai mươi ngày rồi, trong chốc lát không có gì đáng ngại. Để tôi nói ông nghe, sau khi tôi gửi Du tam hiệp cho Long Môn tiêu cục, chính mình cũng đi theo phía sau tiêu đội, trên đường quả nhiên có mấy kẻ định hạ thủ Du tam hiệp, nhưng đều bị tôi bí mật đánh bại cả, nực cười cho Đô Đại Cẩm cứ như trong giấc mơ.
Trương Thúy Sơn chắp tay nói:
– Đại ân đại đức của cô nương, tử đệ phái Võ Đương chúng tôi cảm kích vô cùng.
Cô gái lạnh lùng đáp:
– Ông không phải tạ ơn tôi, chỉ sợ sau ông lại hận tôi không kịp thôi.
Trương Thúy Sơn ngẩn người, không hiểu tại sao. Thiếu nữ nói tiếp:
– Trên đường đi tôi thay đổi nhiều loại trang phục, có lúc mặc như nông phu, có lúc lại như nhà buôn, đi xa xa ở sau tiêu đội, đâu ngờ đến chân núi Võ Đương lại sinh chuyện rắc rối.
Trương Thúy Sơn nghiến răng nói:
– Sáu tên ác tặc đó, cô nương có chính mắt nhìn thấy không? Chỉ giận Đô Đại Cẩm mù mù mờ mờ, không nói được lai lịch của sáu tên giặc đó.
Cô gái thở dài một tiếng, nói:
– Không những tôi trông thấy họ, lại còn giao đấu với họ nữa kìa. Nhưng tôi cũng mù mù mờ mờ, không nói được lai lịch bọn họ.
Nàng cầm chén trà lên, nhấp một ngụm, nói:
– Hôm đó tôi thấy sáu tên đó từ trên núi Võ Đương xuống đón, Đô Đại Cẩm cùng với họ chào hỏi, gọi là ?Võ Đương lục hiệp?, sáu người đó cũng mặc nhiên không phủ nhận. Tôi đứng xa xa nhìn, thấy bọn họ tiếp lấy cỗ xe lớn chở Du tam hiệp, nghĩ rằng mọi việc thế là xong, nên dừng ngựa bên đường, nhường cho Đô Đại Cẩm và cả đoàn đi qua. Thế nhưng ngay lúc đó, trong bụng nẩy ra một nghi vấn lớn: ?Võ Đương thất hiệp là huynh đệ đồng môn, tình như cốt nhục, Du tam hiệp bị thương nặng, cả bọn đáng lẽ phải ào cả lên, xem xét thương thế của y mới phải. Thế nhưng chỉ có một người đến cỗ xe nhìn vào, còn lại những người kia không lý gì tới, trái lại còn có vẻ vui mừng, kêu la om sòm, giục xe chạy đi, việc đó không hợp với nhân tình?.
Trương Thúy Sơn gật đầu:
– Cô nương tinh tế lắm, nghi vậy thật là đúng.
Thiếu nữ nói tiếp:
– Tôi càng nghĩ càng thấy không phải, vội vàng giục ngựa đuổi theo, quát hỏi tính danh bọn họ. Sáu tên đó nhãn lực cũng không kém, vừa gặp mặt biết ngay tôi là đàn bà. Tôi trách họ sao dám mạo danh Võ Đương lục hiệp, cướp lấy Du tam hiệp ắt có dạ bất lương. Hai bên lời qua tiếng lại, tôi bèn xông lên động thủ. Trong sáu người đó có một tên gầy gò, tuổi chừng ba mươi ra đấu với tôi, một tên đạo sĩ đứng bên trông chừng, còn bốn tên kia đánh chiếc xe đi. Tên gầy gò đó bản lãnh khá lắm, đánh ba mươi hiệp mà tôi không thắng nổi y, đột nhiên gã đạo nhân tay trái vung ra, tôi thấy bả vai tê chồn, vô thanh vô tức trúng ba mũi mai hoa tiêu, tay tôi lập tức ngứa ngáy. Tên gầy gò ăn nói vô lễ, toan bắt sống tôi, tôi ném lại cho hắn ba mũi ngân châm, thế mới thoát được.
Nói đến đây, má nàng hơi đỏ lên, ắt là tên gầy gò kia thấy nàng là một thiếu nữ mỹ mạo cô thân, nên giở giọng hỗn hào.
Trương Thúy Sơn trầm ngâm, nói:
– Mai hoa tiểu tiêu này dùng tay trái ném ư ? Sao môn hạ Thiếu Lâm lại có đạo nhân, có lẽ họ cải trang đó.
Cô gái mỉm cười:
– Đạo sĩ giả làm hòa thượng thì phải cạo đầu, hòa thượng giả làm đạo sĩ thì dễ hơn nhiều, chỉ cần đội mũ là xong.
Trương Thúy Sơn gật đầu. Cô gái nói tiếp:
– Tôi trong lòng thấy có điều không xong, nhưng địch không lại gã gầy gò đó, gã đạo nhân xem chừng còn lợi hại hơn nhiều, huống chi bọn họ tất cả đến sáu người ? Thật không còn cách nào khác.
Trương Thúy Sơn mở mồm định nói, nhưng cố nhịn được. Cô gái nói:
– Tôi biết ngũ hiệp định hỏi: ?Sao tôi không lên núi Võ Đương nói rõ ràng đầu đuôi mọi việc?? phải không nào? Tôi đâu có lên núi Võ Đương được, nếu như tự tôi có thể lộ diện, hà tất phải nhờ Đô Đại Cẩm đưa món tiêu hàng đó đi. Tôi bàng hoàng vô kế, đang đi đường thì gặp ông nói chuyện với bọn Đô Đại Cẩm. Sau đó thấy ông chạy đi kiếm Du tam hiệp, tôi nghĩ rằng Võ Đương thất hiệp đã đứng ra lo vụ này rồi, không cần phải tôi xen vào nữa. Với cái tài nghệ nhỏ nhặt của tôi, có giúp cũng không giúp được bao nhiêu. Lúc đó tôi lo gấp chuyện giải dược, nên lập tức theo hướng đông trở về, không biết Du tam hiệp về sau ra sao nữa ?
Trương Thúy Sơn mới kể lại cho cô gái nghe việc Du Đại Nham bị người ta hạ độc thủ như thế nào. Thiếu nữ thở dài một tiếng, làn mi hơi rung động, nói:
– – Cũng mong sao Du tam hiệp người lành được trời giúp, về sau có thể chữa khỏi, nếu không … nếu không …
Trương Thúy Sơn thấy nàng giọng thành khẩn, trong lòng cảm kích, nói:
– Đa tạ lòng tốt của cô nương.
Nói đến đây chàng rưng rưng nước mắt. Thiếu nữ lắc đầu, nói:
– Tôi về đến Giang Nam, nhờ người ta xem cái mai hoa tiêu, có người nhận ra là độc môn ám khí của phái Thiếu Lâm, nói là trừ phi có được giải dược của chính người phát xạ ám khí ra, nếu không độc tính khó mà trừ được. Phủ Lâm An này ngoài Long Môn tiêu cục ra đâu có ai khác thuộc phái Thiếu Lâm? Vì thế đang đêm tôi lẻn vào tiêu cục, muốn bức bách họ phải đưa giải dược, nào ngờ họ đã không cho, còn mai phục nhân mã, tôi vừa vào đến cửa đã lập tức ra tay hạ độc thủ.
Trương Thúy Sơn hừ một tiếng, trầm ngâm đáp:
– Cô nói cô cố ý an bài, để cho họ tưởng là tôi?
Cô gái vẻ mặt bẽn lẽn, cúi đầu, nói nhỏ:
– Tôi thấy ngũ hiệp ra phố mua một bộ áo khăn, thấy mặc như thế thật là ? thật là dễ nhìn, nên tôi cũng mua một bộ.
Trương Thúy Sơn nói:
– Thì ra thế. Có điều cô vừa ra tay đã giết mấy chục mạng người, không khỏi quá ư tàn ác, người trong tiêu cục có oán thù gì với cô đâu.
Cô gái sầm mặt xuống, cười khẩy đáp:
– Ngũ hiệp định dạy dỗ tôi đấy à? Năm nay tôi đã mười chín tuổi rồi, chưa từng nghe ai dạy dỗ cả. Trương ngũ hiệp đại nhân đại nghĩa, vậy mời ông đi về. Thuyền này toàn là người tàn ác, đâu dám mong kết giao với ông.
Trương Thúy Sơn bị cô ta dồn cho một trận, khiến cho mặt đỏ bừng, đứng bật dậy toan ra khỏi thuyền, nhưng lại chợt nhớ ra đã hứa giúp cô ta trị thương, nên nói:
– Mời cô nương vén tay áo lên.
Đôi mày ngài của cô gái hơi nhướng lên, nói:
– Ngũ hiệp thích mắng người khác, tôi không cần ông trị cho tôi nữa.
Trương Thúy Sơn nói:
– Vết thương của cô trên cánh tay dai dẳng đã lâu, để thêm nữa chỉ sợ ? chỉ sợ chất độc phát ra càng thêm khó chữa.
Cô gái hậm hực đáp:
– -??????????? – – Có chết cũng không sao, c? đó cũng là do ngũ hiệp hại tôi.
Trương Thúy Sơn lấy làm lạ, nói:
– Hứ, đó là tên ác tặc của phái Thiếu Lâm bắn ám khí vào cô, chứ tại hạ đâu có liên quan gì?
Thiếu nữ đáp:
– Nếu như tôi không bôn ba nghìn dặm hộ tống Du tam sư ca của ngũ hiệp lên núi Võ Đương thì liệu tôi có gặp sáu tên ác tặc đó không? Sáu tên đó cướp Du tam ca của ông, nếu tôi cứ sõng tay đứng ngoài nhìn, tay tôi có trúng tiêu không? Nếu như ngũ hiệp tới nhanh một bước, giúp tôi một tay, liệu tôi có trúng tiêu không?
Trừ hai câu cuối có vẻ cưỡng từ đoạt lý, những câu khác nghe cũng hợp tình. Trương Thúy Sơn chắp tay đáp:
– Đúng thế, tại hạ giúp cô nương trị thương, chỉ mới báo lại một chút ân đức của cô thôi.
Cô gái nghiêng đầu nói:
– Thế ngũ hiệp đã nhận mình sai chưa?
Trương Thúy Sơn hỏi lại:
– Tại hạ nhận sai cái gì?
Thiếu nữ đáp:
– Ngũ hiệp nói tôi độc ác, câu nói đó sai đó. Bọn hòa thượng chùa Thiếu Lâm, Đô Đại Cẩm và người trong Long Môn tiêu cục đều đáng giết cả.
Trương Thúy Sơn lắc đầu:
– Tuy cô nương trúng độc ở cánh tay, nhưng cũng vẫn còn có thể cứu chữa. Tam sư ca của tôi thân thụ trọng thương, nhưng cũng chưa chết, mà dù không trị được chăng nữa, mình cũng chỉ đi kiếm kẻ gây ra tội ác, chứ giết mấy chục mạng người, điều đó không hợp lý chút nào.
Cô gái nhướng đôi lông mày đẹp lên, hỏi:
– Thế ra ngũ hiệp nói tôi giết lầm người ư? Thế người phát xạ mai hoa tiêu đả thương tôi không phải người của phái Thiếu Lâm ư? Long Môn tiêu cục không phải thuộc phái Thiếu Lâm ư?
Trương Thúy Sơn nói:
– Môn đồ của phái Thiếu Lâm ở khắp mọi nơi, có hàng nghìn hàng vạn, tay cô nương trúng ba mũi tiêu, không lẽ giết hết môn hạ đệ tử của chùa Thiếu Lâm sao?
Cô gái cãi không lại, bất thần giơ bàn tay phải, đập xuống cánh tay trái, đánh ngay vào nơi ba mũi tiêu. Cái vỗ đó khiến cho ba ngọn tiêu ngập sâu vào thịt, thương thế càng nặng thêm.
Trương Thúy Sơn không ngờ tâm tính cô ta lại quái dị đến thế, một lời không hợp, lập tức dùng trọng thủ tàn hại thân thể chính mình. Cô ta đối với mình còn như thế, việc ra tay giết người khác cũng đâu lạ lùng gì. Chàng toan ngăn lại nhưng không kịp nữa, vội nói:
– Cô ? cô sao tự làm khổ mình như thế?
Chỉ thấy tay áo cô ta máu bầm thấm ra, Trương Thúy Sơn biết rằng tiêu thương trở nên trầm trọng, nội lực cô ta không đủ sức ngăn trở máu độc chạy lên, nếu không cứu ngay, lập tức nguy đến tính mệnh. Chàng đưa tay trái ra nắm lấy tay trái cô, tay phải vén tay áo cô gái lên.
Bỗng nghe đằng sau có người quát:
– Cuồng đồ không được vô lễ.
Nghe vù một tiếng, người đó đã vung đao chém xuống lưng chàng. Trương Thúy Sơn biết rằng người lái thuyền ra tay nhưng sự tình khẩn cấp, không thể giải thích, nên đá ngược lại sau, đá y văng ra ngoài.
Cô gái lại nói:
– Tôi không cần ngũ hiệp cứu, tôi tự mình muốn chết, đâu có liên quan gì đến ông?
Nói rồi nghe chát một tiếng, đã thẳng tay tát Trương Thúy Sơn một cái. Cô ta ra tay thật nhanh, chàng không phòng bị, vội vàng bỏ tay cô ta ra. Cô gái mặt sầm xuống, nói:
– Ông đi lên bờ đi, tôi nói lần nữa là tôi không muốn thấy ông nữa.
Trương Thúy Sơn bị cô ta đánh một cái khiến cho chàng vừa thẹn, vừa tức, nói:
– Được rồi, tôi chưa bao giờ gặp một cô gái vô lễ như cô.
Nói rồi quay mình đi ra đầu thuyền. Thiếu nữ cười khẩy nói:
– Ông chưa thấy, thì hôm nay được thấy đó.
Trương Thúy Sơn cầm một miếng ván lên, định vứt xuống sông, làm bàn đạp để lên bờ, nhưng chợt nghĩ lại:
– Nếu ta bỏ đi, thể nào tính mệnh cô ta cũng không còn.
Chàng cố dằn cơn giận, đi vào trong khoang, nói:
– Cô đánh tôi một cái, tôi không thèm chấp cái cách nói năng không đâu vào đâu của cô, mau vén tay áo lên, cô có muốn sống hay không nào?
Cô gái giận dữ đáp:
– Tôi muốn sống hay muốn chết, có liên quan gì đến ông đâu?
Trương Thúy Sơn nói:
– Cô bôn ba nghìn dặm đưa tam ca của tôi đi, ơn đó không thể không báo đáp.
Cô gái cười khẩy:
– Hay nhỉ, hóa ra ông chỉ muốn thay mặt tam ca của ông để trả nợ đấy thôi. Nếu tôi không hộ tống tam ca của ông, tôi bị thương có nặng hơn nữa, ông thấy chết cũng mặc kệ phải không?
Trương Thúy Sơn sựng người, nói:
– Chưa hẳn như vậy.
Bỗng thấy cô gái co ro, thân mình hơi run, hẳn là độc tính đang xông lên, chàng vội nói:
– Mau vén tay áo lên, bộ cô muốn đem tính mệnh của mình làm trò đùa sao.
Cô gái nghiến răng:
– Ông không nhận sai, tôi không chịu cho ông cứu.
Gương mặt cô vốn dĩ trắng trẻo, lúc này vừa giận vừa sợ, lại càng thêm đáng thương. Trương Thúy Sơn thở dài, đáp:
– Được rồi, cứ coi như tôi nói sai, cô giết người không sai chút nào.
Cô gái nói:
– Thế chưa được, sai là sai, sao lại cái gì coi như hay không coi như. Tại sao ông thở dài rồi mới nhận sai, rõ ràng không phải thành tâm thành ý rồi.
Trương Thúy Sơn thấy việc cứu người là cấp bách, không phải lúc hơn thua đôi co với cô ta, lớn tiếng nói:
– Hoàng thiên ở trên, giang thần ở dưới, tôi là Trương Thúy Sơn hôm nay thành tâm thành ý, nhận là đã không phải với Ân ? Ân ?
Nói đến đây chàng ngừng lại, cô gái nói:
– Ân Tố Tố.
Trương Thúy Sơn nói tiếp:
– Ờ, nhận đã không phải với Ân Tố Tố cô nương.
Ân Tố Tố mừng lắm, nhoẻn một nụ cười, nhưng chân bỗng nhuyễn ra, ngồi phịch xuống ghế. Trương Thúy Sơn vội móc bình thuốc trong bọc, lấy ra một viên Thiên Tâm Giải Độc Đơn đưa cho cô uống. Chàng cuộn tay áo lên, thấy một nửa cánh tay cô ta đã tím bầm, hắc khí chạy lên thật nhanh. Trương Thúy Sơn đưa tay trái ra nắm cánh tay trên, hỏi:
– Cô thấy thế nào?
Ân Tố Tố nói:
– Ngực thấy khó thở lắm. Ai bảo ngũ hiệp không nhận sai sớm hơn? Nếu tôi có chết, đều do ông hại tôi đó.
Trong tình cảnh này, Trương Thúy Sơn chỉ cón có nước dịu giọng an ủi cô ta:
– Đừng gượng lại, cô cứ để yên, toàn thân lỏng ra, đừng vận khí một chút nào, cứ tưởng như đang ngủ vậy.
Ân Tố Tố lườm chàng:
– Thì cứ coi như tôi chết rồi đi.
Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Đến nước này mà cô ả này còn ngang ngược điêu ác như thế, sau này không biết ai làm chồng cô sẽ khổ cả đời?.
Nghĩ đến đó, chàng bỗng thấy trong lòng rung động, mặt nóng bừng, sợ rằng Ân Tố Tố biết được ý nghĩ của mình, nên liếc trộm cô ta một cái. Chỉ thấy nàng hai má đỏ bừng, đầy vẻ thẹn thùng, không biết nàng đang nghĩ chuyện gì. Hai người ánh mắt gặp nhau, không hẹn mà cùng quay đầu sang hướng khác.
Ân Tố Tố bỗng hạ giọng nói nhỏ:
– Trương ngũ ca, em nói không biết khinh trọng, lại ra tay đánh anh, anh ? đừng giận em nhé.
Trương Thúy Sơn thấy cô bất ngờ đổi giọng, từ Trương ngũ hiệp đổi sang thành Trương ngũ ca, tim bỗng đập thình thịch, vội vàng hít một hơi dài, thu nhiếp tâm thần, một luồng hơi ấm từ đan điền dâng lên, kình đạo dẫn vào hai cánh tay, nắm chặt lấy hai bên trên dưới vết thương.
Một lát sau, trên đỉnh đầu Trương Thúy Sơn tỏa ra một làn hơi trắng, đủ biết chàng đã sử dụng toàn lực, hơi mồ hôi bốc lên. Ân Tố Tố trong lòng cảm kích, biết là đây là lúc khẩn yếu quan đầu trong việc trị độc, sợ làm phân tâm, nên nhắm mắt không dám nói chuyện với chàng nữa. Bổng nghe bụp một tiếng, một chiếc mai hoa tiêu đã từ cánh tay bắn ra, văng xa cả trượng, tiếp theo một vòi máu đen từ vết thương phun ra, dần dần biến thành màu đỏ. Sau đó chiếc tiêu thứ hai cũng bị nội lực của Trương Thúy Sơn đẩy ra ngoài.
Ngay lúc đó, bỗng nghe trên mặt sông có người cao giọng nói lớn:
– Ân cô nương có ở đó không? Chu Tước Đàn đàn chủ xin tham kiến.
Trương Thúy Sơn hơi lấy làm lạ, nhưng đang lúc vận lực gấp gáp, nên không để ý. Người đó lại gọi lần nữa, rồi nghe gã lái thuyền kêu lên:
– Ở đây có một tên ác nhân, muốn hại Ân cô nương, Thường đàn chủ mau đến cứu.
Người trên chiếc thuyền kia quát lên:
– Ác tặc không được vô lễ, ngươi chỉ cần đụng đến một chiếc lông măng của Ân cô nương, thì ngươi sẽ bị lăng trì hàng nghìn vạn nhát.
Người đó tiếng như chuông đồng, trên mặt sông kêu la vang dội, thật là uy mãnh.
Ân Tố Tố mở mắt ra, nhìn Trương Thúy Sơn mỉm cười, như muốn xin lỗi sự hiểu lầm này. Chiếc tiêu thứ ba bị nàng đánh xuống, đâm vào thịt rất sâu, Trương Thúy Sơn liên tiếp vận ba lần lực đạo, nhưng vẫn không bắn được ra ngoài. Bỗng nghe tiếng giầm chèo thật gấp, chiếc thuyền kia đã đến thật gần, Trương Thúy Sơn thấy thuyền chao đi một cái, có người đã nhảy qua, nhưng chàng còn đang bận dùng sức nên không lý tới.
Người kia vừa vào đến khoang thuyền, thấy Trương Thúy Sơn hai tay nắm chặt cánh tay Ân Tố Tố, đâu có ngờ chàng đang vận công liệu thương, trong cơn giận dữ, đánh ngay một chưởng vào hậu tâm Trương Thúy Sơn, đồng thời quát lên:
– Ác tặc còn chưa buông tay ra ư?
Trương Thúy Sơn không cách gì giơ tay ra đỡ, hít một hơi, giơ lưng chịu cho y đánh một chưởng. Chỉ nghe bùng một tiếng, luồng lực đạo đó thật mạnh, giáng một cách đích đáng ngay giữa lưng chàng. Trương Thúy Sơn đã thâm đắc tinh yếu của nội công phái Võ Đương, toàn thân không động, mượn lực chế ngự lực, dẫn luồng lực đạo trầm trọng đó vào gan bàn tay, chỉ nghe bóc một tiếng nhỏ, mũi mai hoa tiêu từ cánh tay Ân Tố Tố bắn vọt ra, cắm luôn vào ván, nhưng vẫn còn dư lực nên lay động không ngừng.
Người phát chưởng vừa đánh xong một cái, chưởng thứ hai lập tức theo ra, trông thấy tình cảnh đó, đệ nhị chưởng mới ra giữa chừng, vội vàng ghìm lại, kêu lên:
– Ân cô nương, cô ? cô không bị thương đấy chứ?
Nhưng thấy từ trên cánh tay máu độc phun ra, người đó vốn là đại hành gia trên chốn giang hồ, biết rằng mình đánh lầm người rồi, trong lòng cảm thấy không an, nghĩ thầm chưởng của mình có sức vỡ bia tan đá, xem ra nội tạng Trương Thúy Sơn đã bị chấn thương cả, e rằng sinh mệnh cũng khó toàn, vội vàng lấy thương dược từ trong bọc ra, đưa cho Trương Thúy Sơn uống.
Trương Thúy Sơn lắc đầu, thấy máu từ cánh tay Ân Tố Tố chảy ra đã thành màu đỏ tươi, nên bỏ tay ra, quay đầu lại, cười đáp:
– Chưởng của các hạ lực đạo không phải ít.
Người kia giật mình kinh hãi, nghĩ thầm chưởng của y đã đánh chết không biết bao nhiêu nhân vật thành danh, võ lâm hảo thủ, sao thanh niên này không tránh né chịu một chưởng, mà coi như không, nói:
– Ngươi ? ngươi..
Rồi y nhìn mặt để biện sắc và đưa tay ra xem mạch. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Để đùa y cho biết?. Chàng ám vận nội kình, phúc mô nâng lên, trong giây lát tâm tạng ngừng đập. Người kia đưa tay cầm cổ tay chàng, thấy mạch đã tuyệt, càng thêm sợ hãi.
Trương Thúy Sơn tiếp lấy tấm khăn tay Ân Tố Tố trao cho, giúp nàng buộc vết thương, nói:
– Độc chất đã theo máu mà chảy ra rồi, cô nương chỉ cần uống những loại thuốc giải độc thường cũng đủ không sao.
Ân Tố Tố nói:
– Đa tạ.
Nàng quay qua, mặt sầm xuống, nói:
– Thường đàn chủ không được vô lễ, đây là Trương ngũ hiệp của phái Võ Đương.
Người kia lùi lại một bước, cung thân thi lễ, nói:
– Thì ra là Trương ngũ hiệp trong Võ Đương thất hiệp, thảo nào nội công thâm hậu đến thế, tiểu nhân Thường Kim Bằng mạo phạm đã nhiều, xin đừng trách cứ.
Trương Thúy Sơn thấy người đó chừng năm chục tuổi, mặt mày gân guốc, cánh tay bắp thịt cuồn cuộn từng múi, chàng vội đứng lên đáp lễ. Thường Kim Bằng chào hỏi Trương Thúy Sơn xong, lập tức cung kính quay sang Ân Tố Tố thi lễ, nàng chỉ lặng lẽ gật đầu. Trương Thúy Sơn hơi lấy làm lạ, nghe Thường Kim Bằng nói:
– Bạch đàn chủ của Huyền Võ Đàn đã ước hẹn với các nhân vật của phái Hải Sa, bang Cự Kình và môn phái Thần Quyền, sáng sớm mai tại đảo Vương Bàn Sơn ở cửa sông Tiền Đường để dương đao lập uy. Cô nương nếu không được khỏe, để tiểu nhân hộ tống cô nương về phủ Lâm An. Việc trên đảo Vương Bàn Sơn, để một mình Bạch đàn chủ lo cũng đủ lắm rồi.
Ân Tố Tố hừ một tiếng, nói:
– Phái Hải Sa, bang Cự Kình và môn phái Thần Quyền, thế ? thế chưởng môn nhân của Thần Quyền là Quá Tam Quyền có đến không?
Thường Kim Bằng đáp:
– Nghe nói là y tự dẫn mười hai đệ tử giỏi đến Vương Bàn Sơn đảo phó hội.
Ân Tố Tố cười khẩy:
– Quá Tam Quyền tên tuổi tuy lớn, nhưng chịu không nổi một cái đánh của Bạch đàn chủ, ngoài ra còn có hảo thủ nào khác không?
Thường Kim Bằng ngập ngừng giây lát rồi đáp:
– Nghe nói phái Côn Lôn có hai kiếm khách trẻ tuổi cũng đến phó hội, nói muốn được xem Đồ ? Đồ ?
Nói đến đây y liếc trộm Trương Thúy Sơn một cái, rồi không nói tiếp nữa. Ân Tố Tố lạnh lùng nói:
– Bọn họ cũng muốn đến xem đao Đồ Long ư? Chỉ sợ họ thấy rồi lại nổi lòng ?
Trương Thúy Sơn nghe thấy ba tiếng ?đao Đồ Long?, bỗng giật mình, lại thấy Ân Tố Tố nói tiếp:
– Hừ, người của phái Côn Lôn thì không thể coi thường được. Vết thương nhỏ trên cánh tay tôi không có gì đáng ngại, đã như thế, bọn mình phải đến xem trò vui này, không chừng cũng giúp Bạch đàn chủ được một tay.
Nàng quay sang nói với Trương Thúy Sơn:
– Trương ngũ hiệp, thôi mình từ biệt nhau nơi đây, tôi đi thuyền của Thường đàn chủ, còn ngũ hiệp ngồi thuyền của tôi về phủ Lâm An. Phái Võ Đương không nên dính vào chuyện này.
Trương Thúy Sơn nói:
– Tam sư ca của tôi bị thương, hình như có liên quan đến đao Đồ Long. Việc đó như thế nào, Ân cô nương làm ơn cho tôi biết được không?
Ân Tố Tố nói:
– Những chuyện tế vi khúc chiết bên trong chuyện này, tôi cũng không biết rõ lắm, để sau này hỏi chính Tam sư ca của ông có lẽ hay hơn.
Trương Thúy Sơn thấy nàng không muốn trả lời, biết rằng có gặng hỏi thêm cũng vô ích, nghĩ thầm: ?Kẻ làm hại Tam sư ca cốt chỉ muốn kiếm thanh đao Đồ Long. Thường đàn chủ nói rằng họ sẽ dương đao lập uy tại đảo Vương Bàn Sơn, dường như thanh đao này đang ở trong tay bọn họ. Những tên ác tặc đó nghe tiếng thể nào cũng đến?. Chàng bèn nói:
– Tên đạo sĩ phát xạ ba mũi mai hoa tiêu kia, cô liệu xem hắn có đến Vương Bàn Sơn đảo không?
Ân Tố Tố nhếch mép cười, không trả lời câu hỏi của chàng, nói:
– Ngũ hiệp cũng định đi xem trò vui này chăng, thế thì cả bọn mình cùng đi vậy.
Nàng quay sang nói với Thường Kim Bằng:
– Thường đàn chủ, xin thuyền của ông đi trước dẫn đường.
Thường Kim Bằng đáp:
– Vâng.
Nói rồi khom lưng đi ra khỏi khoang thuyền, cung kính chẳng khác gì đầy tớ đối với chủ nhân.
Ân Tố Tố chỉ gật đầu. Trương Thúy Sơn kính trọng võ công của y không phải tầm thường nên đứng dậy tiễn ra đến cửa khoang. Ân Tố Tố thấy trường bào của chàng sau lưng bị Thường Kim Bằng đánh rách một mảng lớn, đợi khi Trương Thúy Sơn quay lại mới nói:
– Ngũ hiệp cởi áo ra, để tôi vá lại cho.
Trương Thúy Sơn đáp:
– Chẳng sao đâu.
Ân Tố Tố nói:
– Ngũ hiệp hiềm tôi chân tay vụng về phải không?
Trương Thúy Sơn đáp:
– Đâu dám.
Nói rồi chàng lặng thinh, nghĩ đến cô ta chỉ một buổi tối giết chết mấy chục mạng người của Long Môn tiêu cục. Những kẻ đại ác đó, đáng ra chàng phải ra tay tru diệt mới phải, nào ngờ giờ này không những cùng nàng đi chung thuyền, lại còn giúp cô ta trừ tiêu khu độc. Vẫn biết rằng chàng làm thế chỉ để báo đền cái ơn hộ tống sư huynh, nhưng dẫu sao cũng là thiện ác bất minh, việc ở trên đảo Vương Bàn Sơn xong rồi, mình sẽ cùng nàng chia tay, sau này sẽ không bao giờ gặp lại cô ta nữa.
Ân Tố Tố thấy mặt chàng có vẻ không vui, đã đoán được tâm sự nên lạnh lùng nói:
– Chẳng cứ Đô Đại Cẩm và Chúc, Sử hai tiêu đầu, toàn gia Long Môn tiêu cục và hai nhà sư chùa Thiếu Lâm, ngay đến hòa thượng Tuệ Phong, cũng do tôi giết đó.
Trương Thúy Sơn nói:
– Tôi cũng đã sớm nghi là cô rồi, chỉ không biết cô làm cách nào thôi.
Ân Tố Tố nói:
– Có gì lạ đâu. Tôi nằm phục ở dưới nước, bên bờ hồ nghe hai bên đối đáp. Gã Tuệ Phong bỗng đâu phát giác hai người tướng mạo không đồng, đang định nói ra, tôi vội vàng bắn ngân châm vào trong mồm y, ngũ hiệp đi kiếm tôi trên đường, bên gốc cây hay trong bụi cỏ thì đời nào tìm cho ra.
Trương Thúy Sơn nói:
– Thảo nào phái Thiếu Lâm cứ nhất định cho là tôi đã hạ độc thủ. Ân cô nương, cô quả thực thật thông minh, thật thủ đoạn.
Mấy câu nói đó của chàng chứa đầy tức tối, Ân Tố Tố làm như không biết, giả vờ đứng dậy, cười nói:
– Không dám, Trương ngũ hiệp quá khen.
Đến lúc này Trương Thúy Sơn giận không còn chịu nổi, sẵng giọng:
– Họ Trương này với cô không thù không oán, sao cô lại phải cố công hãm hại tôi như vậy?
Ân Tố Tố mỉm cười:
– Tôi đâu phải muốn hãm hại ngũ hiệp đâu. Chỉ vì Thiếu Lâm, Võ Đương được coi là hai đại tông phái của võ lâm, tôi muốn hai bên đánh nhau thử, để xem bên nào mạnh, bên nào yếu.
Trương Thúy Sơn hãi sợ, lửa giận trong lòng xem chừng tắt ngóm, nhưng lại càng thấy đáng gờm, nghĩ thầm: ?Hóa ra cô ta còn có một đại gian mưu, đâu phải chỉ hãm hại mình ta không thôi. Nếu phái Võ Đương ta và phái Thiếu Lâm hai bên đánh lẫn nhau, thế ắt lưỡng bại câu thương, thành một cơn hạo kiếp trong võ lâm?.
Ân Tố Tố lấy chiếc quạt ra phe phẩy, làm như không có chuyện gì, nói:
– Trương ngũ hiệp, ngũ hiệp có thể cho tôi được mở mắt, thưởng thức thư họa trên chiếc quạt của ông không?
Trương Thúy Sơn chưa kịp trả lời, bỗng nghe một người nào đó trên chiếc thuyền của Thường Kim Bằng lớn tiếng nói:
– Có phải thuyền của bang Cự Kình đấy không? Vị nào ở trên thuyền thế?
Bên cánh phải của mặt sông lại có người kêu lên:
– Đây là thiếu bang chủ của Cự Kình bang đến đảo Vương Bàn Sơn phó hội.
Người trên thuyền của Thường Kim Bằng lại nói lớn:
– Tại đây có Ân cô nương và Thường đàn chủ Chu Tước Đàn của Thiên Ưng giáo, lại có quí khách thuộc danh môn, quí thuyền lùi lại sau đi.
Người ở bên thuyền phía bên hữu liền đáp lại bằng một giọng thô lỗ:
– Nếu như giáo chủ quí giáo giá lâm thì chúng tôi sẽ nhường, người khác thì đừng hòng.
Trương Thúy Sơn trong lòng chợt động, nghĩ thầm:
– Thiên Ưng giáo? Đây là tà giáo nào? Sao mình chưa nghe tới bao giờ nhưng trước mắt thấy thanh thế, lực lượng của họ xem ra không nhỏ. Có lẽ giáo phái này nổi dậy chưa lâu, mình lại ít đến Giang Nam nên không biết tới. Cự Kình bang thì nghe tên đã lâu, họ cũng chẳng phải bọn tử tế gì.
?Chàng đẩy cửa sổ nhìn ra ngoài thấy bên phải có một chiếc thuyền, thân khắc thành một con cá kình thật lớn, trên đầu lấp lánh vài mươi con dao xếp thành răng con cá, thân thuyền cong cong, đuôi vểnh lên chẳng khác gì đuôi một con cá kình. Chiếc thuyền đó buồm lớn, thân nhẹ, chạy nhanh gấp bội thuyền của Thường Kim Bằng.
Thường Kim Bằng đứng ở đầu thuyền, kêu lớn:
– Mạch thiếu bang chủ, Ân cô nương đang ở đây, bộ ngươi không nể mặt chút nào sao?
Từ trong khoang thuyền của Cự Kình bang đi ra một thanh niên mặc áo màu vàng, cười khẩy đáp:
– Trên đất liền thì Thiên Ưng giáo các người là hơn, nhưng trên mặt biển thì phải để Cự Kình bang chúng tôi hơn chứ. Đâu có thể để các ngươi đi trước dễ dàng như thế được.
Trương Thúy Sơn nghĩ thầm:
– Mặt sông rộng như thế này, vài trăm chiếc cùng đi cũng còn được, việc gì phải bắt họ nhường đường cho mình, Thiên Ưng giáo này kể cũng ngang ngược thật.
Lúc đó thuyền của bang Cự Kình lại giương thêm một chiếc buồm nữa, đi càng nhanh hơn, hai chiếc thuyền mỗi lúc một xa, không có cách gì đuổi kịp. Thường Kim Bằng hừ một tiếng, nói:
– Cự Kình bang ? đao Đồ Long ? đúng ? đao Đồ Long ?
Trên sông lớn, sóng cao gió mạnh, hai chiếc thuyền khoảng cách lại xa, không biết y định nói cái gì. Mạch thiếu bang chủ nghe thấy y liên tiếp nói hai câu ?đao Đồ Long?, nghĩ chắc phải là chuyện quan trọng, nên ra lệnh cho thủy thủ quay thuyền lại, mỗi lúc một gần thuyền của Thường Kim Bằng, lớn tiếng hỏi:
– Thường đàn chủ muốn nói cái gì?
Thường Kim Bằng nói:
– Mạch thiếu bang chủ ? Huyền Võ Đàn Bạch đàn chủ ? thanh đao Đồ Long đó ?
Trương Thúy Sơn thấy hơi lạ lùng: ?Sao y nói cái gì mà ngập ngừng đứt khúc như thế??. Thuyền của bang Cự Kình mỗi lúc gần hơn, cách nhau chỉ còn vài trượng, bỗng nghe một tiếng ?vù?, Thường Kim Bằng đã xách chiếc neo lớn để ở đầu thuyền ném qua, tiếng xích sắt kêu loảng xoảng, thuyền phía bên kia có hai tên thủy thủ kêu la thảm thiết, chiếc neo đã móc vào thuyền của bang Cự Kình.
Mạch thiếu bang chủ quát lên:
– Ngươi định làm gì thế?
Thường Kim Bằng tay chân thật nhanh nhẹn, xách luôn chiếc neo phía bên tả ném sang luôn, hai chiếc neo đã đánh chết ba tên thủy thủ của bang Cự Kình, đồng thời hai chiếc thuyền đã xích chùm lại với nhau.
Mạch thiếu bang chủ chạy đến bên be thuyền, giơ tay nhổ chiếc neo ra. Thường Kim Bằng tay trái huy động, tiếng xích leng keng, một trái dưa màu xanh thẫm đã bay ra, nghe bình một tiếng lớn, đánh trúng ngay chiếc cột buồm cái của thuyền bang Cự Kình. Trương Thúy Sơn bây giờ mới thấy trái dưa sắt đó là vũ khí sử dụng của Thường Kim Bằng, trông ra làm bằng thép đúc thành, trên trái dưa có sơn màu xanh sọc đen. Dưa đó gồm hai trái, chẳng khác gì lưu tinh chùy, có điều rất nặng, mỗi trái không dưới năm sáu chục cân, nếu cánh tay không có sức kinh người, làm sao có thể sử động được?
Trái dưa bên phải vừa đánh ra, chiếc cột buồm cái của thuyền bang Cự Kình đã nghe lắc rắc, Thường Kim Bằng lập tức thu vũ khí về, tiếp theo trái dưa sắt bên tay trái lại đánh tiếp ra, đến lúc trái dưa bên phải đánh ra lần thứ ba thì chiếc cột cái đó lắc rắc liên hồi, gãy ra làm đôi. Bọn hải tặc bên bang Cự Kình kêu la om xòm, hai trái dưa trong tay Thường Kim Bằng tung ra một lượt, đánh luôn vào cột buồm ở phía sau, cột này nhỏ hơn, đánh một lần là gãy liền.
Lúc đó hai chiếc thuyền cách nhau chừng hơn hai trượng, Mạch thiếu bang chủ đành trơ mắt đứng nhìn hai chiếc cột buồm từng chiếc bị đánh gãy, không biết cách nào khác, chỉ còn nước lớn giọng chửi bới.
Thường Kim Bằng quát lên:
– Có Thiên Ưng giáo ở đây, trên mặt nước cũng không đến lượt Cự Kình bang các ngươi xưng hùng.
Tay bên phải lại vung trái dưa ra, nghe vù một tiếng, lần này đánh vào mạn thuyền của bang Cự Kình. Nghe bình một tiếng, mạn thuyền đã bị vỡ một lỗ lớn, nước biển tràn vào, trên thuyền bọn thủy thủy lập tức kêu la nổi lên.
Mạch thiếu bang chủ cầm chiếc phân thủy nga mi thích[8], hai chân nhún một cái, tung mình nhắm phía đầu thuyền của Thường Kim Bằng nhảy lên. Thường Kim Bằng đợi y nhảy lên đến vị trí cao nhất mới phóng trái dưa bên tay trái ra, nhắm ngay mặt y đánh tới. Chiêu đó hết sức độc địa, khi trái dưa sắt bay đến, chính là lúc y đang ở trên không, sức nhảy chưa suy, Mạch thiếu bang chủ chỉ còn cách kêu lên:
– Ối chà !
Liền đem mũi của nga mi thích đỡ trái dưa để mượn sức, chỉ thấy ngộp thở, mắt tối sầm, vội lộn người nhảy ngược về thuyền.
Hai trái dưa của Thường Kim Bằng lúc này thay phiên nhau tung ra thu vào, chỉ giây lát thuyền của bang Cự Kình đã thủng bảy, tám cái lỗ lớn. Y liền cầm dây xích buộc neo, vận kình kéo về. Chỉ nghe lách cách mấy tiếng, thuyền của Cự Kình bang bị vỡ nát, hai cái neo đã trở lại đầu thuyền.
Bọn thủy thủ trên thuyền của Thiên Ưng giáo không đợi đàn chủ ra lệnh, dương buồm, chuyển lái, thẳng tiến về phía trước.
Trương Thúy Sơn thấy Thường Kim Bằng đánh phá thuyền địch uy mãnh như thế, trong lòng sợ thầm: ?Nếu như ta không được ân sư truyền thụ, học được phép mượn sức ngự sức, cú đánh sấm sét của y trúng ngay lưng ta, làm sao chịu nổi. Người này trong giây lát đã dụ địch, phá địch, không phải chỉ võ công kinh người, mà còn hiểm độc tàn nhẫn, tâm kế đa đoan, thật là một tay lợi hại trong tà giáo?. Chàng quay lại nhìn Ân Tố Tố thấy nàng vẫn thản nhiên, tưởng như những việc như thế vẫn thấy hàng ngày, nên không để tâm chút nào.
Từ xa tiếng ầm ầm vọng đến như tiếng sấm, chính là thủy triều ban đêm trên sông Tiền Đường. Bang chúng của bang Cự Kình tuy ai nấy đều thông thủy tính, nhưng chỗ này là nơi sông và biển tiếp giáp nhau, mặt sông đến mấy chục dặm, hai bờ nam bắc đều xa. Bang chúng của bang Cự Kình nghe thấy tiếng thủy triều, không khỏi hoảng sợ kêu cứu ầm ỹ. Hai chiếc thuyền của Thường Kim Bằng và Ân Tố Tố vẫn tiếp tục đi về hướng đông, chẳng thèm lý đến.
Trương Thúy Sơn thò đầu ra ngoài cửa sổ, nhìn về phía sau, thấy chiếc thuyền của bang Cự Kình đã chìm một nửa dưới nước, nước triều chỉ tràn tới là sẽ vỡ tan. Chàng nghe thấy tiếng người kêu cứu thảm thiết, trong lòng thấy không chịu nổi, nhưng biết rằng Thường Kim Bằng và Ân Tố Tố đều là những người tâm địa ác độc, thủ đoạn tàn nhẫn, nếu như yêu cầu họ dừng thuyền cứu người ắt sẽ bị cự tuyệt thêm khó chịu nên đành ngồi yên không nói.
Ân Tố Tố nhìn thần sắc chàng, mỉm cười, nói lớn:
– Thường đàn chủ, khách của chúng ta là Trương ngũ hiệp đại phát từ bi, ngươi mau cứu bọn Cự Kình bang lên.
Câu đó thực ngoài liệu định của Trương Thúy Sơn. Chỉ nghe thuyền trước có tiếng Thường Kim Bằng nói:
– Cẩn tuân mệnh lệnh của quí khách.
Thuyền liền nghiêng qua, quay đầu trở lại thượng lưu. Thường Kim Bằng lớn tiếng nói:
– Hỡi các bang chúng của Cự Kình bang, Trương ngũ hiệp của phái Võ Đương cứu mạng các ngươi, kẻ nào muốn sống thì bơi xuống đây.
Các bang chúng đều theo dòng mà bơi xuống. Thuyền của Thường Kim Bằng ngược chiều đi lên, chặn ngay trước đầu sóng, vớt hết cả bọn Cự Kình bang, từ Mạch thiếu bang chủ trở xuống, mười phần cứu được tám chín, nhưng cũng có bảy tám thủy thủ táng mạng trong cơn ba đào.
Trương Thúy Sơn trong lòng thấy an ủi, vui vẻ nói:
– Đa tạ cô nương.
Ân Tố Tố lạnh lùng đáp:
– Cự Kình bang giết người cướp của, trên thuyền đó không kẻ nào tay không đầy máu, ngũ hiệp cứu chúng làm gì?
Trương Thúy Sơn ngẩn người, không trả lời được. Bang Cự Kình ác danh rất nổi, là một trong bốn đại ác bang trên mặt nước, chàng đã nghe nói đến nhiều, không ngờ hôm nay lại ra tay cứu vớt. Ân Tố Tố nói:
– Nếu như không cứu bọn chúng lên thuyền, e rằng Trương ngũ hiệp trong bụng sẽ chửi thầm: ?Hừ, cô gái trẻ tuổi này bụng dạ độc ác, chẳng khác gì rắn rết, ta Trương Thúy Sơn thật hối hận đã giúp cô ta nhổ tiêu trừ độc?.
Câu đó quả thực đã nói đúng tâm sự của Trương Thúy Sơn khiến chàng đỏ mặt, chỉ còn cười gượng:
– Cô mồm miệng lanh lợi, tôi làm sao nói cho lại. Cứu người là tích công đức cho cô, có liên can gì đến tôi đâu.
Ngay lúc đó, tiếng nước triều ầm ầm như sấm động, ù cả tai. Chiếc thuyền Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đang đi bị chao đi chao lại, tiếng nói đều bị át mất. Trương Thúy Sơn nhìn ra ngoài cửa sổ thấy sóng lớn cao như bức tường, bọn bang chúng Cự Kình bang nếu không được cứu thì giờ này đã bị ba đào cuốn mất.
Ân Tố Tố đi vào sau khoang thuyền đóng cửa lại. Một lát sau nàng đi ra, đã đổi sang y phục phụ nữ. Nàng ra dấu bảo Trương Thúy Sơn cởi trường bào. Trương Thúy Sơn không tiện cự tuyệt, chỉ còn nước thay áo ra. Chàng tưởng Ân Tố Tố sẽ giúp mình vá lại chỗ rách trên lưng, nào ngờ lại đưa cho chàng chiếc trường bào nàng dùng để cải nam trang, ra hiệu cho chàng mặc vào, còn chiếc áo rách đem cất vào sau khoang.
Trương Thúy Sơn trên người chỉ còn áo ngắn lót mình nên đành mặc chiếc áo của Ân Tố Tố. Chiếc áo đó vốn rộng rãi, Trương Thúy Sơn tuy cao lớn hơn nàng nhiều, nhưng mặc không thấy chật. Chàng thấy có mùi hương nhè nhẹ tỏa ra xông lên mũi, trong lòng thấy lâng lâng, không dám nhìn nàng, chỉ nghiêm cẩn ngồi giả vờ ngắm những bức thư họa trên vách thuyền. Thế nhưng tâm sự cũng như nước triều, cùng sóng biển bên ngoài đưa thuyền trồi lên hụp xuống, nhưng biết đi về hướng nào bây giờ? Ân Tố Tố cũng không nói chuyện với chàng thêm nữa.
Bỗng dưng một làn sóng lớn ùa tới, thân thuyền chao đi, trong khoang đèn nến tắt phụp. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Mình hai người cô nam quả nữ, cùng ngồi trong khoang thuyền, tuy ta không làm điều gì sai trái, nhưng e rằng có thể có hại cho thanh danh của Ân cô nương?. Nghĩ vậy chàng liền đẩy cửa khoang sau, đi ra ngồi xem người lái thuyền, xem y cầm lái một cách vững chãi, đưa con thuyền vượt sóng lướt triều mà đi.
Độ hơn nửa giờ sau, nước triều bắt đầu rút trở ra biển, thuận nước xuôi gió, thuyền chạy càng nhanh hơn, đến sáng sớm đã đến Vương Bàn Sơn đảo. Đảo Vương Bàn Sơn chỉ là một hòn đảo hoang nhỏ nằm trên biển Đông ngay cửa sông Tiền Đường, trên đảo đá dựng chơm chởm không người ở. Hai chiếc thuyền đi vào hướng nam, còn cách đảo vài ba dặm, đã nghe tiếng tù và thổi vang, thấy trên bờ có hai người vẫy hai ngọn đại kỳ ra hiệu. Chiếc thuyền đi tới gần hơn, thấy hai lá cờ đó đều có thêu hình một con chim ưng lớn, hai cánh giương rộng, trông thật uy võ.
Đứng giữa hai ngọn cờ đó là một ông già. Y lớn tiếng nói:
– Huyền Võ Đàn Bạch Qui Thọ cung kính nghinh đón Ân cô nương.
Thanh âm chậm và dài, giọng kết chặt với nhau, tuy không vang động, nhưng khí lực hùng hậu. Một lát sau khi thuyền đến sát bờ, Bạch Qui Thọ tự mình bắc ván làm cầu cho khách xuống thuyền. Ân Tố Tố nhường Trương Thúy Sơn xuống trước, lên đến bờ liền đưa chàng lại giới thiệu với Bạch Qui Thọ.
Bạch Qui Thọ thấy Ân Tố Tố có vẻ rất coi trọng Trương Thúy Sơn, lại nghe chàng là Trương ngũ hiệp của phái Võ Đương, trong bụng không khỏi e ngại, nói:
– Đã nghe danh Võ Đương thất hiệp từ lâu, hôm nay được gặp, quả thực đại vinh hạnh.
Trương Thúy Sơn khiêm tốn đáp lại vài câu. Ân Tố Tố cười nói:
– Hai người nói năng giữ kẽ, nghe chẳng thoải mái chút nào. Một người thì nghĩ thầm: “Chao ôi, không ổn rồi, người của phái Võ Đương đến đây, lại thêm một tay lợi hại đến tranh cướp đao Đồ Long”. Còn người kia trong bụng nghĩ: ?Các ngươi là bọn giáo phái tà đạo, ta đâu có thèm kết giao làm gì?. Thôi nghe tôi đây, ai nghĩ sao cứ nói ra làm vậy, đừng có nghĩ một đằng nói một nẻo.
Bạch Qui Thọ cười ha hả. Trương Thúy Sơn nói:
– Không dám. Bạch đàn chủ võ công tinh thâm, tại hạ được nghe công phu ?Cách Hải Truyền Thanh?, trong lòng lấy làm bội phục lắm. Tại hạ chỉ theo Ân cô nương đến đây xem trò vui, không có bụng dòm ngó bảo đao đâu.
Ân Tố Tố nghe chàng nói thế, mặt tươi như hoa, trong lòng thật vui vẻ. Bạch Qui Thọ vốn biết Ân Tố Tố mặt lạnh lòng lang, xưa nay chưa để ai vào mắt bao giờ, bây giờ đối với Trương Thúy Sơn tuyệt nhiên khác hẳn, biết rằng cô coi người này không phải nhẹ, lại nghe chàng tán tụng võ công của mình, nên không coi chàng là thù địch nữa, nói:
– Ân cô nương, phái Hải Sa, bang Cự Kình, Thần Quyền môn những bọn đó cũng đã đến trước, lại có thêm hai kiếm khách trẻ tuổi của phái Côn Lôn. Hai tên tiểu tử đó dương dương vênh váo, phách lối ra trò. Đâu có được như Trương ngũ hiệp, danh vang thiên hạ nhưng vẫn hết sức khiêm cung. Thế mới biết có một phần tài ba, lại phải có một phần tu dưỡng ?
Y vừa nói tới đó, bỗng nghe từ phía núi đằng sau có người nói:
– Lén lén lút lút phỉ báng sau lưng người khác, thế là cái tư cách gì?
Tiếng nói vừa dứt, có hai người đi ra. Hai người đó đều mặc trường bào màu xanh, trên lưng đeo chéo một thanh trường kiếm, khoảng hai mươi tám, hai mươi chín tuổi, mặt mày đăm đăm như muốn gây gỗ sinh sự.
Bạch Qui Thọ cười nói:
– Nói đến Tào Tháo, Tào Tháo đến ngay. Lại đây, lại đây, để tôi giới thiệu các vị với nhau.
Hai gã kiếm khách phái Côn Lôn vốn định gây sự, nhưng khi thấy Ân Tố Tố dung quang xinh đẹp, diễm lệ phi phàm, không hẹn mà hai người cùng động tâm. Một người nhìn cô không chớp mắt, còn người kia nhìn cô một cái, quay đầu đi, rồi lại nhìn lén một cái. Bạch Qui Thọ chỉ người đang ngơ ngẩn, nói:
– Vị này là Cao Tắc Thành, Cao đại kiếm khách.
Lại chỉ người kia nói:
– Còn vị này là Tưởng Đào, Tưởng đại kiếm khách. Hai vị đều là võ học cao thủ của phái Côn Lôn. Ai cũng biết phái Côn Lôn uy chấn Tây Vực, trong võ học có những môn không truyền ra ngoài. Cao Tưởng hai vị lại là kỳ tài của phái Côn Lôn, siêu quần bạt tụy, không phải như những người khác. Lần này hai vị đến Trung Nguyên, thể nào cũng đại hiển tài nghệ để cho chúng ta được mở mắt ra.
Lời nói của y bên trong hàm ý mỉa mai, Trương Thúy Sơn nghĩ nếu hai gã này không lập tức động võ, ít nhất cũng trả miếng vài lời. Nào ngờ Cao Tưởng chỉ ừ hử, tưởng như không nghe y nói gì, xem lại thần sắc hai người chàng mới vỡ lẽ. Hóa ra họ vừa thấy Ân Tố Tố, một gã thì đờ người như mất hồn, một gã thì lấm lét nhìn trộm, rõ ràng cả hai như si như ngốc. Trương Thúy Sơn trong bụng cười thầm:
– Phái Côn Lôn nổi tiếng trong thiên hạ, dám xưng kiếm thuật thông thần, nào ngờ đệ tử của phái này tư cách kém đến thế.
Bạch Qui Thọ nói tiếp:
– Còn vị này là Phái Võ Đương Trương Thúy Sơn Trương tướng công, vị này là Ân Tố Tố Ân cô nương, còn đây là Thường Kim Bằng Thường đàn chủ của tệ giáo.
Y nói đến tên ba người chỉ phớt qua, không màu mè chi tiết, đối với Trương Thúy Sơn lại chỉ gọi Trương tướng công chứ cả ba chữ Trương ngũ hiệp cũng không nói đến, rõ ràng coi chàng là một người rất thân của bên mình.
Ân Tố Tố trong lòng vui lắm, đưa mắt liếc Trương Thúy Sơn một cái, sóng mắt long lanh, đôi má núm đồng tiền hơi lõm xuống.
Cao Tắc Thành thấy Ân Tố Tố đối với Trương Thúy Sơn thần thái thân cận, trong bụng không hiểu sao bỗng dưng tức tối, hậm hực trừng mắt nhìn Trương Thúy Sơn, khinh khỉnh nói:
– Tưởng sư đệ, hồi mình ở Tây Vực, hình như cũng có nghe qua, phái Võ Đương cũng là một danh môn chính phái của Trung nguyên thì phải.
Tưởng Đào đáp:
– Đúng thế, có nghe như vậy.
Cao Tắc Thành nói:
– Thế nhưng tai nghe không như mắt thấy, chuyện thiên hạ bàn tán ngoài đường, thật không thể nào tin nổi.
Tưởng Đào đáp:
– Vậy ư? Trên chốn giang hồ, biết bao nhiêu chuyện, mười thì có đến tám chín không có gì xác thực, Cao sư ca nói phái Võ Đương làm sao?
Cao Tắc Thành đáp:
– Đệ tử danh môn chính phái sao lại đàn đúm một bọn với các nhân vật tà giáo, khác nào tự mình rơi vào chỗ xấu xa?
Hai người kẻ tung người hứng, nhắm vào Trương Thúy Sơn để châm chọc. Họ đâu biết Ân Tố Tố cũng là người trong Thiên Ưng giáo nên hai chữ ?tà giáo? lại tưởng chỉ nói đến Thường, Bạch mà thôi.
Trương Thúy Sơn thấy hai người ăn nói vô lễ, đã toan nổi giận, nhưng chợt nghĩ ra, chuyến này mình lên Vương Bàn Sơn đảo, chỉ cốt điều tra hung thủ hãm hại Du tam ca, hai tên đệ tử phái Côn Lôn kia tuy tuổi tác cao hơn mình, nhưng cũng chỉ là bọn vô danh mới ?ra khỏi lều tranh?, chấp họ làm gì. Huống chi Thiên Ưng giáo quả thực hành sự tàn ác, cứ xem Ân Tố Tố và Thường Kim Bằng giết người như cơm bữa thì đủ biết, mình không thể nào đi chung với họ. Chàng mỉm cười, nói:
– Tại hạ và các vị của Thiên Ưng giáo đây cũng chỉ mới quen, so với hai vị nhân huynh cũng chẳng khác gì.
Câu nói của chàng ai nấy nghe thấy cũng ngoài dự kiến. Bạch, Thường hai đàn chủ nghĩ Ân Tố Tố cùng với chàng giao tình thật sâu, nào ngờ cũng chỉ mới quen. Ân Tố Tố trong lòng giận lắm, biết rằng Trương Thúy Sơn nói như thế, rõ ràng có ý không coi Thiên Ưng giáo vào đâu. Cao Tưởng hai người nhìn nhau cười nhạt, nghĩ thầm: ?Tiểu tử này quả là đồ bị thịt, vừa mới nghe đến tên phái Côn Lôn, trong lòng đã khiếp đảm rồi?.
Bạch Qui Thọ nói:
– Các vị tân khách đến đã đủ, chỉ còn Mạch thiếu bang chủ chưa thấy, mình không đợi y làm chi. Bây giờ quí vị tùy ý ngao du, đến chính ngọ, xin mời đến sơn cốc bên kia uống rượu, xem đao.
Thường Kim Bằng cười đáp:
– Thuyền của Mạch thiếu bang chủ chẳng may bị đắm, được Trương tướng công sai người cứu lên, hiện giờ đang ở trên thuyền, đợi đến lúc đó mời y phó yến cũng được.
Trương Thúy Sơn thấy hai đàn chủ Bạch Thường đối với mình cực kỳ cung kính giữ lễ, Ân Tố Tố thì thần sắc nhãn quang lúc nào cũng nhu tình long lanh, cảm thấy đối với những người này làm sao càng xa càng tốt, nên nói:
– Tiểu đệ muốn một mình đi lanh quanh, xin các vị tùy tiện.
Chàng không đợi mọi người hồi đáp, chắp tay chào, rồi nhắm đám rừng cây ở phía đông đi tới.
Vương Bàn Sơn là một hòn đảo nhỏ, núi đá cây cối chẳng có gì đáng xem, ở phía đông nam có một cái vịnh, nơi các cột buồm dựng lên, đậu khoảng chục chiếc thuyền lớn, có lẽ là của bang Cự Kình và phái Hải Sa. Trương Thúy Sơn cứ men theo bờ biển mà đi, chàng đối với hành vi giết người tàn ác của Ân Tố Tố rất bất mãn, nhưng không hiểu sao, một câu hỏi có liên quan đến nàng cứ chập chờn: ?Ân cô nương đó địa vị trong Thiên Ưng giáo rất cao, hai vị Bạch Thường đàn chủ đối với nàng săn sóc, hầu hạ chẳng khác gì một cô công chúa, nhưng rõ ràng nàng không phải là giáo chủ, không biết nàng là loại người gì??.
Lại nghĩ: ?Thiên Ưng giáo tại hòn đảo nhỏ này dương đao lập uy, đối phương các phái Hải Sa, Thần Quyền môn, bang Cự Kình đều do các thủ lãnh phó hội, còn Thiên Ưng giáo chỉ phái hai tên đàn chủ chủ trì, không coi các đối thủ đó vào đâu. Xem ra Bạch đàn chủ của Huyền Võ Đàn tựa hồ công lực còn cao hơn Thường đàn chủ của Chu Tước Đàn. Thiên Ưng giáo rồi đây sẽ là một mối lo cho võ lâm, hôm nay mình phải dò xét xem đầu dây mối nhợ của họ thế nào, biết đâu một ngày Võ Đương thất hiệp sẽ phải đứng vào thế đối đầu với họ?.
Chàng còn đang trầm ngâm, bỗng nghe từ bên ngoài rừng cây truyền lại tiếng binh khí va chạm nhau, tính hiếu kỳ nổi lên, men theo tiếng vọng tìm tới. Chỉ thấy dưới bóng cây Cao Tắc Thành và Tưởng Đào hai người đều cầm trường kiếm, đang đối luyện với nhau còn Ân Tố Tố đứng một bên cười khúc khích. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Sư phụ thường nói là kiếm pháp phái Côn Lôn có chỗ độc đáo, lão nhân gia khi còn trẻ đã từng có lần cùng một danh gia của phái Côn Lôn xưng là ?Kiếm Thánh? giao đấu, cơ duyên này thật là hiếm có?.
Thế nhưng nhân sĩ trong võ lâm khi luyện võ rất kỵ người ngoài coi lén. Trương Thúy Sơn tuy rất muốn xem, nhưng đành phải giữ qui củ võ lâm, chỉ liếc qua một cái, quay mình toan đi. Thế nhưng chàng vừa thò mặt ra, Ân Tố Tố đã nhìn thấy rồi, vẫy chàng lại, kêu lên:
– Trương ngũ ca, lại đây.
Trương Thúy Sơn nếu vẫn ra đi không khỏi người ta nghi chàng xem trộm, nên đành phải đủng đỉnh đi tới, nói:
– Hai vị huynh đài đang luyện kiếm tại đây, bọn mình không nên để người ta khó chịu, đi sang bên kia đi.
Chàng chưa kịp nghe Ân Tố Tố trả lời, đã thấy một ánh sáng trắng lóe lên, nghe xoẹt một cái, Tưởng Đào trả kiếm đâm trúng đầu vai của Cao Tắc Thành, máu tươi tóe ra. Trương Thúy Sơn giật mình kinh hãi, cho rằng Tưởng Đào sơ xuất đả thương sư huynh. Nào ngờ Cao Tắc Thành mặt mày xanh xám, mím môi chát chát chát đâm luôn ba kiếm, toàn nhằm chỗ yếu hại của Tưởng Đào, chiêu số vừa khéo léo vừa độc địa. Trương Thúy Sơn bấy giờ mới biết, hai người không phải luyện tập, mà là đánh nhau thực, nên càng lạ lùng.
Ân Tố Tố cười nói:
– Xem ra sư ca không bằng sư đệ, Tưởng huynh kiếm pháp có vẻ tinh diệu hơn.
Cao Tắc Thành nghe nói thế, nghiến răng, uốn mình hồi kiếm, kiếm quyết xéo qua, một chiêu ?Bách Trượng Phi Bộc[9]?, mũi kiếm từ trên không đâm thẳng xuống. Trương Thúy Sơn không nhịn nổi phải kêu lên:
– Hảo kiếm pháp.
Tưởng Đào rụt người tránh ra, nhưng thế kiếm của Cao Tắc Thành không đợi sử xong, giữa đường biến chiêu, đâm ngang, nghe cách một tiếng, đã trúng ngay đùi bên trái Tưởng Đào. Ân Tố Tố vỗ tay reo:
– Hóa ra sư huynh cũng có một hai miếng, chiêu này Tưởng huynh xem ra không sao bì kịp rồi.
Tưởng Đào giận nói:
– Cái đó chưa chắc.
Kiếm chiêu biến thật nhanh, vù vù veo véo luôn mấy đường ?Vũ Đả Phi Hoa? kiếm pháp. Lộ kiếm này toàn những thế đâm xéo, thật là tiêu dật, nhưng cứ bảy tám thế chéo lại xen vào một thế thẳng, khiến cho rất khó đón đỡ. Cao Tắc Thành đối với đường kiếm này của bản môn đã quen thuộc lắm rồi, nhận chiêu sách chiêu, thỉnh thoảng lại trả lại một hai nhát. Hai người đều bị thương, tuy không phải chỗ yếu hại, nhưng khi kịch đấu máu me vung vãi, trên mặt, trên áo, trên tay đều có lấm tấm vết máu. Hai sư huynh đệ càng đấu càng hăng, thế càng độc, về sau tưởng như một phen sống mái không bằng. Ân Tố Tố ở bên cạnh không ngớt xui nguyên, giục bị, khen Cao Tắc Thành vài câu, lại khen Tưởng Đào vài câu, khiến họ như điên như si, hận không đâm chết được đối phương, để phô bày sự cao cường của mình cốt lấy lòng Ân Tố Tố.
Lúc đó Trương Thúy Sơn đã minh bạch, hai sư huynh đệ xả thân ác đấu, đều do Ân Tố Tố đứng bên khiêu khích để báo thù hai người dám ra lời khinh thị Thiên Ưng giáo. Xem chừng hai người càng lúc càng độc địa, lúc đầu không phải muốn thủ thắng, nhưng sau không còn tự chế được nữa, như muốn lấy mạng đối phương, nếu tiếp tục thể nào cũng gây đại họa. Hai người kiếm pháp cũng khá tinh diệu, nhưng biến hóa chưa được linh động, nội lực lại thô thiển, uy lực của kiếm pháp chỉ phát huy được độ một, hai thành.
Ân Tố Tố vỗ tay cười vui vẻ, thật cao hứng nói:
– Trương ngũ ca, anh xem kiếm pháp phái Côn Lôn ra sao?
Nàng không đợi Trương Thúy Sơn đáp, quay đầu lại, thấy chàng hơi nhướng lông mày, có vẻ chán ghét, bèn nói:
– Sử qua sử lại chỉ có mấy đường, xem chẳng có gì hấp dẫn, thôi mình đi qua bên kia ngắm biển đi.
Nói xong nàng nắm bàn tay trái của Trương Thúy Sơn, cất bước đi khỏi.
Trương Thúy Sơn thấy bàn tay mềm mại ấm áp nắm tay mình, trong lòng xúc động, biết nàng cố tình chọc tức hai gã Cao Tưởng, nhưng không tiện giựt tay ra, chỉ có nước đi theo nàng ra phía biển.
Ân Tố Tố nhìn biển cả mênh mông không thấy bến bờ, lặng người ngắm, bỗng nói:
– Trang Tử trong thiên Thu Thủy có viết là:? Nước trong thiên hạ không gì lớn bằng biển, vạn dòng nước chảy về, không biết lúc nào ngừng và lúc nào sẽ đầy?. Thế nhưng biển cả không bao giờ kiêu ngạo, chỉ nói:? Ta ở trong trời đất, cũng chẳng khác gì hòn đá nhỏ, cái cây non trong núi lớn?. Trang Tử quả là hiểu biết, bụng dạ rộng rãi biết bao.
Trương Thúy Sơn thấy nàng xúi cho Cao Tưởng hai người tự tàn sát lẫn nhau để làm vui, trong lòng rất bất mãn, bây giờ nghe nàng nói câu này, không khỏi ngạc nhiên. Trang Tử là cuốn sách mà đạo gia tu dưỡng ai ai cũng phải đọc, Trương Thúy Sơn khi còn ở núi Võ Đương, sư huynh đệ vẫn thường được Trương Tam Phong đem ra giảng giải. Thế nhưng nữ ma đầu giết người không chớp mắt này đột nhiên buông lời cảm khái đó, thật ngoài sức tưởng tượng của chàng. Chàng sững người rồi đáp lại:
– Đúng thế, thật là ? phù thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại, thiên nhận chi cao, bất túc dĩ cực kỳ thâm? (cách xa nghìn dặm cũng chưa đủ nói cái rộng, mà cao nghìn nhận cũng chưa đủ nói chiều sâu).
Ân Tố Tố thấy chàng cũng dùng lời của Trang Tử trong thiên Thu Thủy hình dung sâu rộng của biển để trả lời, nhưng nét mặt không khỏi có vẻ hâm mộ, nên hỏi:
– Ngũ ca nghĩ đến sư phụ phải không?
Trương Thúy Sơn giật mình, không cưỡng nỗi, giơ tay phải nắm lấy tay kia của nàng, nói:
– Sao cô nương lại biết?
Năm xưa khi chàng ở trên núi Võ Đương, cùng đại sư huynh Tống Viễn Kiều, tam sư huynh Du Đại Nham đọc Trang Tử, đọc đến câu ?phù thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại, thiên nhận chi cao, bất túc dĩ cực kỳ thâm?, Du Đại Nham nói:
– Anh em chúng ta theo sư phụ học nghệ, càng học càng thấy rằng so với lão nhân gia hai bên một trời một vực, dường như mỗi ngày lại giật lùi một bước. Dùng hai câu này của Trang Tử để hình dung công phu sâu không thể đo, cao không thể vói của lão nhân gia thật là thích hợp.
Tống Viễn Kiều và Trương Thúy Sơn đều gật đầu nhận là đúng. Bây giờ chàng đọc hai câu này dĩ nhiên nghĩ ngay đến sư phụ. Ân Tố Tố nói:
– Trông mặt ngũ ca, nếu không phải nghĩ đến cha mẹ, ắt là nghĩ đến sư trưởng. Thế nhưng ?thiên lý chi viễn, bất túc dĩ cử kỳ đại? vân vân, hiện nay trên đời này ngoài Trương Tam Phong đạo trưởng, e rằng không một người thứ hai nào có thể sánh được.
Trương Thúy Sơn mừng lắm, nói:
– Cô thật thông minh.
Bỗng chàng nhận ra hai tay mình đang nắm tay nàng, mặt đỏ bừng, nhè nhẹ bỏ ra. Ân Tố Tố nói:
– Võ công của tôn sư xuất thần nhập hóa như thế nào, ngũ ca có thể nói cho tiểu muội nghe được không?
Trương Thúy Sơn trầm ngâm một hồi, nói:
– Võ công chỉ là tiểu đạo, sở học của lão nhân gia không phải chỉ võ công, ôi, bác đại tinh thâm, đâu biết nói từ đâu trước.
Ân Tố Tố mỉm cười:
– Phu tử bộ diệc bộ, phu tử xu diệc xu, phu tử trì diệc trì, phu tử bôn dật tuyệt trần, nhi hồi sanh nhược hồ hậu hĩ.[10] Trương Thúy Sơn thấy nàng dẫn chương Nhan Hồi ca tụng Khổng Tử trong sách Trang Tử, mà trong lòng chàng quả thực kính phục sư phụ không sao kể xiết, nên nói:
– Sư phụ tôi chẳng cần phải chạy bụi mù, chỉ cần lão nhân gia rảo bước là chúng tôi đã không còn theo kịp.
Ân Tố Tố thông minh linh lợi, có ý muốn chàng vui lòng, nói chuyện mười phần hợp ý, nên Trương Thúy Sơn không biết chán. Hai người sánh vai ngồi trên phiến đá, không còn biết giờ giấc là gì.
Bỗng nghe từ xa có tiếng bước chân trầm trọng, người nào đó ho mấy tiếng, nói:
– – Trương tướng công, Ân cô nương, đã đến giờ ngọ, xin mời nhập tiệc.
Trương Thúy Sơn quay đầu lại, thấy Thường Kim Bằng đứng cách xa chừng mươi trượng, tuy thần sắc trang nghiêm kính cẩn, nhưng mép có điểm một nụ cười. Trông thần tình của y, giống như một trưởng giả hiền từ nhìn thấy một đôi tiểu tình nhân xứng lứa, tặc lưỡi khen đẹp đôi. Ân Tố Tố trước nay vẫn coi y như người dưới, không cần giữ lễ, lúc này thấy e thẹn, cúi đầu. Trương Thúy Sơn tuy lòng quang minh lỗi lạc, nhưng xem thần sắc hai người, má cũng không khỏi đỏ bừng.
Thường Kim Bằng quay người đi trước dẫn đường. Ân Tố Tố nói nhỏ:
– Tiểu muội đi trước, ngũ ca đừng đi cùng với em.
Trương Thúy Sơn hơi lấy làm lạ, nghĩ thầm:
– Sao cô nương này lại muốn tránh hiềm nghi lúc này là sao?
Chàng gật đầu. Ân Tố Tố tiến lên trước, đi ngang với Thường Kim Bằng, nghe nàng cười hỏi:
– Hai tên ngốc của phái Côn Lôn đánh nhau đi đến đâu?
Trương Thúy Sơn trong lòng vui chẳng ra vui, buồn chẳng ra buồn, nhìn theo hai người đi khuất vào sau hàng cây, lúc ấy mới chậm rãi đi về phía sơn cốc.
Khi chàng đến thung lũng, đã thấy trên bãi cỏ xanh bày bảy, tám cái bàn vuông. Trừ bàn thứ nhất ở phía đông, bàn nào cũng đã có người. Thường Kim Bằng thấy chàng đến, lớn tiếng nói:
– Trương ngũ hiệp của phái Võ Đương giá lâm.
Tám chữ đó nói như tiếng sấm, vang vọng sơn cốc. Y nói vừa xong, liền cùng Bạch Qui Thọ đi vội lên, mỗi người dẫn theo năm tên đà chủ của bản đàn, cả mười hai người cùng đứng chờ ở cốc khẩu, xếp thành hai hàng, khom mình đón tiếp. Bạch Qui Thọ nói:
– Thuộc hạ của Ân giáo chủ Thiên Ưng giáo, Huyền Võ Đàn Bạch Qui Thọ, Chu Tước Đàn Thường Kim Bằng, cung nghinh Trương ngũ hiệp đại giá.
Ân Tố Tố tuy không đi ra ngoài đón chàng nhưng cũng đứng dậy.
Trương Thúy Sơn nghe thấy ba chữ ?Ân giáo chủ?, trong bụng chấn động, nghĩ thầm: ?Giáo chủ của họ quả nhiên họ Ân?. Liền chắp tay đáp lễ nói:
– Không dám, không dám.
Chàng tiến vào trong thung lũng, thấy trên bàn tiệc ai ai cũng có vẻ tức tối, bất bình, tuy không hiểu, nhưng cũng không hỏi đến. Chàng biết đâu thủ lãnh các lộ như phái Hải Sa, bang Cự Kình, Thần Quyền môn khi đến, Thiên Ưng giáo chỉ phái một tên đà chủ trong đàn dẫn đường nhập tọa, không cung kính giữ lễ như Trương Thúy Sơn. Xem cách đối đãi cũng đủ biết có ý coi thường.
Bạch Qui Thọ dẫn chàng đến bàn thứ nhất ở phía đông, cung kính mời ngồi. Cái bàn đó chỉ đặt một chiếc ghế, là bàn thủ tịch tôn quí nhất trong các bàn. Trương Thúy Sơn vừa liếc mắt, thấy các bàn khác đều ngồi bảy tám người, chỉ có bàn thứ sáu là hai người Cao Tắc Thành, Tưởng Đào. Chàng cao giọng từ chối:
– Tại hạ mạt học hậu tiến, không dám ngồi ngôi thủ tịch. Xin Bạch huynh chuyển xuống dưới ngồi tiện hơn.
Bạch Qui Thọ nói:
– Phái Võ Đương hiện nay là Thái Sơn, Bắc Đẩu trong võ lâm, Trương ngũ hiệp uy chấn thiên hạ, nếu không ngồi ngôi thủ tịch này, ở đây chắc chẳng ai dám ngồi.
Trương Thúy Sơn nhớ đến sư phụ bình thời hay dạy bốn chữ ?ninh tĩnh khiêm ức[11]?, nghĩ thầm: ?Nếu như có sư phụ hay đại sư ca ở đây thì ngồi mâm thủ tịch này là đúng rồi, còn mình đâu có xứng đáng?. Cho nên chàng cương quyết từ chối.
Cao Tắc Thành và Tưởng Đào liếc nhau một cái, Tưởng Đào đột nhiên cầm cái ghế của mình đang ngồi, ném vọt qua. Mâm của y và mâm thủ tịch cách nhau đến năm cái bàn, nhưng sức liệng của y rất mạnh, chỉ nghe vù một tiếng, cái ghế đó bay qua đầu mọi người ngồi tại năm bàn đó, rơi xuống đúng ngay bên cạnh bàn thủ tịch, ngay ngắn thẳng thắn, chỉ cách cái ghế có sẵn ở đó chừng một thước, quả thực tài nghệ không phải vừa. Tưởng Đào vừa ném cái ghế xong, Cao Tắc Thành lớn tiếng nói:
– Ha ha, Thái Sơn Bắc Đẩu, không biết kẻ nào phong cho danh hiệu Thái Sơn Bắc Đẩu đấy nhỉ? Họ Trương kia không dám ngồi, nhưng sư huynh đệ bọn ta đâu phải hạng người khiếp nhược như thế đâu.
Hai người thân pháp như gió, đã lướt ngay đến chỗ ghế ngồi.
Thì ra lúc nãy Ân Tố Tố hỏi họ xem trong hai người võ công ai cao cường hơn để dạy cho mình vài chiêu Côn Lôn kiếm pháp. Hai người không từ chối, liền rút kiếm biểu diễn ngay. Lúc đầu cốt chỉ thắng được đối phương nhưng càng đánh càng gay, về sau không còn nương tay được nữa. Ân Tố Tố lại đứng bên cạnh khiêu khích, khiến cả hai người đều bị thương. Đến khi nàng và Trương Thúy Sơn thân mật dắt nhau đi, họ mới biết mắc mưu cô gái. Cả hai thu kiếm băng bó, vừa giận vừa ghen, nhưng đâu dám gây chuyện với Ân Tố Tố. Lúc này họ thừa cơ cướp lấy mâm thủ tịch của Trương Thúy Sơn mong khích được chàng ra tay, sẽ có dịp làm nhục một phen trước mặt quần hùng.
Thường Kim Bằng giơ tay ngăn lại, nói:
– Hãy khoan.
Cao Tắc Thành giơ ngón tay ra thế, toan điểm vào khuỷu tay Thường Kim Bằng. Trương Thúy Sơn nói:
– Hai vị ngồi mâm thủ tịch này thật là thích hợp. Tiểu đệ xuống ngồi dưới kia tốt hơn.
Nói rồi cất bước đi xuống bàn thứ sáu. Ân Tố Tố đột nhiên giơ tay vẫy chàng, kêu lên:
– Trương ngũ ca, đi lại bên này.
Trương Thúy Sơn không biết nàng định nói chuyện gì, nên đi đến gần. Ân Tố Tố thuận tay cầm một chiếc ghế, đặt ngay bên cạnh mình, mỉm cười nói:
– Ngũ ca ngồi xuống đây.
Trương Thúy Sơn không ngờ nàng dám tỏ lộ hình tích ngay tại đây, trước mắt quần hào, nên hơi trù trừ, nếu như cùng nàng sóng vai ngồi cùng mâm, không khỏi quá ư thân mật, còn nếu không chịu ngồi xuống, thì khiến cho nàng bẽ mặt. Ân Tố Tố nói nhỏ:
– Tiểu muội còn có câu chuyện muốn nói với ngũ ca.
Trương Thúy Sơn thấy vẻ mặt nàng tỏ ý khẩn cầu, không tiện từ chối, nên đành ngồi xuống. Ân Tố Tố lòng như hoa nở, cười khúc khích rót cho chàng một chén rượu.
Bên kia Cao Tắc Thành và Tưởng Đào tuy đoạt được mâm thủ tịch, nhưng thấy tình hình như thế, lại càng giận hơn. Bạch Qui Thọ giơ tay phất mấy cái lên chiếc ghế, phủi cho sạch bụi, cười nói:
– Hai vị đại kiếm khách phái Côn Lôn muốn ngồi mâm thủ tịch này, quả thật không sai chút nào, mời ngồi, mời ngồi.
Nói rồi cùng Thường Kim Bằng và mười tên đà chủ quay về mâm chủ nhân. Cao Tắc Thành và Tưởng Đào đều nghĩ bụng: ?Tên gà chết kia không dám ngồi mâm thủ tịch, uy phong phái Võ Đương kể như đã bị phái Côn Lôn đè bẹp rồi?. Hai người nhìn nhau, vênh váo ngồi xuống.
Chỉ nghe lách cách, lách cách hai tiếng, chân ghế gãy rời, cả hai ngã ngửa về phía sau. Cũng may hai người võ công không đến nỗi kém, không đợi lưng chạm đất đã giơ tay đẩy xuống, tung vọt người lên, nhưng cũng phải một phen hoảng hốt. Hào khách các mâm đều cười ha hả.
Cao Tưởng hai người bấy giờ mới biết rằng khi Bạch Qui Thọ dùng tay áo phủi bụi, đã lén ra tay, nhưng phải nói âm kình của y thực là lợi hại, mình không thể nào có công lực cao như thế. Hai người vốn mười phần tự phụ, chỉ coi Thiên Ưng giáo là loại bàng môn tả đạo hạng xoàng không coi ra gì, toan lên Vương Bàn Sơn đảo khoe khoang một phen. Lúc này thấy Bạch Qui Thọ biểu lộ chút công lực, khiến cho nhuệ khí của họ suy giảm rất nhiều.
Lại nghe Bạch Qui Thọ lạnh lùng nói:
– Võ công của phái Côn Lôn, ai ai cũng biết là cao rồi, quí vị không cần phải ép gẫy hai chiếc ghế tầm thường đó để hả giận làm chi. Nói đến công phu nhỏ mọn ngồi gãy ghế, trong tiệc này có ai mà làm không được?
Nói xong y giơ tay phải, chỉ vào mười tên đà chủ ngồi ở bàn cuối, nói:
– Các ngươi cũng đã luyện qua rồi phải không?
Nghe thấy lách cách lách cách mấy tiếng lớn, mười chiếc ghế cùng gãy nát một lượt. Mười tên đà chủ có chuẩn bị trước, ngồi gãy ghế xong vẫn đứng nguyên cười hì hì, thần định khí nhàn, so với Cao Tưởng hai người hoảng hốt ngã lăn chiêng thật khác nhau một trời một vực. Trong số quần hào, phần lớn là người kiến đa thức quảng, biết rằng Bạch Qui Thọ cố tình hí lộng hai người, nhưng tình cảnh quả thật thú vị, nên ai nấy đều cười hô hố.
Trong khi mọi người còn đang cười, có hai đà chủ của Thiên Ưng giáo bưng hai khối đá lớn, đến bàn tiệc thứ nhất, giơ chân đá hai chiếc ghế gãy qua, nói:
– Ghế gỗ mỏng manh, không đủ sức mang quí thể, xin mời ngồi trên hai tảng đá này vậy.
Hai người đó là hai đại lực sĩ nổi tiếng của Thiên Ưng giáo, võ công chỉ bình bình, nhưng thân thể tráng kiện, trời sinh thần lực, hòn đá hai người mang đều phải đến bốn, năm trăm cân, đưa ra cho Cao Tưởng hai người đỡ lấy.
Cao Tưởng tuy kiếm pháp tinh diệu, nhưng đỡ hai cục đá đó thì không sao làm nổi. Cao Tắc Thành nhíu mày nói:
– Bỏ xuống đi.
Hai người đại lực sĩ cùng nhất tề ?hự? lên một tiếng, hai tay giơ thẳng, nâng hai tảng đá lên cao khỏi đỉnh đầu, nói:
– Đỡ này.
Lúc ấy, Cao Tưởng chỉ còn nước lui về phía sau, e sợ nếu một trong hai người sức yếu hơn, hòn đá bốn năm trăm cân kia lỡ tay rơi xuống, còn gì mà không xương gãy thịt nát? Hai người trong lòng tức giận, nhưng không dám ra tay tấn kích, e ngại hòn đá chênh vênh nên không dại gì lại gần nơi hiểm địa.
Bạch Qui Thọ lớn tiếng nói:
– Hai vị kiếm khách phái Côn Lôn không muốn ngồi mâm thủ tịch, thôi lại mời Trương tướng công lên vậy.
Trương Thúy Sơn đang ngồi bên cạnh Ân Tố Tố, mùi hương thơm thoang thoảng, trong lòng thấy ngây ngất, không khỏi thần hồn phiêu đãng, bỗng nghe Bạch Qui Thọ nói, lập tức tỉnh lại: ?Ta trăm ngàn lần không thể để cho mình rơi vào ma chướng, dây dưa hơn nữa với nữ ma đầu của tà giáo này?.
Chàng lập tức đứng lên, đi qua bên kia. Bạch Qui Thọ nghe Thường Kim Bằng tán dương Trương Thúy Sơn võ công cao cường, nhưng y chưa có dịp chính mắt trông thấy, lúc này có ý định thử xem thế nào, nên đưa mắt ra hiệu cho hai tên đà chủ đang giơ cao hai tảng đá. Hai tên đà chủ hiểu ý, đợi Trương Thúy Sơn đến gần, cùng quát lên:
– Trương tướng công cẩn thận, xin đỡ lấy.
Tiếng vừa dứt, hai người rùn mình xuống, hai tay thu lại, hét lên một tiếng, hết sức bung ra, hai khối đá cùng thẩy thẳng lên đầu Trương Thúy Sơn.
Quần hào nhìn thấy tình cảnh đó, không ai bảo ai cùng đứng bật cả lên. Bạch Qui Thọ tuyệt nhiên không có ác ý, chỉ muốn thử xem võ công Trương Thúy Sơn đến đâu, một phần vì danh tiếng Võ Đương thất hiệp quá vang dội trên chốn giang hồ, nay thấy chỉ là một văn nhược thư sinh, không khỏi ngạc nhiên, phần khác vì Ân Tố Tố trước nay không coi ai ra gì, vậy mà đối với vị Trương ngũ hiệp này lại mười phần say đắm, về sau người này đối với Thiên Ưng giáo ắt có liên quan trọng đại. Thế nhưng khi thấy hai tên đại lực đà chủ hùng hùng hổ hổ ném hai tảng đá, y cảm thấy hối hận, kêu thầm: ?Chết rồi?. Y nghĩ bụng Trương Thúy Sơn là danh môn đệ tử, không thể nào để đá làm bị thương, nhưng khi nhảy nhót né tránh, thể nào chẳng hoảng hốt, nếu như chẳng may lại bị xấu mặt, không những Trương Thúy Sơn bực mình, Ân cô nương ắt sẽ nổi giận. Trong khoảnh khắc y định ngay chủ ý, nếu như tình hình không ổn, lập tức giá họa cho hai tên đà chủ, thà để chúng chết dưới tay mình còn hơn là đắc tội với Ân Tố Tố.
Trương Thúy Sơn thấy hai hòn đá từ trên không rơi xuống, chàng giật mình kinh hãi, nếu như nhảy về sau tránh né thì so với hai gã Cao Tưởng của phái Côn Lôn có khác gì, chẳng làm mất thanh vọng của sư môn ư? Lúc dó chàng không có thể suy nghĩ nhiều hơn, người luyện võ khi gặp cảnh nguy hiểm khẩn bách, công phu súc tích tự nhiên nảy ra. Tay trái chàng sử cái móc bên phải trong tự quyết chữ ?võ?, hất tảng đá bên trái, tay phải sử chiêu nét phất trong tự quyết chữ ?đao?, hất tảng đá bên phải.
Hai tảng đá này vốn dĩ cũng đã phải bốn trăm cân, lại thêm rơi từ trên xuống, sức thật ghê gớm. Trương Thúy Sơn không có sức mạnh bắp thịt, bảo chàng bưng một cục đá cũng không nổi. Thế nhưng võ công này Trương Tam Phong từ thư pháp biến ra, thực là thần kỳ, đoạt cả công phu tạo hóa. Võ công của phái Võ Đương, không cần phải dùng nhiều sức, cũng không cần ra chiêu nhanh, chỉ cần lực đạo vận dụng đúng phép tắc, bốn lượng có thể gạt được nghìn cân. Lúc này Trương Thúy Sơn sử dụng công phu tối tinh diệu của sư môn, mượn sức ném của hai tên đà chủ, hất hai tảng đá bay vọt lên trời.
Hai khối đá đó bay lên chính là từ sức của hai tên đà chủ, chỉ có điều chàng vung tay bát động, biến đổi phương hướng. Tay áo dài của chàng phất phới, thủ chưởng dấu bên trong, người ngoài đứng xem, chẳng khác gì như dùng tay áo cuộn hai tảng đá ném lên trời. Hai khối cự thạch một cao một thấp, trước sau rơi xuống. Trương Thúy Sơn nhẹ nhàng tung thân nhảy lên, ngồi xếp bằng trên tảng đá bên trên. Chỉ nghe một tiếng ầm, mặt đất chấn động, một tảng đá đã rơi xuống đất, lún xuống đến hơn một nửa vào trong đất. Tảng đá thứ hai lại rơi xuống tiếp, bình bình ổn ổn nằm ngay trên tảng thứ nhất, hai tảng đá chạm nhau, lửa văng tung tóe, lay động chén bát trên các mặt bàn kêu loảng xoảng.
Trương Thúy Sơn điềm nhiên ngồi trên tảng đá, cười nói:
– Hai vị đà chủ thần lực kinh người, bội phục, bội phục.
Hai tên đà chủ cũng kinh ngạc đến trợn mắt há mồm, đứng trơ trơ ngay tại chỗ, một lời cũng không thốt nổi. Trong giây lát, cả sơn cốc yên lặng như tờ, một lát sau, mới ầm ầm nổi lên tiếng vỗ tay khen ngợi, hồi lâu chưa dứt.
Ân Tố Tố đưa mắt cho Bạch Qui Thọ, mặt tươi như hoa, thật là đắc ý. Bạch Qui Thọ mừng quá, may là Trương Thúy Sơn võ công kinh người, lại biến trò chơi nguy hiểm của mình thành một dịp để lấy lòng Ân cô nương. Y vội vàng đi đến bàn thủ tịch, rót một chén rượu, lớn tiếng nói:
– Đã từ lâu nghe uy danh Võ Đương thất hiệp, hôm nay được thấy võ công của Trương ngũ hiệp, chúng tôi quả thực kính phục vô cùng, tiểu nhân xin kính Trương ngũ hiệp một chén.
Nói rồi nâng ly uống cạn. Trương Thúy Sơn nói:
– Không dám.
Chàng cũng bồi tiếp một chén.
Bạch Qui Thọ đứng thẳng người, lớn tiếng nói:
– Tệ giáo gần đây mới có được một thanh bảo đao, tên gọi Đồ Long. Thường nghe rằng ?Võ Lâm Chí Tôn, Bảo Đao Đồ Long, Hiệu Lệnh Thiên Hạ, Mạc Cảm Bất Tòng?.[12] Y nói đến đây, đưa đôi mắt sáng quắc quét từ tả qua hữu khắp một lượt toàn trường. Thân hình y không to lớn, nhưng tiếng nói hưởng lượng, mục quang sắc bén, khiến cái uy nghiêm làm mọi người đều e sợ. Y ngừng lại một chút, nói tiếp:
– Ân giáo chủ của tệ giáo muốn gửi danh thiếp mời các lộ anh hùng trong thiên hạ tới núi Thiên Ưng, để đem bảo đao cho mọi người cùng xem. Ngặt vì làm như thế phải trù hoạch mất nhiều thời gian cho chu đáo, lại e rằng anh hùng các nơi không biết bảo đao đã do tệ giáo làm chủ, nên mời bạn bè bằng hữu các bang lộ Giang Nam tới chơi, để nhìn qua cho biết.
Nói tới đây, y giơ tay khoát một cái. Tám tên đệ tử trong số giáo chúng lớn tiếng đáp ứng, quay mình đi vào một sơn động ở phía tây.
Mọi người yên chí là tám tên này sẽ vào trong hang núi để đem đao ra, nên đều chăm chú nhìn theo. Nào ngờ khi trở ra bọn họ đều cởi trần, khiêng một cái đỉnh sắt lớn. Trong đỉnh một ngọn lửa cháy bừng bừng, lên cao cả trượng. Cả tám tên đều phải đứng khá xa, dùng gậy dài ghé vai khiêng, thở phì phò, ỳ ạch để chiếc đỉnh trên bãi đất trống. Mọi người bị lửa hắt vào mặt, đều cảm thấy nóng rát. Đằng sau tám tên này lại có thêm bốn tên khác, hai tên khiêng một chiếc đe thợ rèn, hai tên khác mỗi tên mang một cái búa sắt.
Bạch Qui Thọ nói:
– Thường đàn chủ, xin mời dương đao lập uy.
Thường Kim Bằng đáp:
– Tuân lệnh.
Rồi quay lại nói lớn:
– Mang đao ra.
Hai tên đà chủ có thần lực, mới vừa biểu diễn vác đá liền đi vào sơn động. Khi trở ra, một tên hai tay bưng một cái bao dài, tên kia đi theo hộ vệ. Giao cho Thường Kim Bằng xong, mỗi tên bước qua một bên tùy giá. Thường Kim Bằng mở bao, lộ ra một thanh đơn đao. Y cầm lên, nhìn quanh mọi người một lần, rút đao ra khỏi vỏ, nói:
– Đây chính là võ lâm chí tôn bảo đao Đồ Long, xin các vị nhìn cho kỹ.
Nói xong y đưa thanh đao lên ngang mặt, cử chỉ thật cung kính.
Quần hào nghe tiếng Đồ Long bảo đao đã lâu, nhưng chỉ thấy cái đao đó đen biếc không đẹp tí nào, trong lòng không khỏi hồ nghi: ?Ai biết thanh đao này thật hay giả??.
Chỉ thấy Thường Kim Bằng từ từ giao thanh đao cho tên đà chủ ở phía bên trái, nói:
– Thử búa đi!
Tên đà chủ nhận lấy đơn đao, để lên trên cái đe, lưỡi hướng lên trời. Tên kia cầm cái búa lên, nhắm ngay lưỡi đao giáng xuống. Chỉ nghe thấy một tiếng keng nhỏ, đầu cái búa đã bị cắt ra làm hai, một nửa còn dính vào cán, một nửa rơi xuống đất. Quần hào ai nấy kinh hãi, đứng bật cả lên, thầm nghĩ: ?Bảo kiếm, lợi đao có thể cắt vàng chặt ngọc dẫu có ít thấy, nhưng không phải là không có. Thế nhưng thanh Đồ Long đao này cắt cái búa sắt như cắt miếng đậu phụ, ngay tiếng đinh đang cũng không nghe, nếu không phải là thần vật thì cũng có điều gì man trá?.
Trong đám Thần Quyền Môn và Cự Kình Bang có một người đi đến bên cái đe sắt, xem xét nửa cái búa, thấy vết cắt phẳng lỳ lấp lánh sáng choang, quả thực vừa mới đứt xong.
Gã thần lực đà chủ lại cầm một mảnh búa lên đập vào thanh đao, cục sắt lại đứt đôi một cách dễ dàng. Lần này quần hào ai nấy đều lớn tiếng hoan hô. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm:
– Đao báu như thế, quả thực là nghe chưa nghe tới, nhìn chưa nhìn thấy bao giờ.
Thường Kim Bằng chậm rãi bước tới bãi đất, cầm bảo đao lên, sử một chiêu ?Thượng Bộ Phách Sơn?, chỉ nghe soẹt một tiếng nhỏ, chém cái đe sắt đứt ra làm đôi. Đột nhiên y lướt qua bên trái, vút một cái, chém ngang thân một cây tùng lớn. Thế rồi y tiếp tục nhảy qua chạy lại, vung đao liên tiếp múa may, chém đủ mười tám cây cổ tùng. Quần hào thấy y vũ động bảo đao, nhưng những cây đó vẫn còn nguyên vẹn, đang lấy làm khó hiểu, bỗng nghe Thường Kim Bằng cười một tiếng dài, chạy đến cây tùng thứ nhất, phất tay áo một cái, đánh vào giữa thân cây. Chỉ nghe những tiếng lách cách, cây tùng đã đổ xuống bên ngoài. Hóa ra cây tùng này đã bị bảo đao chém đứt đôi, nhưng chỉ vì đao quá bén, Thường Kim Bằng sử lực lại thật chuẩn xác, tuy nửa thân trên đã đứt đoạn, nhưng vẫn còn nằm trên cây. Chỉ đến khi có ngoại lực suy động, lúc ấy mới đổ. Cây tùng thứ nhất đổ làm thành một làn gió mạnh, chỉ nghe liên tiếp những tiếng lách cách, lách cách không dứt, những cây đại thụ còn lại cũng thi nhau ngã xuống.
Thường Kim Bằng cười ha hả, vung thanh đao ném thẳng vào đám lửa đang bừng bừng cháy trong đỉnh sắt.
Tiếng cây đổ chưa dứt hẳn, bỗng nghe từ xa truyền lại tiếng ỳ ầm, ỳ ầm, dường như có ai đang chặt cây. Bạch Qui Thọ và Thường Kim Bằng đều ngạc nhiên, nhìn theo hướng tiếng động thấy những chiếc cột buồm đang từ từ đổ xuống từng chiếc một. Những chiếc cột buồm đó đều có treo cờ, Thiên Ưng giáo, Cự Kình bang, Hải Sa phái, Thần Quyền môn các thủ lãnh thấy các lá cờ thi nhau rơi xuống, không ai không tức giận, lập tức sai thủ hạ đi điều tra.
Vẫn nghe thấy những tiếng bì bành liên tiếp, chỉ trong khoảnh khắc tất cả mọi cột buồm đều gãy hết, không cái nào còn nguyên, tưởng như chiếc vịnh nhỏ có hải quái, đánh chìm mọi chiếc thuyền đang ở trong đó. Quần hào tụ tại bãi cỏ không ai ngờ được biến cố này, nhất thời không nói nên lời, lúc đầu còn tưởng Thiên Ưng giáo bố trí âm mưu, nhưng thấy thuyền của Thiên Ưng giáo cũng bị tai họa, xem ra không phải.
Một nhóm thứ hai lại được sai đi tìm hiểu. Từ bãi cỏ đến cái vịnh không bao xa, hơn một chục người gửi đi không thấy ai quay trở lại. Mọi người ai nấy hoang mang, kinh nghi bất định. Bạch Qui Thọ nói với một đà chủ dưới tay:
– Ngươi đi coi xem nào.
Tên đà chủ đó tuân lệnh ra đi. Bạch Qui Thọ cố gượng trấn tĩnh, nói:
– Có lẽ dưới biển có biến cố gì, các vị cũng đừng quá lo. Ví bằng thuyền bè có bị hủy hết, chẳng lẽ mình không làm bè đi về được hay sao? Thôi, thôi, thôi, bọn mình cạn chén đi chứ.
Quần hào ai nấy đều bồn chồn nhưng không muốn mọi người thấy mình yếu đuối, nên nhất tề đưa chén lên, vừa để vào môi, bỗng nghe từ phía vịnh tiếng người kêu la thật thảm thiết, vang vọng đến.
Bạch Qui Thọ và Thường Kim Bằng nghe tiếng đó đúng là kẻ thuộc hạ mới sai đi, trong bụng hoang mang, thấy tiếng chân huỳnh huỵch chạy về, mỗi lúc một gần, rồi một người đầy máu hiện ra chính là tên đà chủ đó.
Y hai tay ôm mặt, những kẽ ngón tay máu chảy ra, đỉnh đầu da bị lột, còn quần áo từ ngực xuống đến bụng dưới, đùi đều rách hết, có một vết thương thực dài, máu thịt bầy nhầy nhưng không biết sâu nông ra sao, thảm thiết kêu lên:
– Kim Mao Sư Vương, Kim Mao Sư Vương.
Bạch Qui Thọ hỏi:
– Một con sư tử ư?
Y nghe nói là một mãnh thú cũng phần nào khoan tâm. Tên đà chủ nói:
– Không, không phải, đó là một người. Y cào chết mọi người, đánh đắm hết cả thuyền.
Nói tới đây y chịu không nổi, ngã lăn ra, chết tươi. Bạch Qui Thọ nói:
– Để ta đi xem.
Thường Kim Bằng nói:
– Tôi cũng đi theo.
Bạch Qui Thọ đáp:
– Ngươi ở lại bảo hộ Ân cô nương.
Y biết rằng tên đà chủ vừa chết võ công không phải tầm thường, tại Thiên Ưng giáo được coi là một tay có hạng, nhưng chỉ chớp mắt đã bị thương như thế, đối thủ ắt võ công rất cao. Thường Kim Bằng gật đầu:
– Xin vâng.
Bỗng nghe có tiếng đằng hắng, rồi tiếng người nói:
– Kim Mao Sư Vương đã ở đây rồi.
Mọi người giật mình kinh hãi, thấy một người từ sau một cây lớn bước ra. Người đó thân thể cao to dị thường, tóc vàng đầy đầu phủ xuống tận vai, mắt xanh biếc lóng lánh phát quang, tay cầm một chiếc lang nha bổng hai đầu dài đến trượng sáu, trượng bảy. Y đứng tại trước bàn tiệc, uy phong lẫm lẫm, chẳng khác gì thiên thần, thiên tướng.
Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Kim Mao Sư Vương, cái hỗn hiệu đó hẳn là do tóc y vàng mà ra, nhưng y là ai? Chưa nghe sư phụ nói đến bao giờ?.
Bạch Qui Thọ tiến lên mấy bước, nói:
– Xin hỏi tôn giá cao tính đại danh?
Người kia đáp:
– Không dám, tại hạ họ Tạ, đơn danh một chữ Tốn, biểu tự là Thoái Tư, có một cái ngoại hiệu là Kim Mao Sư Vương.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đưa mắt nhìn nhau, đều nghĩ: ?Người này thần thái uy mãnh như thế, nhưng chọn tên hiệu thật là tư văn. Chỉ có ngoại hiệu là hợp thôi?. Bạch Qui Thọ thấy y ăn nói lễ độ, nói:
– Hóa ra đây là Tạ tiên sinh. Tôn giá không quen biết gì chúng tôi, sao lại vừa đến đảo đã hủy thuyền sát nhân là sao?
Tạ Tốn mỉm cười, để lộ hàm răng trắng sáng lấp lánh, nói:
– Các vị tụ họp tại đây để làm gì thế?
Bạch Qui Thọ nghĩ thầm: ?Việc này không thể dấu y được. Gã này võ công dĩ nhiên lợi hại, nhưng y chỉ có một mình. Ta cùng Thường đàn chủ liên thủ, lại có thêm Trương ngũ hiệp, Ân cô nương đứng bên tương trợ, chắc là có thể trừ được y?. Y lớn tiếng nói:
– Tệ giáo Thiên Ưng giáo mới có được một thanh bảo đao, nên mời bằng hữu giang hồ tới đây để tất cả cùng xem.
Tạ Tốn trừng mắt nhìn thanh đao Đồ Long trong đỉnh sắt lúc ấy mới vừa bị liệt hỏa nung, thấy thanh đao đó nằm trong than mà không suy tổn chút nào, quả thực thần vật lợi khí, liền nhanh nhẹn bước tới.
Thường Kim Bằng thấy y giơ tay phải ra toan cầm thanh đao, quát lên:
– Ngừng tay.
Tạ Tốn quay đầu lại khinh khỉnh hỏi:
– Cái gì?
Thường Kim Bằng đáp:
– Đao đó là sở hữu của tệ giáo, Tạ bằng hữu có thể đứng xa mà xem chứ không được cầm lên.
Tạ Tốn đáp:
– Thế đao này các ngươi đúc chăng? Hay các ngươi mua được?
Thường Kim Bằng á khẩu, nhất thời không trả lời được. Tạ Tốn nói:
– Các người đoạt được từ tay người khác, ta lại từ tay các ngươi đoạt lại, thật là thiên công địa đạo, có gì đâu mà không được?
Nói rồi tiếp tục đi tới cầm thanh đao. Chỉ nghe loảng xoảng, Thường Kim Bằng đã cởi ở lưng ra hai trái lưu tinh chùy, quát lên:
– Tạ bằng hữu, nếu người không ngừng tay, tại hạ đành phải vô lễ.
Ngôn ngữ của y tựa hồ cảnh cáo, kỳ thực nói là đánh ngay, trái dưa thép từ tay trái nhắm ngay lưng Tạ Tốn phóng tới. Tạ Tốn không thèm quay đầu lại, chỉ giơ thanh lang nha bổng quơ ra sau lưng, nghe keng một tiếng lớn, trái dưa thép bị lang nha bổng đỡ, bay ngược trở lại, nhanh vô tỉ. Thường Kim Bằng kinh hãi, trái dưa từ bên phải lập tức bay ra, hai trái dưa đụng nhau. Không ngờ Tạ Tốn thần lực kinh người, hai trái dưa cùng quay trở lại, đánh ngay vào ngực Thường Kim Bằng. Thường Kim Bằng thân hình loạng choạng, ngã xuống chết ngay.
Lúc y trên sông Tiền Đường dùng chùy đánh vỡ thuyền của Mạch thiếu bang chủ thần uy làm sao, vậy mà bây giờ không chịu nổi một cái đỡ lang nha bổng của Tạ Tốn.
Năm tên đà chủ thuộc Chu Tước Đàn kinh hãi, cùng xông lên. Hai người đỡ Thường Kim Bằng, ba người rút binh khí, không kể sống chết xông vào đánh Tạ Tốn. Tạ Tốn tay trái cầm thanh đao Đồ Long, tay phải dùng lang nha bổng thọc vào cái đỉnh hất một cái, cái đỉnh sắt nặng mấy trăm cân kia lập tức bay quét ngang qua, đè bẹp cả ba tên đà chủ. Dư thế của đại đỉnh chưa yếu, dưới đất còn lăn thêm mấy vòng, hất ngã luôn cả hai tên đang đỡ Thường Kim Bằng. Cả năm tên đà chủ cùng Thường Kim Bằng lập tức quần áo cháy bùng, trong đó bốn tên đà chủ đã bị đỉnh đụng chết, chỉ còn một tên sống sót quằn quại dưới đất.
Mọi người thấy tình thế như vậy, không ai không rụng rời. Tạ Tốn chỉ giơ tay đã đánh cho năm tên hảo thủ giang hồ chết tươi, tên đà chủ còn lại cũng đã trọng thương khó sống. Trương Thúy Sơn hành tẩu giang hồ, gặp những cao thủ không phải ít, nhưng siêu nhân cả thần lực lẫn võ công như Tạ Tốn thì chàng chưa thấy bao giờ. Chàng nghĩ thầm mình không phải địch thủ của y, mà ngay cả đại sư ca, nhị sư ca cũng không bằng được. Hiện nay trên đời, trừ phi sư phụ hạ sơn, ngoài ra không biết có ai thắng được y hay không.
Tạ Tốn nhắc thanh đao lên, giơ ngón tay búng một cái, thanh đao phát ra một tiếng trầm uất không phải vàng không phải gỗ, gật đầu khen ngợi:
– Vô thanh vô sắc, thần vật tự hối[13], đao tốt thực là tốt.
Y ngửng đầu lên, nhìn chiếc vỏ đao ở bên cạnh Bạch Qui Thọ, nói:
– Đó có phải là cái bao của đao Đồ Long không? Đưa lại đây.
Bạch Qui Thọ thầm nghĩ tình thế này, tính mệnh mình mười phần kể như chết đến chín, nếu như đưa vỏ đao cho y, không những cái tiếng anh hùng một đời trôi theo dòng nước, mà sau này nếu giáo chủ truy cứu tội, thì cái chết lại càng thêm thảm khốc. Thế nhưng giờ phút này chống cự lại y, thì cũng chỉ có nước chết mà thôi, cho nên y ngang nhiên đáp:
– Ngươi muốn giết cứ việc giết, họ Bạch này có phải là phường tham sống sợ chết chăng?
Tạ Tốn mỉm cười, nói:
– Cứng cỏi lắm, cứng cỏi lắm. Trong Thiên Ưng giáo quả nhiên cũng có vài ba nhân vật.
Bỗng nhiên tay phải y vung ra, thanh đao Đồ Long nặng hơn một trăm cân phóng thẳng vào Bạch Qui Thọ. Bạch Qui Thọ vốn đã đề phòng, nên thanh đao vừa rời khỏi tay, biết rằng thủ kình người này mạnh vô tả, không dám dùng binh khí đón đỡ, cũng không dám đưa tay ra chộp, lập tức né qua một bên. Nào ngờ thanh đao đó bay xéo tới, nghe soẹt một tiếng, phóng ngay vào chiếc bao đang ở trên bàn. Cái ném đó lực đạo thật mạnh, mang luôn cả vỏ đao cùng bay lên. Tạ Tốn đưa lang nha bổng ra, vừa gom vừa móc, khoèo luôn cả thanh đao Đồ Long lẫn bao về, tiện tay nhét luôn vào thắt lưng. Cái cách của y ném đao thu bao vừa chuẩn xác, tinh xảo, thủ pháp lại lạ lùng, quả thực không ai ngờ nổi.
Nhãn quang của y từ trái qua phải, nhìn quần hào khắp một lượt, hỏi:
– Tại hạ muốn lấy thanh đao Đồ Long này, các vị có dị nghị gì không?
Y hỏi luôn hai lượt, không ai dám trả lời.
Bỗng nhiên từ trong bàn tiệc của phái Hải Sa có một người đứng lên nói:
– Tạ tiền bối đức cao vọng trọng, danh dương bốn bể, đao này từ nay về tay Tạ tiền bối sở hữu. Bọn chúng tôi ai ai cũng đều hết sức tán thành.
Tạ Tốn nói:
– Các hạ có phải là Tổng đà chủ phái Hải Sa Nguyên Quảng Ba không?
Người kia đáp:
– Chính thị.
Y thấy Tạ Tốn biết được tên mình, rất là khoái chí, nhưng cũng hoảng sợ. Tạ Tốn nói:
– Ngươi biết sư phụ ta là ai chăng? Ở môn nào phái nào? Ta đã làm được việc gì?
Nguyên Quảng Ba ấp úng đáp:
– Cái đó ? Tạ tiền bối ?
Thực ra y không biết tí gì cả. Tạ Tốn lạnh lùng đáp:
– Việc gì của ta ngươi cũng không biết, sao dám nói đức cao vọng trọng, danh dương bốn bể? Ngươi chỉ quen nịnh bợ xu phụ, nói láo quen mồm. Ta sinh bình ghét nhất hạng người vô sỉ tiểu nhân như ngươi. Mau đứng ra đây.
Câu cuối cùng mỗi tiếng đều vang ầm như sấm động. Nguyên Quảng Ba bị uy thế của y bức hiếp, không dám trái lời, cúi đầu đi đến trước mặt y, nhưng không cưỡng nổi run lên bần bật.
Tạ Tốn nói:
– – Phái Hải Sa các ngươi võ nghệ bình thường, chỉ dùng độc diêm hại người. Năm ngoái ở Dư Diêu giết hại toàn gia Trương Đăng Vân, đầu tháng này Âu Dương Thanh chết ở Hải Môn, đều do tay các ngươi, phải không?
Nguyên Quảng Ba giật mình kinh hãi, vẫn tưởng hai vụ án đó cực kỳ bí mật, làm sao y lại biết được? Tạ Tốn quát:
– Gọi thủ hạ ngươi đem hai bát muối độc ra đây, để ta xem thử, là loại gì.
Bang chúng phái Hải Sa ai cũng mang theo độc diêm, Nguyên Quảng Ba không dám trái lời, chỉ còn nước bảo thủ hạ đem hai bát muối ra. Tạ Tốn cầm lấy một bát, đưa lên mũi ngửi một hồi, nói:
– Hai người mình mỗi người ăn một bát.
Nói rồi cắm lang nha bổng xuống đất, đưa tay nắm Nguyên Quảng Ba kéo lại, nghe lạch cạch, đã bóp y trật hàm ra, khiến y không thể nào ngậm miệng lại, rồi đem một bát muối độc đổ cả vào mồm.
Toàn gia Trương Đăng Vân ở Dư Diêu một đêm bị giết sạch, còn Âu Dương Thanh ở Hải Môn bị ám hại chết tại khách điếm là hai nghi án lớn trong võ lâm những năm gần đây. Trương Đăng Vân và Âu Dương Thanh thanh danh trên chốn giang hồ không tệ hại, không ai ngờ rằng lại do Nguyên Quảng Ba của phái Hải Sa làm, Trương Thúy Sơn thấy y bị ép ăn muối độc, chàng cảm thấy thống khoái trong lòng.
Tạ Tốn lại cầm bát muốn độc kia lên, nói:
– Họ Tạ này làm gì cũng công bình, ngươi ăn một bát, ta cũng tiếp ngươi một bát.
Nói rồi há mồm, cầm bát muối trút luôn vào bụng. Việc làm đó ra ngoài dự liệu của mọi người. Trương Thúy Sơn thấy y ra tay tàn độc, nhưng thần khí uy vũ ngang tàng, huống chi những người bị y giết đều là loại cùng hung cực ác, trong lòng không khỏi có chút hảo cảm, nhịn không nổi nói:
– Tạ tiền bối, những gian nhân này có chết cũng đáng, việc gì phải đồng lần với họ?
Tạ Tốn xoay qua, trừng mắt nhìn chàng. Trương Thúy Sơn mỉm cười, nhưng không lộ vẻ sợ hãi. Tạ Tốn hỏi:
– Các hạ là ai?
Trương Thúy Sơn đáp:
– Vãn bối là Trương Thúy Sơn của phái Võ Đương.
Tạ Tốn nói:
– Ồ, các hạ là Trương ngũ hiệp của phái Võ Đương, cũng đến đây tranh đoạt đao Đồ Long chăng?
Trương Thúy Sơn lắc đầu:
– Vãn bối đến Vương Bàn Sơn chỉ cốt tra xét tại sao sư ca là Du Đại Nham bị thương thôi, Tạ tiền bối nếu rõ chuyện này làm ơn cho biết.
Tạ Tốn không trả lời, thấy Nguyên Quảng Ba kêu la thảm thiết, ôm bụng lăn lộn mấy vòng rồi co rúm lại chết tốt. Trương Thúy Sơn vội nói:
– Tạ tiền bối mau uống giải dược đi.
Tạ Tốn nói:
– Uống giải dược cái gì, mau đưa rượu đây cho ta.
Người tư tân chuyên việc tiếp khách của Thiên Ưng giáo lập tức mang vò và chén rượu lại. Tạ Tốn quát:
– Thiên Ưng giáo các ngươi tính khí thật là nhỏ nhen, mau mang bình lớn đến đây.
Gã tư tân tự mình bưng một vò trần tửu lớn, cung cung kính kính đặt trước mặt Tạ Tốn, trong lòng nghĩ thầm:
– Ngươi trúng độc rồi lại còn uống rượu, chắc còn hiềm chết chưa đủ nhanh chắc?
Tạ Tốn bưng cả hũ rượu, ục ục uống luôn một mạch tất cả vào bụng. Vò này ít ra cũng phải hai mươi cân, vậy mà chỉ chốc lát y đã uống sạch. Y vỗ vỗ vào cái bụng phình to, rồi bất thần há mồm, một dòng rượu tống vọt ra, phun luôn vào ngực Bạch Qui Thọ. Bạch Qui Thọ còn đang kinh ngạc thì cột rượu đã trúng vào người y, chẳng khác gì một cái búa mấy trăm cân liên tiếp đập vào, khiến y dù nội công tinh thâm cũng không chịu nổi, lảo đảo mấy cái ngã lăn ra bất tỉnh.
Tạ Tốn quay lại, phun rượu lên trời, thành một trận mưa phủ xuống toàn thể đám Cự Kình bang. Từ bang chủ Mạch Kình trở xuống ai ai cũng đính đầy đầu đầy mặt, thấy rượu đó tanh hôi không chịu nổi, người nào công lực hơi yếu lập tức ngã lăn ra. Thì ra Tạ Tốn uống rượu vào bụng, tẩy sạch muối độc trong dạ dày, rồi dùng nội lực tống ra, hơn hai mươi cân rượu đều biến thành độc tửu, chất độc còn lại trong bụng y chỉ chút ít, nội công thâm hậu như y, không làm hại nổi.
Bang chủ Cự Kình bang là Mạch Kình bị y đùa rỡn như thế, đứng bật lên, nhưng nghĩ lại, không dám nổi giận, đành ngồi xuống. Tạ Tốn nói:
– Mạch bang chủ, hồi tháng năm năm nay, ngươi ở Mân Giang Khẩu cướp một viễn dương hải thuyền, có phải thế không?
Mạch Kình mặt xám lại, nói:
– Đúng vậy.
Tạ Tốn nói:
– Các hạ làm hải khấu, không đi ăn cướp, lấy gì mà sống? Chuyện đó ta cũng không trách làm chi. Thế nhưng ngươi đem mấy chục thương khách vô tội ném tất cả xuống biển, lại luân phiên gian dâm bảy phụ nữ đến chết, việc đó chẳng phải thái quá thương thiên hại lý ư?
Mạch Kình nói:
– Cái đó ? cái đó ? cái đó là anh em trong bang làm chứ ? không phải tôi.
Tạ Tốn nói:
– Thủ hạ ngươi làm chuyện cùng hung cực ác, ngươi không biết ước thúc, thì có khác gì chính ngươi làm? Thế khi đó những ai làm?
Mạch Kình gặp phải cảnh này, chỉ mong mình khỏi chết, rút ngay yêu đao, nói:
– Thái Tứ, Hoa Thanh Sơn, Hải Mã Hồ Lục, việc ngày hôm đó, ba người các ngươi có dự phần phải không?
Xoẹt xoẹt xoẹt ba đao, y đã chém ba kẻ ngồi bên ngã lăn ra. Ba đao đó ra tay thật là nhanh, bọn Thái Tứ không có cách gì phản kháng, lập tức trúng đao chết ngay.
Tạ Tốn nói:
– Tốt lắm. Chỉ có điều quá chậm, lại không phải ngươi thực tâm muốn thế. Giá như hôm đó ngươi giết luôn ba người này, ắt là hôm nay ta không tỉ võ với ngươi. Mạch bang chủ, công phu giỏi nhất của ngươi là gì?
Mạch Kình thấy không còn né tránh được nữa, nghĩ thầm: ?Trên đất liền tỉ thí với ngươi, chưa chắc mình đỡ được ba chiêu. Thế nhưng ở dưới biển, là giang sơn của mình, nếu có không lại, còn có đường đào tẩu, không lẽ ngươi thủy tính cũng giỏi hơn ta chăng??. Y nói:
– Tại hạ mong được lãnh giáo Tạ tiền bối công phu dưới nước.
Tạ Tốn nói:
– Được rồi, bọn mình ra ngoài biển tỉ thí.
Đi được mấy bước, bỗng nói:
– Khoan đã, ta đi khỏi đây, chỉ sợ những người ở đây chạy trốn hết cả.
Mọi người trong lòng ai nấy hãi sợ, nghĩ thầm: ?Y sợ mình chạy trốn, không lẽ y muốn giết hết mọi người ở đây sao??. Mạch Kình vội nói:
– Thực ra dù có xuống biển tỉ thí, tại hạ cũng không phải là đối thủ của Tạ tiền bối, chi bằng nhận thua trước là hơn.
Tạ Tốn đáp:
– Ừ, thế càng giản tiện, ngươi đã nhận thua, thì hoành đao tự sát đi.
Mạch Kình giật nảy người, nói:
– Cái đó ? cái chuyện tỉ võ, thắng bại là chuyện thường, việc gì mà phải tự sát ?
Tạ Tốn quát:
– Láo nào, cái mặt ngươi làm gì mà đòi tỉ võ với ta? Hôm nay ta đến đây cốt để đòi mạng. Chúng ta học võ, tay ai là không nhuốm máu? Có điều Tạ mỗ sinh bình chỉ giết người biết võ, ghét nhất những ai ăn hiếp kẻ yếu đuối, sát hại đàn bà con trẻ chưa từng luyện võ. Nếu ai đã làm chuyện đó, hôm nay Tạ mỗ sẽ không bỏ qua đâu.
Trương Thúy Sơn nghe đến đây, không nhịn nổi nhìn trộm Ân Tố Tố một cái, nghĩ đến nàng giết hại già trẻ lớn bé của Long Môn tiêu cục mấy chục mạng người, trong đó không ít người chẳng biết võ công, Tạ Tốn nếu như biết được chuyện này, thể nào cũng tìm cô tính sổ. Chàng thấy nàng mặt mày trắng bệch, môi mấp máy. Trương Thúy Sơn lại nghĩ thầm: ?Tạ Tốn như muốn giết nàng, ta có ra tay cứu hay chăng? Nếu ta ra tay, chỉ bất quá đem nạp mạng cho y thôi, huống chi với nàng cũng chỉ là tội hữu báo ứng thôi, nhưng ? nhưng ? làm sao có thể xõng tay nhìn nàng bị hành hung mà không lý tới??.
Lại nghe Tạ Tốn nói tiếp:
– Chỉ có điều sợ các ngươi chết mà không phục, nên ta cho từng người thi triển sinh bình tuyệt nghệ, chỉ cần thắng được ta một ngón thôi, ta sẽ tha cho khỏi chết.
Y nói đến đó, cúi xuống móc dưới đất hai nắm đất, đổ rượu vào, hòa thành hai nắm bùn, nói với Mạch Kình:
– Thủy tính giỏi hay dở, cốt là xem ai ở dưới nước được lâu. Ta với ngươi hai người dùng bùn bịt chặt miệng mũi, ai chịu không nổi giơ tay gỡ ra trước, thì người đó phải vung đao tự tận.
Y nói xong không cần Mạch Kình đồng ý hay không, dùng nắm bùn bên tay trái bịt luôn vào mặt mình, kín cả mũi miệng, tay phải vung ra, nghe bạch một tiếng, nắm bùn bay ra bịt chặt mũi miệng Mạch Kình.
Mọi người thấy cảnh tượng đó, tuy thật hoạt kê nhưng không ai cười nổi.
Trước khi bị bùn bịt chặt mũi miệng, Mạch Kình chuẩn bị hít một hơi dài, y lập tức ngồi xếp bằng, nín thở bất động. Y từ khi bảy tám tuổi đã ngày ngày ra biển mò cua bắt cá, bơi lội cực giỏi, đến tàn một nén hương chưa phải trồi lên mà cũng không ngộp, thành thử màn tỉ thí này y tin chắc nhất định không thua, nên không còn sợ hãi nữa, ngưng thần tĩnh tâm, cốt để được thật lâu.
Tạ Tốn trái lại không ngồi bất động, lại rảo bước tới mâm của Thần Quyền môn, trừng mắt nhìn chưởng môn của Thần Quyền môn là Quá Tam Quyền. Quá Tam Quyền thấy y nhìn mà rởn tóc gáy, vội đứng lên, vòng tay nói:
– Chào Tạ tiền bối, tại hạ là Quá Tam Quyền.
Tạ Tốn mồm bị gắn kín, không nói chuyện được, giơ ngón tay trỏ bên phải, nhúng vào ly rượu, viết lên trên bàn ba chữ. Quá Tam Quyền trông rồi mặt mày xám ngoét, thần tình cực kỳ hãi sợ, chẳng khác gì đột nhiên thấy ma quỉ hiện ra. Các đệ tử cùng bàn liếc trông, chỉ thấy ba chữ Tạ Tốn viết là ?Thôi Phi Yên?. Những đệ tử đó không hiểu chuyện gì, nghĩ thầm ?Thôi Phi Yên? dường như tên của một người đàn bà, nhưng không biết tại sao sư phụ lại hãi sợ đến thế.
Thế nhưng Quá Tam Quyền biết ngay, vì Thôi Phi Yên chính là chị dâu của y, y bức gian không được nên ra tay giết chết. Y nghĩ thầm: ?Y thể nào cũng không tha mình, nhân lúc bùn còn đang bịt mũi miệng, mình toàn lực tấn công, nếu như y vận khí phát quyền thể nào cũng thua Mạch Kình?.
Nghĩ thế bèn lớn tiếng nói:
– Tại hạ chấp chưởng Thần Quyền môn, cả đời chỉ học quyền pháp, vậy xin lãnh giáo tiền bối vài chiêu.
Không đợi Tạ Tốn chuẩn bị, nghe vù một tiếng, y đã nhắm ngay bụng dưới đối phương đánh tới. Quyền thứ nhất vừa ra, quyền thứ hai lập tức đi theo. Cái tên Quá Tam Quyền chính là vì quyền lực của y cực mạnh, một quyền có thể đánh chết một con bò đực, võ sư tầm thường chưa ai chịu nổi ba cú đấm. Trên giang hồ vì thế truyền ngôn, còn tên thực của y không ai biết đến nữa.
Y biết rằng sự tình trước mắt, cốt ở tấn công thật nhanh, nếu như Mạch Kình chịu không nổi phải bóc cục bùn ra, Tạ Tốn cũng nhân đó mà gỡ theo. Lúc này là lúc y thật là lợi thế, đối phương không cách nào hô hấp vận lực, võ công sẽ bị giảm đi rất nhiều.
Hai quyền của y đánh ra, Tạ Tốn giơ tay ra đỡ. Quá Tam Quyền thấy kình lực đối phương yếu đuối, so với thần uy lúc đánh chết Thường Kim Bằng, hay phun ngã Bạch Qui Thọ thật khác xa, hét lên một tiếng:
– Quyền thứ ba đây.
Cú đấm thứ ba của y có một cái tên, gọi là ?Hoành Tảo Thiên Quân, Trực Tồi Vạn Mã[14]?, là chiêu bình sinh sở học tối lợi hại, nhiều anh hùng hảo hán thành danh trên giang hồ đã bị thương dưới cú đánh này.
Lúc đó Mạch Kình mặt đã đỏ bừng, trên trán mồ hôi vã ra như mưa, xem chừng không còn chịu nổi nữa. Mạch thiếu bang chủ thấy phụ thân nguy cấp, mà Tạ Tốn lại đang tỉ quyền với Quá Tam Quyền, chợt nghĩ ra một mẹo, thò tay rút một chiếc ngân thoa của một nữ đà chủ trong bang, bẻ lấy một đoạn chừng một tấc, nhắm ngay miệng Mạch Kình ném tới, tuy không khỏi làm y bị thương nơi răng hay lưỡi, nhưng đoạn thoa sẽ đâm lủng một cái lỗ nhỏ, không khí theo đó mà vào, chuyện tỉ thí sẽ không thể nào thua được.
Mảnh thoa gãy còn cách Mạch Kình chừng một trượng, Tạ Tốn liếc mắt trông thấy, giơ chân hẩy một hòn đá nhỏ bay lên, trúng ngay chiếc ngân thoa. Chiếc thoa quay ngược trở lại, thế nhanh lạ thường, chỉ nghe Mạch thiếu bang chủ kêu ?A? một tiếng thảm thiết, giơ tay ôm mắt phải, máu chảy ròng ròng, hóa ra y đã bị chiếc thoa đâm mù mắt.
Mạch Kình lại đưa tay toan gỡ nắm đất ra, Tạ Tốn đá luôn hai hòn sỏi khác, cách cách hai tiếng, hai hòn đá đã đánh gãy hai xương đầu vai, tay y không còn động đậy được nữa.
Ngay lúc đó, quyền thứ ba của Quá Tam Quyền đã đánh ngay bụng dưới Tạ Tốn. Quyền đó thế như sấm sét, quyền lực chưa đến nhưng đã rất là mãnh liệt. Quá Tam Quyền liệu rằng đối phương sẽ không dám giơ tay đỡ thế quyền của mình mà phải né qua, nhưng dù lách qua trái hay phải, chồm lên lùi xuống, y cũng đã dự bị sẵn một thế tiếp theo cực lợi hại. Nào ngờ Tạ Tốn lại không chuyển động, Quá Tam Quyền mừng lắm, quyền của y đánh trúng ngay bụng dưới. Trong cơ thể, bụng dưới là chỗ mềm nhất, nào ngờ quyền của y đánh vào chẳng khác gì đánh vào sắt đá, vừa biết là không ổn thì mồm đã hộc máu tươi, chết ngay tại chỗ.
Tạ Tốn quay đầu lại, thấy Mạch Kình hai mắt trợn trắng, khí đã tuyệt chết rồi. Y gỡ nắm bùn của Mạch Kình ra trước, thò tay xem xét hơi thở, sau đó mới đưa tay gỡ cục bùn trên mặt mình, ngửa mặt lên trời cười một hồi, nói:
– Hai tên này bình sinh tác ác đa đoan, đến hôm nay mới gặp báo ứng cũng là muộn lắm rồi.
Nói xong y đưa đôi mắt sáng quắc như điện nhìn vào hai kiếm khách của phái Côn Lôn, từ Cao Tắc Thành sang Tưởng Đào rồi lại từ Tưởng Đào quét sang Cao Tắc Thành, một lúc lâu không nói gì. Cao Tưởng hai người mặt mày trắng bệch, nhưng vẫn ngang nhiên cầm kiếm, giương mắt nhìn lại y.
Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn chỉ trong khoảnh khắc đã giết những nhân vật thủ lãnh của bốn đại bang hội, bây giờ lại toan hạ thủ Cao Tưởng hai người, đứng dậy nói:
– Tạ tiền bối, cứ như ông nói, những người mới chết đây đều đầy tội lỗi, chỉ là báo ứng mà thôi. Thế nhưng nếu ông cũng không phân biệt trắng xanh vàng đỏ gặp ai cũng giết, thì có khác gì bọn họ đâu?
Tạ Tốn cười khẩy:
– Có gì phân biệt ư? Ta võ công cao, bọn họ võ công thấp, kẻ mạnh thắng mà kẻ yếu thua, phân biệt là thế đó.
Trương Thúy Sơn nói:
– Người ta khác loài cầm thú bởi vì biết được đâu là phải, đâu là trái, nếu chỉ cậy mạnh hiếp yếu, thì đâu khác với cầm thú ở chỗ nào.
Tạ Tốn ha hả cười, nói:
– Trên đời này bộ có chuyện phân biệt phải trái ư? Ngày nay người Mông Cổ làm vua, muốn giết người Hán bao nhiêu thì giết, họ có nói chuyện phải trái với ngũ hiệp không? Người Mông Cổ muốn bắt đàn bà con gái, vàng bạc ngọc ngà của người Hán, cứ thò tay ra lấy, người Hán không phục, họ giơ đao chém liền, họ có nói chuyện phải trái đâu?
Trương Thúy Sơn lặng thinh hồi lâu, nói:
– Người Mông Cổ bạo ngược, tàn ác, hoành hành chẳng khác gì cầm thú. Phàm là người có chí khí, ai chẳng nghiến răng thống hận, ngày đêm mong đuổi được quân Thát tử, lấy lại giang sơn.
Tạ Tốn nói:
– Ngày trước người Hán làm Hoàng Đế, bộ cũng nói chuyện phải trái hay sao? Nhạc Phi là đại trung thần, sao cũng bị Tống Cao Tông giết chết? Tần Cối là đại gian thần, tại sao thân cư cao vị, hưởng tận phú quí vinh hoa?
Trương Thúy Sơn nói:
– Các vua nhà Nam Tống thích dùng gian nịnh, sát hại kẻ trung lương, bãi xích danh tướng, để đến nỗi giang sơn gấm vóc rơi vào tay dị tộc, trồng ác nhân thì thu ác quả, đó chính là phân biệt phải trái.
Tạ Tốn đáp:
– Hoàng đế Nam Tống hôn ám vô đạo, thế nhưng người Kim, người Mông Cổ tàn sát ngược đãi lại là người Hán trong khắp thiên hạ. Xin hỏi Trương ngũ hiệp, trăm họ làm điều ác gì, mà phải chịu không biết bao nhiêu tai ương như vậy?
Trương Thúy Sơn lặng thinh. Ân Tố Tố đột nhiên chen vào:
– Dân chúng vô quyền vô dũng, dĩ nhiên phải chịu để cho người ta chém giết. Người đời nói rằng họ là dao thớt, mình là cá thịt, âu cũng là chuyện thường.
Trương Thúy Sơn nói:
– Chúng ta cố công cố sức học võ, cũng là để sao cho người ta được thân oan, được hả giận, chống kẻ mạnh giúp người yếu. Tạ tiền bối anh hùng vô địch, nếu đem cái tuyệt kỹ võ công này hành hiệp trong thiên hạ, ắt là người người đều được hưởng phúc ấm.
Tạ Tốn hỏi lại:
– Hành hiệp trượng nghĩa có lợi gì? Tại sao lại phải hành hiệp trượng nghĩa?
Trương Thúy Sơn sững người, chàng từ nhỏ được sư phụ giáo huấn, ngay từ khi chưa học võ, là hành hiệp trượng nghĩa là việc suốt đời phải theo đuổi, sở dĩ học võ cũng là cốt để hành hiệp. Hành hiệp là gốc, còn học võ chỉ là ngọn. Trong bụng chàng chưa bao giờ lại hỏi 😕 Hành hiệp trượng nghĩa có lợi gì? Tại sao lại phải hành hiệp trượng nghĩa??, mà vẫn coi đó là chuyện đương nhiên, cái lý tự nhiên đã sáng tỏ rồi, nên không bao giờ suy nghĩ đến, lúc này nghe Tạ Tốn hỏi, chàng ngơ ngẩn một hồi, mới đáp:
– Hành hiệp trượng nghĩa ư, là để trải rộng chính nghĩa, thiện được đáp đền, ác bị quả báo.
Tạ Tốn cười một hồi dài, nói:
– Thiện được đáp đền, ác bị quả báo? Ha ha, nói láo nói lếu. Ngươi tưởng trong chốn võ lâm thực là có chuyện thiện được đáp đền, ác bị quả báo hay sao?
Trương Thúy Sơn bỗng nghĩ đến Du Đại Nham, tam sư ca một đời làm không biết bao nhiêu điều tốt, vậy mà bị thảm họa như thế, tám chữ ?thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo?, chính mình cũng chưa tin là thực, nên thở dài đáp:
– Đạo trời khó nói, việc người khó biết. Mình chỉ cầu sao tâm được an, thấy việc nghĩa thì làm, còn chuyện họa hay phúc, đâu nghĩ đến làm gì.
Tạ Tốn liếc Trương Thúy Sơn nói:
– Ta vẫn nghe tôn sư Trương Tam Phong tiên sinh võ công quán tuyệt đời nay, mong có duyên được gặp một lần. Ngươi là cao đồ trong môn phái, kiến thức lại tầm thường như thế, có lẽ Trương Tam Phong cũng chỉ đến thế thôi, không gặp được cũng không sao.
Trương Thúy Sơn thấy lời lẽ của y đối với ân sư có ý khinh thị, nhịn không nổi, nói:
– Cái học của ân sư đâu phải kẻ phàm phu tục tử có thể đo lường được. Tạ tiền bối võ công cao cường, hậu học tiểu bối không sánh kịp, nhưng đối với với ân sư của tôi, thì chẳng qua cũng chỉ là cái dũng của kẻ thất phu thôi.
Ân Tố Tố kéo vạt áo chàng, ý muốn chàng nhịn cái nhục nhất thời, khỏi phải gặp chuyện rắc rối trước mắt. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Đại trượng phu có chết cũng cam, nhưng quyết không để y làm nhục đến ân sư?.
Nào ngờ Tạ Tốn lại không nổi giận, chỉ bình thản nói:
– Trương Tam Phong tiên sinh khai sáng tông phái, chắc hẳn võ công phải có chỗ khác người. Võ học chi đạo, vô cùng vô tận, ta không thể nào bằng được tôn sư, cái đó cũng không có gì lạ. Nhưng thể nào cũng có ngày, ta sẽ lên núi Võ Đương lãnh giáo một phen. Trương ngũ hiệp, môn công phu sở trường của ngươi là gì, họ Tạ này mong được biết đến.
[1] Bão tất thuyền đầu, Tư kiến gia tân. Vi phong động ba, Võng yên nhược tỉnh.
[2] Gió hiu hiu, mưa lất phất thì chẳng phải về nhà ý nói cái dù này có thể giúp người tránh được gió mưa nhỏ.
[3] con của Vệ Hằng đời Tấn (có chỗ chép là em gái) vợ của Lý Củ nên còn gọi là Lý phu nhân, có tài viết theo lối chữ lệ là thầy dạy cho Vương Hi Chi về phép viết chữ.
[4] Phép cắm hoa, hoa nọ đỡ cho hoa kia, và phép gieo vần, vần nọ liền với vần kia, ý nói chữ nọ liền với chữ kia không đứt đoạn.
[5] Văn quân nhất tịch thoại, Thắng độc thập niên thư [6] Đêm lạnh khách đến đem trà ra đãi thay rượu. Đây là câu đầu của bài thơ tứ tuyệt: Hàn dạ khách lai trà đương tửu, Trúc lô thang phí hỏa sơ hồng. Tầm thường nhất dạng song tiền nguyệt, Tài hữu mai hoa tiện bất đồng. (Đêm lạnh trà ngon thay rượu quí, Lửa vừa mới bén nước đang sôi. Ánh trăng trước cửa càng đơn lẻ, Hay muốn thay hoa chuốc ngậm ngùi) [7] Giấy làm ở Tuyên châu là một loại danh phẩm [8] một loại võ khí ngắn dùng để chiếu đấu dưới nước, hai đầu nhọn, có thể dấu theo cánh tay và ném ra như một loại ám khí [9] Thác nước từ trên cao trăm trượng đổ xuống [10] Thầy đi ta cũng đi, thầy rảo bước ta cũng rảo bước, thầy chạy ta cũng chạy, nhưng khi thầy ra sức chạy bụi mù, thì ta chỉ giương mắt nhìn không sao theo kịp.
[11] yên ổn, lặng lẽ, khiêm tốn, đè nén là bốn đức tính cần tập luyện của đạo gia [12] thanh đao Đồ Long là vật cao quí nhất trong võ lâm, hiệu lệnh thiên hạ, không ai dám không theo [13] Không thanh không sắc, thần vật tự khiêm tốn dấu mình [14] đánh ngang thì tiêu diệt nghìn quân, đánh thẳng thì đập tan vạn mã

Hết tập 5

********************************************************************************************************************

TẬP 6:
PHÙ TRA BẮC MINH HẢI MANG MANG

Đi đâu cho thiếp theo cùng, Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam.[1] Trông vời biển Bắc mênh mang, Đã yêu thiếp nguyện sắt son một bề.
Ân Tố Tố trước mắt thấy Bạch Qui Thọ, Thường Kim Bằng, Nguyên Quảng Ba, Mạch Kình, Quá Tam Quyền chết nằm ngang dọc, người nào động thủ với y cũng không thoát khỏi, giờ nghe Tạ Tốn khiêu chiến với Trương Thúy Sơn, chàng võ công tuy cao, nhưng cũng không phải là địch thủ, nên nói:
– Tạ tiền bối, đao Đồ Long đã vào tay ông, mọi người ai nấy bội phục ông võ công cao cường, ông còn muốn gì nữa?
Tạ Tốn nói:
– Liên quan đến thanh đao Đồ Long này, có mấy câu cố lão tương truyền, cô có biết không?
Ân Tố Tố đáp:
– Có nghe nói qua.
Tạ Tốn nói:
– Cứ theo đó thì thanh đao này là võ lâm chí tôn, ai cầm nó có thể hiệu lệnh thiên hạ, không ai dám không theo. Trong thanh đao này rốt ráo có cái bí mật gì, mà lại khiến cho thiên hạ quần hùng khâm phục?
Ân Tố Tố đáp:
– Tạ tiền bối cái gì cũng biết, vãn bối đang muốn thỉnh giáo.
Tạ Tốn nói:
– Tôi cũng không biết nữa. Tôi muốn tìm một chỗ ở thanh tĩnh, để có thời gian suy nghĩ về chuyện đó.
Ân Tố Tố nói:
– Ồ, thế thì hay biết bao. Tạ tiền bối tài trí hơn người, nếu như ông cũng không nghĩ ra, người khác làm sao có thể làm được.
Tạ Tốn nói:
– Ha ha, họ Tạ này đâu phải là loại cuồng vọng tự đại. Nói về võ công, hiện nay trên đời người giỏi hơn tôi cũng không phải là ít. Chưởng môn phái Thiếu Lâm Không Văn đại sư ?
Nói đến đây, y ngừng lại một lát, trên mặt thoáng qua một nét buồn mênh mang.
– ? Thiếu Lâm tự Không Trí, Không Tính hai vị đại sư, Trương Tam Phong đạo trưởng của phái Võ Đương, lại còn chưởng môn các phái Nga Mi, Côn Lôn, người nào không là người thân mang tuyệt học? Phái Thanh Hải ẩn ở biên cương phía tây, võ công cũng có chỗ độc đáo bí mật. Còn tả hữu Quang Minh sứ giả của Minh giáo … ha ha, thật là ghê gớm. Rồi tới Bạch Mi Ưng Vương Ân giáo chủ trong Thiên Ưng giáo của cô cũng là một kỳ tài trên đời khó gặp, tôi chắc gì đã thắng nổi ông ta.
Ân Tố Tố đứng lên, nói:
– Đa tạ tiền bối ca ngợi.
Tạ Tốn nói:
– Tôi được thanh đao này, người ngoài ai chả thèm muốn. Hôm nay trên đảo Vương Bàn Sơn không ai là địch thủ của tôi, đó cũng là Ân giáo chủ tính nhầm thôi. Ông ta tưởng chỉ cần Bạch đàn chủ, Thường đàn chủ hai người cũng dư sức đối phó với các phái Hải Sa, bang Cự Kình, đâu ngờ giữa đường lại có họ Tạ này nhúng tay vào ?
Ân Tố Tố nói chen vào:
– Không phải Ân giáo chủ tính sai đâu, mà tại vì ông ấy có việc quan trọng, không phân thân ra được.
Tạ Tốn đáp:
– Cứ cho là như thế, nếu Ân giáo chủ có mặt tại đây, một là tôi võ công nhiều lắm so với ông ta cũng chỉ kẻ tám lạng, người nửa cân thôi, hai là nghĩ đến tình nghĩa với cố nhân, nên không thể nào ra mặt sang đoạt. Cứ như thế, họ Tạ này đâu có đến làm gì. Ân giáo chủ trước nay vẫn cho là mình tính toán không bao giờ sơ hở, hôm nay đao rơi vào tay tôi, tên tuổi ông ta không khỏi bị thương tổn.
Ân Tố Tố nghe Tạ Tốn nói đối với Ân giáo chủ có ?cố nhân chi tình?, trong lòng cũng hơi yên tâm, nên nàng cố tình tiếp tục nói chuyện nọ chuyện kia để dẫn dụ, ngõ hầu y không đòi tỉ võ với Trương Thúy Sơn nữa:
– Nhân sự nan tri, thiên ý nan liệu, mọi việc bên ngoài không phải muốn gì được nấy. Chính vì thế mà người ta nói là mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Tạ tiền bối phúc trạch thâm hậu, lấy được thanh đao này mang đi dễ dàng, người khác thiên phương bách kế đem hết tâm cơ ra chiếm nó, vậy mà lại không được gì.
Tạ Tốn nói:
– Từ khi thanh đao này có trên đời, không biết bao nhiêu phen đổi chủ, cũng không biết đem lại cho người cầm nó bao nhiêu cái họa sát thân. Hôm nay tôi được thanh đao này mang đi, biết đâu ngày mai lại có cao thủ mạnh hơn tới giết tôi rồi đoạt mất?
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố hai người nhìn nhau, đều cảm thấy y nói câu này quả có thâm ý. Trương Thúy Sơn nghĩ đến tam sư ca Du Đại Nham chỉ mới liên can đến thanh đao, mà tới nay chết sống chưa đoán được, còn mình chỉ mới nhìn thấy bảo đao thôi, tính mệnh đã phải giao cho người ngoài.
Tạ Tốn thở dài, nói:
– Hai người văn võ song toàn, tướng mạo tuấn nhã, ta phải ra tay giết đi, chẳng khác gì đập nát một đôi ngọc khí quí báu hiếm có, thật là đáng tiếc. Thế nhưng ở vào tình thế bắt buộc, không giết không xong.
Ân Tố Tố hãi sợ hỏi:
– Sao thế?
Tạ Tốn đáp:
– Tôi lấy được thanh đao này đem đi, nếu trên đảo này để lại một ai sống sót, chẳng mấy ngày mọi người đều biết là đao Đồ Long đang ở trong tay họ Tạ. Người này đến kiếm, người khác đến kiếm, họ Tạ lại không phải là người vô địch trong thiên hạ, làm sao không khỏi có lúc sẩy tay? Không nói chi người khác, chỉ riêng Bạch Mi Ưng Vương không thôi, họ Tạ đã chắc đâu thắng được ông ta. Huống chi Thiên Ưng giáo người nhiều thế mạnh, còn Tạ mỗ chỉ đơn chiếc một thân một mình?
Nói xong y lặng lẽ lắc đầu, nói tiếp:
– Nội ngoại công phu của Ân Thiên Chính cương mãnh không ai sánh kịp, Tạ mỗ vốn kính phục lắm. Nhớ lại khi xưa ? ôi ?
Y lại thở dài, rồi buồn bã lắc đầu.
Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Thì ra giáo chủ của Thiên Ưng giáo tên gọi Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính?. Chàng lạnh lùng đáp:
– – Hóa ra ông chỉ muốn giết người bịt miệng đấy thôi.
Tạ Tốn đáp:
– Đúng thế.
Trương Thúy Sơn nói:
– Vậy thì việc gì ông phải kể tội phái Hải Sa, bang Cự Kình, hay Thần Quyền môn làm chi?
Tạ Tốn ha hả cười, nói:
– Cái đó là để cho chúng chết mà không oán giận, lúc lâm tử trong lòng không tức tối đấy thôi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Tiền bối quả thật có lòng từ bi.
Tạ Tốn nói:
– Trên đời nay có ai mà không chết? Chết sớm vài năm hay muộn vài năm cũng có khác nhau bao nhiêu. Trương ngũ hiệp và Ân cô nương đang tuổi xuân thì, hôm nay táng thân nơi Vương Bàn Sơn đảo, tựa hồ đáng tiếc lắm thay. Thế nhưng một trăm năm sau nhìn lại, có còn như thế nữa đâu. Năm xưa Tần Cối không hãm hại Nhạc Phi, không lẽ Nhạc Phi sống đến ngày nay? Con người ta lúc chết miễn sao trong lòng yên ổn, hợp lý, đừng có quá thống khổ, thế là đủ rồi. Chúng ta là người học võ, nếu muốn chết hoàn toàn thư thái, thật không phải dễ. Chính thế mà tôi muốn cùng hai vị tỉ thí một phen, ai thua thì chết, thế là công bình lắm rồi. Hai người tuổi ít hơn tôi, tôi nhường các ngươi được lợi thế. Binh khí, quyền cước, nội công, ám khí, khinh công, thủy công, muốn chọn gì thì chọn, tôi đều hầu tiếp.
Ân Tố Tố nói:
– Ông lớn lối nhỉ, muốn tỉ đấu công phu gì cũng được, có phải thế không?
Nàng nghe Tạ Tốn nói như thế, biết rằng hôm nay không cách gì thoát được cái cảnh khó khăn này. Đảo Vương Bàn Sơn lênh đênh giữa biển, Thiên Ưng giáo lại tin chắc hai đàn chủ Bạch Thường có mặt, không thể sơ sót, nên không đưa cường viện đến làm gì. Nàng tuy nói cứng, nhưng nghe giọng cũng hơi run.
Tạ Tốn sựng lại, nghĩ thầm nếu nàng lại đòi mình tỉ thí thêu thùa vá may, chải đầu đánh phấn, thì làm sao được nên lớn tiếng nói:
– Đương nhiên là chỉ võ công thôi, chứ không lẽ cả chuyện ăn cơm uống rượu? Nói vậy chứ có thi ăn cơm uống rượu, hai người cũng không thắng được cái túi cơm hũ rượu này đâu. Chúng ta chỉ đấu một lần xem ai thắng ai thua, hai người thua thì ra tay tự sát. Chao ôi, một đôi người ngọc đẹp đẽ như thế kia, tôi thật không đang tâm chính mình hạ thủ.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nghe y nói ?một đôi người ngọc?, không khỏi hai má đỏ bừng.
Ân Tố Tố bỗng nhướng đôi lông mày, hỏi lại:
– Thế tiền bối thua có tự sát không?
Tạ Tốn cười đáp:
– Tôi làm sao thua được?
Ân Tố Tố nói:
– Tỉ thí phải có thua được. Trương ngũ hiệp đây là danh gia đệ tử, biết đâu chẳng có một môn công phu thắng được ông?
Tạ Tốn cười:
– Bằng tuổi trẻ như ngũ hiệp, dẫu chiêu số có cao thì nội lực cũng không thâm hậu được.
Trương Thúy Sơn nghe hai người lời qua tiếng lại, trong bụng tính toán: ?Công phu nào của mình có thể ngang tay với y được? Khinh công chăng? Chưởng pháp mới học chăng? ? Bỗng nhiên linh cơ nhất động, chàng nói:
– Tạ tiền bối, nếu như ông nhất định ép tôi phải động thủ, không lộ cái xấu ra thì không xong. Nếu tôi thua tiền bối, dĩ nhiên rút kiếm tự sát, thế nhưng nếu như hai người ngang nhau thì sao?
Tạ Tốn lắc đầu:
– Không có chuyện ngang nhau. Trận đầu ngang nhau, thì sang trận thứ hai, bao giờ thắng bại rõ ràng mới thôi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Được rồi, nếu như vãn bối thắng được một chiêu nửa thức, quả không dám bảo tiền bối làm gì, chỉ xin tiền bối đáp ứng một chuyện thôi.
Tạ Tốn đáp:
– Một lời đã định, thế ngũ hiệp muốn tỉ thí môn gì?
Ân Tố Tố trong bụng rất lo, hạ giọng hỏi:
– Chàng muốn tỉ thí môn gì thế? Có chắc ăn không?
Trương Thúy Sơn cũng hạ giọng đáp:
– Không biết nữa, cứ hết sức thôi.
Ân Tố Tố nói nhỏ:
– Nếu thấy không xong, hai đứa mình tùy cơ chạy trốn, không lẽ trói tay chịu chết.
Trương Thúy Sơn cười buồn, không trả lời, nghĩ bụng: ?Thuyền bè bị phá hủy cả rồi, trên hòn đảo nhỏ tí xíu này, chạy chỗ nào bây giờ??. Chàng sửa lại áo quần, lấy chiếc phán quan bút đúc bằng thép từ trong lưng ra. Tạ Tốn nói:
– Trên chốn giang hồ ai cũng khen ngợi Ngân Câu Thiết Hoạch Trương Thúy Sơn, hôm nay song đầu lang nha bổng của tôi hân hạnh được lĩnh giáo. Còn chiếc hổ đầu câu bằng bạc vụn đâu? Sao ngũ hiệp không lấy ra luôn thể?
Trương Thúy Sơn nói:
– Tôi không muốn tỉ thí binh khí với tiền bối, chỉ thi viết vài chữ thôi.
Nói xong, chàng chậm rãi đi đến gần vách đá nơi ngọn núi ở phía bên trái, hít một hơi dài, hai chân nhún một cái, phóng mình nhảy lên. Võ công của phái Võ Đương vốn dĩ đứng vào bậc nhất thiên hạ, lúc này lại là lúc gặp phải hiểm nguy sống chết, lẽ nào lại không hết sức ra tay? Thân hình tung lên khoảng hơn một trượng, lập tức chàng sử dụng công phu tuyệt kỹ Thê Vân Túng, chân phải đạp vào vách núi một cái, mượn sức, lại vọt lên hai trượng nữa. Phán quan bút trong tay nhắm thẳng vào mặt đá, xoẹt xoẹt xoẹt mấy tiếng, đã viết xong chữ ?võ?. Một chữ vừa viết xong, thân hình chàng như muốn rơi xuống.
Trương Thúy Sơn uốn mình tay trái vung chiếc ngân câu, đã trúng một chỗ nhô ra trên vách, chiếc móc chịu cả sức nặng đong đưa. Tay phải lại tiếp tục viết chữ ?lâm?. Hai chữ này, mỗi nét mỗi gạch, đều do Trương Tam Phong đêm khuya suy nghĩ đắn đo mà sáng tạo ra, bên trong bao hàm cương nhu, âm dương, tinh thần khí thế, phải nói là đạt đến cao điểm công phu của phái Võ Đương. Tuy Trương Thúy Sơn công lực còn non, nét bút hằn vào đá chưa sâu mấy nhưng hai chữ rồng bay phượng múa, bút lực hùng kiện, tưởng như dùng khoái kiếm trường thương đục thành.
Viết hai chữ xong, chàng viết tiếp chữ ?chí?, chữ ?tôn?. Càng viết càng nhanh, chỉ thấy đá vụn lả tả rơi xuống, tưởng như linh xà uốn khúc, trông như mãnh thú vươn mình, khoảnh khắc đã xong hai mươi bốn chữ. Việc khắc chữ lên vách đá có khác gì hính ảnh trong thơ Lý Bạch:
Tiêu phong sậu vũ kinh táp táp, Lạc hoa phi tuyết hà mang mang.
Khởi lai hướng bích bất đình thủ, Nhất hàng sổ tự đại như đẩu.
Hoảng hoảng như văn quỉ thần kinh, Thời thời chỉ kiến long xà tẩu.
Tả bàn hữu túc như kinh lôi, Trạng đồng Sở Hán tương công chiến.
(Gió rít mưa sa rơi lộp bộp, Hoa rơi tuyết thổi rét căm căm.
Trên vách viết ra không ngừng lại, Một hàng chữ to bằng cái đấu.
Bàng hoàng nghe tựa quỉ thần kinh, Đâu đâu cũng thấy rồng rắn lượn, Quét phải, uốn trái như sấm chớp, Khác gì Sở Hán đang giao tranh) Trương Thúy Sơn viết đến nét cuối của chữ ?phong? rồi, cả ngân câu lẫn thiết bút cùng đẩy mạnh vào vách núi, uốn mình rơi xuống đất, nhẹ nhàng khéo léo làm sao đứng ngay bên cạnh Ân Tố Tố.
Tạ Tốn chăm chăm nhìn ba hàng đại tự trên vách núi một lúc thật lâu, không nói một lời. Sau cùng y thở dài một tiếng:
– Tôi không viết nổi, xin chịu thua.
Nên biết là từ ?võ lâm chí tôn? cho đến ?thùy dữ tranh phong? tổng cộng hai mươi bốn chữ, vốn do Trương Tam Phong ý đáo thần hội, suy đi nghĩ lại mà sáng chế ra, đều do ở bút ý. Một nét ngang, một nét dọc, một cái chấm, một cái phảy, đều là toàn do dung hợp những gì tinh diệu nhất của võ công. Giá như chính Trương Tam Phong đến đây, nhưng trước chưa qua một đêm cùng cực suy nghĩ, ắt cũng không có được cái tâm cảnh như thế. Ví dù có suy nghĩ hồi lâu, muốn viết hai mươi bốn chữ lên vách núi, cũng không thể nào đạt được trình độ xuất thần nhập hóa thế này. Tạ Tốn có biết đâu nguyên do bên trong, tưởng rằng vì việc bảo đao Đồ Long trước mắt phát khởi tranh chấp, Trương Thúy Sơn lập tức tự ý viết ra ba hàng chữ mà từ lâu cố lão vẫn truyền. Thực ra, ngoài hai mươi bốn chữ này nếu bảo Trương Thúy Sơn viết những chữ khác, so sánh nét bút yếu mạnh, nông sâu sẽ thấy khác xa ngay.
Ân Tố Tố mừng quá, vỗ tay reo:
– Thế là ông thua, phải giữ lời nhé.
Tạ Tốn nhìn Trương Thúy Sơn nói:
– Trương ngũ hiệp đem võ học lồng vào thư pháp, mở ra một con đường mới, khiến cho người người phải mở to mắt, bội phục, bội phục. Ngũ hiệp có điều gì sai bảo, mau nói ra đi.
Bị bắt buộc phải vâng lời, y miễn cưỡng nói ra, trong lòng thật là thất vọng.
Trương Thúy Sơn nói:
– Vãn bối chỉ là kẻ mạt học hậu tiến, có chút nghề mọn, may được tiền bối khen ngợi, đâu dám nói chuyện ?sai bảo? chỉ cầu xin chấp thuận một việc thôi.
Tạ Tốn hỏi:
– Cầu chuyện gì thế?
Trương Thúy Sơn nói:
– Tiền bối lấy thanh đao Đồ Long này đem đi, nhưng tha cho mọi người trên đảo, chỉ bắt mọi người thề độc, không được tiết lộ bí mật.
Tạ Tốn đáp:
– Tôi đâu có ngu đến mức tin vào lời thề của người khác.
Ân Tố Tố nói:
– Hóa ra tiền bối nói nhưng lại chẳng giữ lời. Tiền bối nói nếu thua, sẽ nghe lời người ta sai bảo, sao bây giờ lại không chịu?
Tạ Tốn nói:
– Tôi không giữ lời thì làm gì được tôi?
Nhưng nghĩ lại y thấy mình nói vậy thật là ngang ngược, nên nói:
– Tính mệnh hai người thì tôi tha cho, người khác thì không được.
Trương Thúy Sơn nói:
– Hai kiếm sĩ của phái Côn Lôn là danh gia đệ tử, trước nay chưa làm điều gì ác ?
Tạ Tốn bịt mồm chàng lại nói:
– Cái gì mà điều ác điều lành, dưới mắt ta không có gì khác nhau cả. Hai người mau xé vải áo, nút chặt lỗ tai, lấy hai tay bịt thêm bên ngoài. Nếu muốn sống thì đừng có sơ hở.
Mấy câu đó y nói thật nhỏ tựa hồ sợ người khác nghe thấy. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đưa mắt nhìn nhau, không biết y nói thế là nghĩa gì, nhưng thấy y nói hết sức trịnh trọng, ắt bên trong có duyên cớ, đành làm theo lời xé vạt áo nhét vào trong tai, lại lấy hai tay bịt chặt.
Đột nhiên Tạ Tốn há mồm to, dường như cất tiếng hú. Hai người tuy không nghe rõ, nhưng không hẹn mà cùng giật nảy mình. Tất cả mọi người trong Thiên Ưng giáo, Cự Kình bang, Hải Sa phái, Thần Quyền môn, người nào người nấy há mồm lè lưỡi, mặt lộ vẻ kinh ngạc, rồi biến ngay thành thống khổ có vẻ như chịu không nổi, không khác gì đang chịu tra tấn. Qua một lát nữa, từng người từng người lăn ra đất, co quắp quằn quại.
Cao Tưởng hai người của phái Côn Lôn sau khi kinh hoảng liền ngồi xuống xếp bằng nhắm mắt vận nội công chống lại với tiếng hú. Hai người trên trán từng hạt mồ hôi to bằng hạt đậu rơi xuống như mưa, các bắp thịt mặt liên tiếp giựt giựt, mấy lần cố đưa tay che tai, nhưng tay đến còn cách vành tai chừng vài tấc, lại phải bỏ xuống. Đột nhiên cả hai người cùng nhảy vọt lên cao đến hơn một trượng, rơi bịch xuống đất nằm bất động.
Tạ Tốn ngậm miệng ngừng hú, ra hiệu cho Trương Ân hai người lấy vải ra khỏi tai, nói:
– Những người này nghe tiếng hú của tôi, tất cả đều bất tỉnh, nhưng sẽ không ai chết. Có điều khi tỉnh lại rồi, thần trí sẽ thác loạn, thành người điên, không còn suy nghĩ được, và cũng không còn nhớ gì những chuyện đã qua. Trương ngũ hiệp, điều ngũ hiệp yêu cầu tôi là tha chết cho tất cả những người trên Vương Bàn Sơn đảo, tôi đã tha rồi.
Trương Thúy Sơn không đáp, nghĩ thầm: ?Ngươi tuy tha chết cho họ, nhưng những người này sống mà có khác gì đã chết, có khi giết họ đi lại còn đỡ tàn khốc hơn?. Lòng chàng đối với việc tàn độc của Tạ Tốn thật là căm hận, nhưng thấy bọn Cao Tắc Thành, Tưởng Đào nằm hôn mê la liệt, mặt mày vàng ệch, trông không còn là người, nghĩ bụng tiếng hú của y không thôi đã thần uy như thế, quả thực đáng sợ. Nếu như mình không biết trước lấy vải bịt tai, đến bây giờ không biết ra sao.
Tạ Tốn mặt mày thản nhiên, lạnh lùng nói:
– Thôi mình đi.
Trương Thúy Sơn hỏi:
– Đi đâu bây giờ?
Tạ Tốn đáp:
– Đi về. Việc trên đảo Vương Bàn Sơn đã xong rồi, ở lại đây làm gì?
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố hai người nhìn nhau, nghĩ thầm: ?Còn phải đi chung thuyền với tên ma đầu này một ngày một đêm, mười hai giờ đó, không biết còn những biến cố gì nữa??.
Tạ Tốn dẫn hai người đến sau một núi nhỏ ở phía tây hòn đảo. Ở đó có một cái vịnh đậu một chiếc thuyền ba cột buồm, chính là chiếc thuyền y dùng để đến đảo. Tạ Tốn đi đến bên cạnh thuyền, cúi mình nói:
– Mời hai vị lên thuyền.
Ân Tố Tố cười khẩy:
– Lúc này tiền bối sao khách sáo quá nhỉ.
Tạ Tốn đáp:
– Hai vị là khách quí đến thuyền của tôi, sao lại không tiếp đãi cho đủ lễ nghĩa?
Ba người lên thuyền xong, Tạ Tốn đưa tay ra lệnh cho thủy thủ nhổ neo giong thuyền ra. Trên thuyền có đến mười sáu, mười bảy thủy thủ, nhưng người cầm lái ra lệnh gì, cũng đều giơ tay vạch chân, không nói một tiếng, dường như ai ai cũng đều câm cả. Ân Tố Tố nói:
– Tiền bối quả thực là hay, kiếm sao được cái thuyền toàn người vừa câm vừa điếc.
Tạ Tốn cười nhạt, đáp:
– Cái đó có gì khó đâu, tôi chỉ tìm một thuyền mà tất cả thủy thủ đều không biết chữ, chọc điếc tai họ, sau đó bắt họ uống thuốc câm, thế là xong.
Trương Thúy Sơn bỗng thấy rởn gai ốc. Ân Tố Tố vỗ tay cười:
– Hay thật là hay, vừa câm vừa điếc, dù ông có bí mật gì, họ cũng không tiết lậu cả. Tiếc rằng họ còn phải lái thuyền, nếu không mắt họ cũng đâm mù luôn thể.
Trương Thúy Sơn lườm nàng, trách:
– Ân cô nương, một cô gái như cô, cớ sao tàn nhẫn đến thế? Đây là một đại thảm sự ở nhân gian, có gì đáng cười đâu?
Ân Tố Tố lè lưỡi, toan biện bạch, nhưng vừa định nói ra, nhìn lại sắc mặt chàng, vội ngừng lại. Tạ Tốn thản nhiên nói:
– – Sau này về đại lục, lúc đó tôi sẽ đem tất cả bọn họ chọc mù mắt.
Trương Thúy Sơn liếc nhìn những người chèo thuyền, trong bụng thương cảm: ?Chỉ một ngày một đêm nữa, đến đôi mắt các người cũng không còn?.
Buồm kéo lên, mũi thuyền từ từ chuyển qua. Trương Thúy Sơn nói:
– Tạ tiền bối, những người còn ở trên đảo thì sao? Bao nhiêu thuyền bè đều bị ông hủy hết rồi, họ về bằng gì?
Tạ Tốn đáp:
– Trương tướng công, việc ông nghĩ quả không sai. Thế nhưng có điều không nên nghĩ đông nghĩ tây nhiều quá. Cứ để cho họ ở trên đảo tự sống tự lo, ra sao thì ra, không hơn ư?
Trương Thúy Sơn biết y là người không thể đem lý mà nói cho nghe, đành ngồi yên, thấy thuyền mỗi lúc một xa hòn đảo, nghĩ thầm: ?Trên đảo tuy phần lớn là người tác ác đa đoan, nhưng gặp cảnh đó thật là thảm thiết, nếu không ai đến cứu, e rằng trong vòng mười ngày là chết hết?.
Chàng lại nghĩ tiếp: ?Hai đệ tử của phái Côn Lôn chết trên đảo, sư trưởng của họ thể nào chẳng đi tìm, rồi ra võ lâm trung nguyên chỉ ngày một ngày hai sẽ gặp cơn sóng gió?.
Trong những năm qua, Võ Đương thất hiệp tung hoành giang hồ, mọi việc đều chiếm thượng phong, thế mà hôm nay đành chịu thúc thủ, mạng sống nằm trong tay người khác, không có cách nào phản kháng. Trương Thúy Sơn càng nghĩ càng buồn, lại càng tức tối, đành cúi đầu suy nghĩ, không lý gì đến Tạ Tốn và Ân Tố Tố nữa.
Một lát sau, chàng ngửng lên nhìn qua cửa sổ xem phong cảnh biển cả, thấy mặt trời sắp chìm vào những đợt sóng, chiếu lên mặt biển thành nghìn vạn con rắn lập lòe chạy lăng quăng. Chàng còn đang xuất thần, bỗng dưng giật mình: ?Tịch dương sao lại lặn ở phía sau thuyền??. Chàng quay đầu lại nói với Tạ Tốn:
– Người lái đi sai hướng rồi, thuyền của chúng ta đang đi về hướng đông.
Tạ Tốn đáp:
– Thì hướng đông, không sai đâu.
Ân Tố Tố kinh hãi hỏi:
– Hướng đông là biển cả mênh mông, mình đi đâu bây giờ? Sao ông không bảo tài công chuyển hướng?
Tạ Tốn đáp:
– Tôi không nói trước với hai vị rồi ư? Tôi được thanh đao Đồ Long rồi, sẽ đi tìm một nơi thanh tĩnh, để suy nghĩ một thời gian, tìm hiểu xem vì đâu con đao này được gọi là võ lâm chí tôn, làm sao lại hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng. Trung nguyên đại lục là nơi nhiều rắc rối, nếu người ta biết tôi có bảo đao, hôm nay có kẻ đến tìm cách đoạt, ngày mai có kẻ đến ăn cắp, cứ lo việc đánh đuổi họ cũng thật là nhiêu khê, làm sao còn tĩnh tâm được? Nếu như người đến tìm lại là cao thủ như Trương Tam Phong tiên sinh hay Thiên Ưng giáo giáo chủ, họ Tạ đâu đã chắc gì thắng. Thành thử tôi phải đi ra ngoài biển khơi, tìm một hòn đảo nào không có dấu chân người để ở.
Ân Tố Tố đáp:
– Vậy tiền bối đưa chúng tôi về trước vậy.
Tạ Tốn cười:
– Các ngươi về đến trung nguyên, hành tàng của tôi bị lộ rồi còn gì?
Trương Thúy Sơn nhỏm người dậy, sẵng giọng:
– Thế ông định sao đây?
Tạ Tốn đáp:
– Chỉ còn cách buộc hai vị ở trên hoang đảo đó với tôi sống một đời tiêu dao khoái hoạt.
Trương Thúy Sơn nói:
– Thế lỡ mười năm, tám năm ông chưa tìm ra bí mật trong thanh đao thì sao?
Tạ Tốn cười đáp:
– Thì các người đành ở trên đảo với tôi mười năm, tám năm, ngày nào tôi nghĩ chưa ra, thì còn ở thêm một ngày. Hai vị trai tài gái sắc, tình đầu ý hợp, ở trên đảo kết thành vợ chồng, sinh con đẻ cái, không hay lắm sao?
Trương Thúy Sơn giận quá, vỗ bàn quát lên:
– Ông không được nói nhăng nói cuội.
Chàng liếc qua, thấy Ân Tố Tố thẹn thùng cúi đầu, hai má đỏ bừng. Trương Thúy Sơn trong lòng kinh hãi, chàng có linh cảm rằng nếu cùng Ân Tố Tố ở bên nhau lâu, e rằng mình khó lòng tự chế. Tạ Tốn là một cường địch, cái tâm viên ý mã trong lòng mình cũng là một cường địch, quả thực bốn bề đều đầy rẫy nguy cơ, làm sao thoát ra khỏi càng sớm càng tốt. Nghĩ thế chàng bèn cố nén lửa giận, nói:
– Tạ tiền bối, tại hạ là người nói biết giữ lời, quyết không tiết lộ hành tung của tiền bối. Bây giờ tôi sẽ lập trọng thệ, quyết không nói cho ai biết những gì trông thấy, nghe thấy ngày hôm nay.
Tạ Tốn nói:
– Trương ngũ hiệp là hiệp nghĩa danh gia, một lời đáng nghìn vàng, nặng như non, trên chốn giang hồ đã nghe từ lâu. Thế nhưng họ Tạ này hồi hai mươi tám tuổi đã có một lời nguyền, các người coi ngón tay tôi thì biết.
Nói rồi đưa bàn tay trái ra, Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố thấy ngón tay út đã bị chặt đứt, chỉ còn lại bốn ngón tay. Tạ Tốn chậm rãi nói tiếp:
– Vào năm đó, một người mà tôi sùng kính nhất, yêu kính nhất đã làm nhục tôi, làm cho tôi nhà tan người chết, cha mẹ vợ con, chỉ một đêm chết hết không còn một ai. Vì thế tôi chặt tay lập thệ, ngày nào họ Tạ này còn sống, quyết không tin một người nào. Năm nay tôi bốn mươi mốt tuổi, mười ba năm qua tôi chỉ làm bạn với cầm thú, tôi tin cầm thú mà không tin người. Mười ba năm qua, tôi giết người nhiều hơn giết cầm thú.
Trương Thúy Sơn cảm thấy rởn gai ốc, mới biết tại sao y mang võ công tuyệt thế nhưng trên chốn giang hồ chẳng nghe tên tuổi, chẳng nghe nói tới. Cái thảm sự y gặp phải hồi trẻ hẳn ít thấy trên trần gian này, nên mới chán đời, sống xa trần tục, coi mọi người là kẻ thù như thế. Chàng vốn thống hận sự tàn ác, bạo ngược của Tạ Tốn vô cùng, nhưng giờ nghe y nói như thế, không khỏi dâng lên một nỗi đồng tình, trầm ngâm giây lát, nói:
– Tạ tiền bối, thâm thù đại hận của ông chắc đã báo phục rồi.
Tạ Tốn đáp:
– Chưa được. Người hại tôi võ công rất cao, tôi chưa thắng được y đâu.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố hai người không hẹn mà cùng ?Ồ? lên một tiếng, nói:
– Còn giỏi hơn ông ư? Người đó là ai thế?
Tạ Tốn đáp:
– Việc gì tôi phải nói tên y ra để thêm nhục? Nếu không vì cái thâm cừu đại hận đó, tôi đâu phải đi cướp thanh đao Đồ Long làm chi? Việc gì mà phải khổ sở nghĩ cho ra bí mật của thanh đao này? Trương tướng công, tôi mới gặp ông đã thấy hợp tính, nếu không cứ như tính tình bình thường của tôi, quyết không để ngũ hiệp sống đến giờ phút này. Tôi để cho hai người sống thêm một thời gian nữa, thế đã là phá lệ rồi, e rằng sẽ có chuyện không hay.
Ân Tố Tố hỏi:
– Sao lại sống thêm một thời gian nữa?
Tạ Tốn thản nhiên đáp:
– Đợi đến khi tôi tìm ra bí mật trong thanh đao Đồ Long rồi, trước khi rời đảo tôi sẽ giết hai người. Tôi tìm ra chậm một ngày, hai người sống thêm một ngày.
Ân Tố Tố nói:
– Hừ, thanh đao này bất quá nặng nề sắc bén, lửa nung không chảy thôi, chứ bên trong có gì bí mật đâu? Cái chuyện ?hiệu lệnh thiên hạ, mạc cảm bất tòng? chẳng qua chỉ là nói đến việc thanh đao này là món binh khí đứng đầu thiên hạ, không gì sánh được mà thôi.
Tạ Tốn thở dài:
– Nếu đúng là như thế, ba người mình sẽ phải ở trên hoang đảo một thời gian lâu.
Bỗng nhiên mặt y đổi thành sầu thảm, tuyệt vọng, dường như e rằng câu nói của Ân Tố Tố rất có thể là sự thực, xem ra việc báo thù cả đời không sao thành được. Trương Thúy Sơn thấy thần sắc y như thế, nhịn không nổi toan nói vài câu an ủi. Nào ngờ Tạ Tốn phẩy tay một cái, thổi tắt ngọn nến, nói:
– Thôi đi ngủ.
Y thở dài, trong âm thanh bao hàm nỗi thống khổ vô cùng vô tận, nỗi tuyệt vọng vô biên vô tế, tưởng đâu không phải tiếng người, mà là tiếng kêu của một con thú bị thương sắp chết. Tiếng than đó lẫn với tiếng sóng biển ỳ ầm bên ngoài, Trương Ân hai người nghe mà không khỏi rùng mình.
Gió từ ngoài theo cửa khoang thổi vào, Ân Tố Tố áo quần mỏng mảnh, một lát sau dần dần chịu không nổi nên run rẩy. Trương Thúy Sơn hạ giọng hỏi:
– Ân cô nương, cô lạnh phải không?
Ân Tố Tố đáp:
– Chưa sao.
Trương Thúy Sơn cởi áo dài, nói:
– Cô khoác lên người đi.
Ân Tố Tố trong lòng cảm kích, nói:
– Không cần đâu. Anh cũng lạnh mà.
Trương Thúy Sơn đáp:
– Tôi chịu lạnh được.
Nói rồi đem trường bào đặt vào tay nàng. Ân Tố Tố cầm lấy khoác lên vai, thấy áo còn hơi ấm của Trương Thúy Sơn, cảm thấy ngọt ngào êm dịu, trong bóng đêm nàng bất giác mỉm cười.
Trương Thúy Sơn lại chỉ nghĩ kế thoát thân, nghĩ đi nghĩ lại chỉ còn một đường: ?Không giết Tạ Tốn không thể thoát được?. Chàng lắng tai nghe, bên cạnh tiếng ỳ ào ầm ầm của sóng biển, chàng nghe tiếng thở ngưng trọng của Tạ Tốn, hiển nhiên y đã ngủ say, nghĩ thầm: ?Người này lập trọng thệ, trên đời quyết chẳng tin ai, nhưng sao y cùng mình đi chung một thuyền, sao vẫn yên tâm nằm ngủ, chẳng lẽ y không sợ ta hạ thủ gia hại sao? Nhưng dầu sao chăng nữa, mình cũng phải mạo hiểm tấn công. Nếu trì hoãn, suốt cuộc đời còn lại mình sẽ phải ở chung với y tại một hoang đảo?.
Chàng len lén đến bên cạnh Ân Tố Tố, định ghé tai nói nhỏ mấy câu, nào ngờ ngay lúc đó Ân Tố Tố lại quay đầu. Hai người đụng phải nhau, môi của Trương Thúy Sơn để ngay lên má bên phải của nàng.
Trương Thúy Sơn giật mình kinh hãi, định biện bạch vài lời để nàng biết không phải mình có ý khinh bạc, nhưng chưa biết nói sao. Ân Tố Tố trong lòng thật vui sướng, liền nghiêng đầu tựa ngay lên vai chàng, cảm thấy biết bao êm đềm ngọt ngào, mong sao con thuyền này cứ đi mãi, đi mãi trên biển cả không bao giờ tới bến, dù có cả trăm năm cũng được. Bỗng nàng thấy Trương Thúy Sơn ghé tai nói nhỏ:
– Ân cô nương, cô đừng giận tôi nhé.
Ân Tố Tố đã thẹn đến mặt đỏ như một đóa phù dung, cũng hạ giọng:
– Được chàng để ý tới, em thật hài lòng.
?Nàng tuy hành sự muốn gì làm nấy, giết người không chớp mắt, nhưng trong ái tình, cũng nào có khác chi những cô gái biết yêu lần đầu. Lòng nàng vừa mừng vừa lo, vừa lúng túng vừa hoảng loạn, nếu không phải trong đêm tối, chắc nàng không dám nói ra câu đó.
Trương Thúy Sơn sựng người, không ngờ câu xin lỗi của mình, lại khiến nàng thổ lộ chân tình. Ân Tố Tố kiều diễm không ai sánh kịp, mới gặp nhau một lần nàng đã đối với mình đầy tình ý, bây giờ chỉ trong chín chữ, đã nói lên hết cái tấm lòng yêu thương. Trương Thúy Sơn đang tuổi thanh xuân, tuy biết tự chế trong lễ nghĩa, nhưng đâu có phải là gỗ đá gì, thấy thân hình mềm mại của nàng tựa trên vai mình, mùi thơm dịu dàng ngây ngất xông lên mũi, đang định nói vài lời tình tứ, bỗng chợt nghĩ: ?Trương Thúy Sơn ơi, đại địch ngay trước mắt, sao lại không lo đến? Lời dạy bảo của ân sư, không lẽ quên hết sạch rồi sao? Dẫu cho nàng với ta ý tình tương hợp, nàng lại là ân nhân của tam ca chăng nữa, nhưng dẫu sao cũng xuất thân tà giáo, hành vi bất chính, có muốn lấy nàng cũng phải bẩm rõ lên sư phụ, nếu được lão nhân gia thuận rồi, nhờ người mai mối, chứ đâu có ở nơi tối tăm này, làm điều sằng bậy được??. Chàng nghĩ đến đây, liền thẳng người lên, nói nhỏ:
– Hai đứa mình phải nghĩ cách chế ngự người này, tìm cách thoát thân mới được.
Ân Tố Tố trong lòng đang mê man say đắm, bỗng nghe chàng nói, không khỏi ngơ ngẩn, hỏi lại:
– Sao thế?
Trương Thúy Sơn hạ giọng:
– Hai đứa mình đang ở trong cảnh tuyệt hiểm, nếu như đương khi y ngủ ra tay ám kích, không phải là hành vi đại trượng phu. Chi bằng để anh gọi y dậy, cùng y đấu chưởng lực, em ném kim châm đả thương y. Lấy hai địch một, tuy có thắng cũng không thượng võ, nhưng mình so với y chênh lệch quá xa, đành phải cách ấy thôi.
Câu nói đó chàng nói khẽ như tiếng muỗi vo ve, miệng lại ghé tận sát tai Ân Tố Tố, nào ngờ Ân Tố Tố chưa trả lời, Tạ Tốn ở phía sau khoang đã cười ha hả, nói:
– Nếu ngươi bất ngờ ra tay đánh lén, mặc dù họ Tạ này đâu có để cho ai thâu tập, nhưng cũng còn một chút hi vọng, bây giờ lại muốn ra tay theo đường quang minh chính đại, bảo toàn tiếng danh môn hiệp nghĩa của môn phái, thì chỉ có chuốc lấy khổ vào thân thôi.
Tiếng ?thôi? vừa dứt, thân hình y lắc một cái, đã đến ngay trước mặt Trương Thúy Sơn, vung chưởng đánh ngay vào ngực chàng.
Trương Thúy Sơn khi đang nghe y nói đã ngưng tụ chân khí, ám vận nội công, khi chưởng của y vừa đánh ra lập tức giơ chưởng phải, dùng sư môn tâm truyền Miên Chưởng chống lại, hai chưởng đụng nhau, chỉ nghe bộp một tiếng nhỏ, chưởng lực bài sơn đảo hải của đối phương đã ào tới. Trương Thúy Sơn biết Tạ Tốn công lực hơn mình xa lắc, nên đã dự định chỉ thủ mà không công, được phút nào hay phút đó. Vì thế hai người chưởng lực đụng nhau, chưởng của chàng bị đẩy lùi lại đến tám tấc. Tám tấc sai biệt đó, lại khiến cho chàng thủ ngự càng dễ dàng hơn, dù Tạ Tốn vận kình thế nào, nhất thời vẫn không phá được chưởng lực phòng ngự của Trương Thúy Sơn.
Tạ Tốn liên tiếp đẩy ra ba luồng lực đạo, chỉ cảm thấy chưởng lực của đối phương so với mình yếu hơn nhiều, thế nhưng yếu mà không suy, nhẹ mà không kiệt, chưởng lực của y càng đánh ra càng mạnh, nhưng Trương Thúy Sơn vẫn chống đỡ được.
Tạ Tốn lại đưa tay trái ra, nhắm ngay đỉnh đầu Trương Thúy Sơn ép xuống. Trương Thúy Sơn tay trái co lại, dùng chiêu ?Hoành Giá Kim Lương?[2] đỡ lấy. Võ công của phái Võ Đương sử dụng cốt dùng mềm mại, khít khao làm sở trường, so với phái khác không đâu sánh kịp, hai người tuy công lực hơn kém nhau xa, nhưng Trương Thúy Sơn vận dụng sư môn tâm pháp, trong nhất thời Tạ Tốn chưa làm gì chàng được.
Hai người đấu chưởng một hồi, Trương Thúy Sơn mồ hôi chảy xuống như mưa, toàn thân ướt đẫm, trong bụng kêu thầm: ?Sao Ân cô nương giờ này còn chưa ra tay? Y lúc này đang hết sức tấn công ta, nếu Ân cô nương dùng kim châm bắn vào các huyệt đạo của y, dù không hạ được thì y cũng phải thu chưởng chống đỡ, chỉ cần một chớp mắt là y sẽ bị trúng chưởng của ta, bị thương ngay?.
Sự việc đó Tạ Tốn đã nghĩ tới, y vẫn tưởng rằng nếu Trương Thúy Sơn bị cả hai chưởng của y cùng đánh một lượt sẽ bị trọng thương ngay, nào ngờ tuổi chàng tuy còn trẻ, nhưng nội công tài nghệ lại không phải bình thường, chống đỡ được đến hết một tuần trà rồi mà chưa núng thế. Hai người tỉ đấu chưởng lực, nhưng cũng vẫn nghe ngóng động tĩnh của Ân Tố Tố. Trương Thúy Sơn ngưng khí ở ngực, không dám mở miệng gọi nàng. Tạ Tốn thì không đến nỗi đó, y nói:
– Tiểu cô nương, cô không ra tay là khôn, nếu không ta biến chưởng thành quyền, một quyền đánh ra, ý trung nhân của cô sẽ đứt hết gân cốt.
Ân Tố Tố nói:
– Tạ tiền bối, chúng tôi bằng lòng đi theo ông, ông thu chưởng lại đi.
Tạ Tốn nói:
– Trương tướng công, ngươi nghĩ sao?
Trương Thúy Sơn càng thêm nóng ruột, trong bụng kêu thầm: ?Bắn ngân châm, bắn ngân châm, cái dịp may ngàn năm một thuở này, sao không bắt lấy??. Ân Tố Tố vội nói:
– Tạ tiền bối mau thu chưởng lại đi, nếu không tôi sẽ thí mạng đó.
Tạ Tốn kỳ thực cũng sợ Ân Tố Tố bất ngờ ra tay dùng ngân châm bắn lén, trong khoang thuyền chật hẹp, châm lại nhỏ bé, trong đêm tối bắn ra không hình không bóng, không tiếng động, không dễ gì tránh né, dù y có lập tức chưởng lực tống ra, đánh chết Trương Thúy Sơn, cũng không kịp. Y nghĩ thầm: ?Tiểu cô nương này kinh khiếp uy thế của ta, không dám xuất thủ, chứ trong tình cảnh này, có lẽ cả ba người cùng chết cả? bèn nói:
– Nếu hai người không có ý khác, ta có thể tha mạng cho được.
Ân Tố Tố đáp:
– Không, chúng tôi không có ý khác đâu.
Tạ Tốn nói:
– Vậy cô thay y thề đi.
Ân Tố Tố trầm ngâm, nói:
– Trương ngũ ca, hai đứa mình không phải là địch thủ của Tạ tiền bối, thôi mình đi theo ông ta ra hoang đảo ở vài tháng, một năm. Bằng trí tuệ thông minh của ông ấy, việc tìm ra bí mật của thanh đao này không phải là khó, để em thay anh lập lời thề nhé.
Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Lập lời thề quỉ gì? Mau bắn kim châm, bắn kim châm đi?. Thế nhưng khổ nỗi chàng không thể mở miệng, trong đêm tối không cách gì ra hiệu cho nàng, huống chi cả hai tay đều dính chặt vào tay đối phương, có muốn ra hiệu cũng không được.
Ân Tố Tố trước sau không nghe Trương Thúy Sơn nói một lời nào, nên nói:
– Chúng tôi Ân Tố Tố và Trương Thúy Sơn quyết ý theo Tạ tiền bối sống trên hoang đảo cho đến khi tìm ra bí mật của đao Đồ Long mới thôi. Nếu hai người chúng tôi có dị tâm, xin chết dưới đao kiếm.
Tạ Tốn cười:
– Chúng ta là người học võ, chết dưới đao kiếm có gì là lạ đâu?
Ân Tố Tố nghiến răng, đáp:
– Được rồi, vậy thì tôi không sống đến hai mươi.
Tạ Tốn cười ha hả, thu chưởng lực về.
Trương Thúy Sơn toàn thân lực khí mất hết, ngã bịch xuống sàn thuyền. Ân Tố Tố vội vàng đánh lửa thắp đèn lên, thấy chàng mặt vàng như nghệ, hơi thở yếu ớt, trong lòng kinh hoảng, lấy vội chiếc khăn tay trong bọc ra, lau mồ hôi mặt mũi cho ý trung nhân.
Tạ Tốn cười nói:
– Đệ tử phái Võ Đương, quả thật danh bất hư truyền, giỏi thật là giỏi.
Trương Thúy Sơn đang giận Ân Tố Tố làm mất cơ hội bằng vàng, không phát xạ ngân châm đả thương địch, nhưng thấy nàng nước mắt chạy quanh, mặt đầy lo lắng, quả thực đối với mình chí tình, trong lòng nổi lên mối cảm kích, thở dài một tiếng, toan nói vài lời trấn an, bỗng thấy mắt tối sầm, trong cơn mê man còn nghe loáng thoáng tiếng Ân Tố Tố kêu lên:
– Họ Tạ kia, ngươi đánh chết Trương ngũ ca, ta quyết sống chết với ngươi.
Tạ Tốn chỉ cười ha hả.
Đột nhiên thân hình Trương Thúy Sơn chao qua một bên, lăn đi mấy vòng, rồi có tiếng Tạ Tốn, Ân Tố Tố cùng kêu lên thất thanh, trong tiếng người có lẫn tiếng gió rít lên vù vù, tiếng sóng ầm ầm, tưởng như hàng trăm, hàng nghìn làn sóng cùng đổ ập tới. Trương Thúy Sơn thấy toàn thân ướt đẫm, mồm mũi đầy nước mặn, đang mê man, bị nước lạnh tạt vào, lập tức tỉnh lại. Ý nghĩ đầu tiên đến với chàng là: ?Bộ đắm thuyền hay sao??. Chàng không biết bơi nên trong lòng hoảng hốt, vội vàng cố gắng đứng lên. Dưới chân ván thuyền chao qua bên trái, nước trong thuyền hắt cả ra ngoài, nhưng cuồng phong vẫn hú lên, chung quanh vẫn toàn là nước biển. Chàng chưa hiểu chuyện gì, bỗng nghe Tạ Tốn quát lên:
– Trương Thúy Sơn, mau ra sau thuyền giữ tay lái.
Câu đó tiếng vang vọng như sấm rền, tuy trong khi gió to sóng cả, vẫn đầy vẻ uy nghiêm. Trương Thúy Sơn không kịp suy nghĩ, nhảy ra sau thuyền, chỉ thấy thoáng một bóng đen bay lên, một thủy thủ đã bị hất ra ngoài biển khơi, xa đến mấy trượng, bị những làn sóng cuốn mất hút.
Trương Thúy Sơn chưa đến được đầu thuyền, đã bị một làn sóng khác ập đến. Làn sóng đó chẳng khác gì một bức tường nước, chỉ nghe ầm một tiếng lớn đã cuốn văng hết những mảnh ván thuyền. Lúc này võ công một đời cần luyện của Trương Thúy Sơn mới có dịp dùng, hai chân bám chặt trên mặt thuyền chẳng khác gì đóng đinh vào ván, không lay chuyển chút nào. Đợi đến lúc sóng qua đi, chàng chuyển qua tiễn bộ đã tiến sát đuôi thuyền, giơ tay giữ chặt tay lái.
?Lại nghe những tiếng chí chát liên hồi, đó là Tạ Tốn dùng lang nha bổng quật ngang, đánh gãy cột buồm chính và cột buồm phía trước. Hai cột buồm đó mang theo hai cánh buồm rơi luôn xuống biển. Thế nhưng gió quá lớn, lúc này tuy chỉ còn cột buồm ở sau đuôi còn căng gió, thuyền cũng vẫn nghiêng qua ngả lại, trồi hụp quay cuồng trên mặt biển.
Tạ Tốn cố hết sức để kéo tấm buồm đó xuống, thế nhưng dù thân mang tuyệt thế võ công, nhưng trước cái uy của đất trời, cũng đành bó tay. Chiếc buồm đó bị gió thổi qua, nghiêng đến đụng mặt nước, Tạ Tốn ngoạc mồm chửi:
– Giặc trời già, thổi gió gì dữ vậy.
Xem chừng nếu còn do dự, thuyền sẽ lật úp, y đành phải giơ lang nha bổng đánh gãy nốt cái cột buồm còn lại.
Ba cái cột buồm đều gãy cả rồi, con thuyền này trong sóng to gió cả biến thành một hồn ma vô định, chỉ theo gió mà trôi. Trương Thúy Sơn kêu lớn:
– Ân cô nương, cô đang ở đâu?
Chàng kêu luôn mấy lần, không nghe tiếng trả lời, kêu đến lần sau cùng, trong thảm thiết dường như lẫn tiếng nghẹn ngào. Bỗng dưng từ đâu có một bàn tay vịn vào đầu gối chàng, rồi một ngọn sóng lớn ào qua đầu, trong khối nước biển có người ôm chặt lấy ngang lưng.
Khi làn sóng đã qua khỏi mặt thuyền, người trong lòng chàng đưa tay níu cổ, êm ái nói:
– Trương ngũ ca, anh nhớ em đến thế sao?
Chính là tiếng của Ân Tố Tố. Trương Thúy Sơn mừng quá, tay phải giữ lái, đưa tay trái ra ôm chặt lấy nàng, thốt lên:
– Tạ trời tạ đất.
Trong lòng chàng vừa sợ vừa mừng, tự nhủ: ?Nàng đang ở bên cạnh ta đây, nàng không rơi xuống biển?. Trong thời khắc mà bất cứ lúc nào cũng có thể bị sóng to gió cả vùi dập xuống biển khơi, sự sống và sự chết chỉ cách nhau gang tấc, Trương Thúy Sơn mới nhận ra rằng, sự quan hoài của chàng với Ân Tố Tố còn nhiều hơn an nguy của chính mình.
Ân Tố Tố nói:
– Trương ngũ ca, hai đứa mình chết chung với nhau.
Trương Thúy Sơn nói:
– Đúng thế, Tố Tố, hai đứa mình chết chung với nhau.
Nếu ở vào cảnh ngộ thông thường, chính tà khác biệt, bao điều xa cách, dù có bụng yêu thương nhau, cũng không thể nào trong giây lát hai lòng như một. Vào lúc này hai người ôm chặt lấy nhau, chung quanh trời tối đen như mực, thân thuyền răng rắc không ngừng, bất cứ lúc nào cũng có thể vỡ nát, nhưng trong lòng lại cực kỳ êm đềm, ngọt ngào, vui sướng. Trương Thúy Sơn đối chưởng với Tạ Tốn một phen, tinh lực hao tổn gần hết, nhưng giờ đây được cái ân tình ôn nhu của Ân Tố Tố kích động, tinh thần phấn chấn, dù cho bốn bề sóng to gió cả, chàng vẫn giữ vững tay lái, không hề dao động.
Tất cả những thủy thủ câm điếc đã bị rơi xuống biển, mà cuồng phong bạo vũ cứ đến là đến, không hề có một dấu hiệu gì báo trước. Thì ra dưới đáy biển đột nhiên có động đất, lại thêm những dòng hải lưu kích động nên sinh giông bão, nếu Tạ Tốn và Trương Thúy Sơn không phải là những người mang hãn hữu võ công, làm sao chịu nổi. Cũng may chiếc thuyền này rất kiên cố, nên tuy nóc khoang, ván thuyền đã bị vỡ tan trôi mất, thân thuyền vẫn không sao.
Trên đầu mây đen vẫn mù mịt, mưa xuống như trút, bốn bên sóng biển như những ngọn núi lớn, còn nói gì phân biệt đâu là đông tây nam bắc. Kỳ thực dù có biện được phương hướng, cột buồm đã gãy, họ cũng không sao lái được thuyền đi được.
Tạ Tốn đi xuống phía sau, nói:
– Trương huynh đệ, may là có ngươi. Thôi để ta lái thay, hai người vào khoang nghỉ một chốc.
Trương Thúy Sơn đứng lên giao lại tay lái cho y, nắm tay Ân Tố Tố vừa định bước đi, bỗng một cơn sóng ở đâu ào tới, hất văng hai người ra ngoài. Ngọn sóng đó đến thật đột ngột, hai người không sao phòng bị kịp.
Trương Thúy Sơn vừa cảm thấy kinh hoàng thân hình đã tung vọt lên không, lúc rơi xuống, dưới chân là sóng biển sâu tít rồi, chỉ còn kịp vung tay chộp lấy cổ tay Ân Tố Tố, trong lòng gợn lên một ý nghĩ : ?Mình sẽ cùng nàng chết trong lòng biển cả, bất khả phân ly?.
Tay trái chàng vừa nắm được tay Ân Tố Tố, thì bỗng đâu tay phải có một sợi dây thừng quấn chặt, thân hình hai người bay bổng ngược lên, vượt qua đầu sóng, quay trở lại thuyền. Thì ra Tạ Tốn kịp thời phát giác, cầm ngay sợi dây buộc buồm ở dưới chân, tung ra cuốn hai người kéo về. Chỉ nghe hai tiếng bình bình, Trương Ân đã rơi phịch xuống ván thuyền. Phen này chết đi sống lại, thật ra ngoài dự liệu của hai người, Tạ Tốn cũng kêu lên:
– May thật.
Nếu dưới chân y không có sẵn sợi dây buồm, dù tài ba gấp mười cũng không sao cứu được.
Trương Thúy Sơn đỡ Ân Tố Tố vào trong khoang, con thuyền lúc thì nhồi lên cao như trên đỉnh núi, lúc thì hụp xuống như rơi vào vực sâu, nhưng hai người vừa trải qua những giây phút nguy nan, không còn để ý tới cái cảnh trước mắt nữa. Ân Tố Tố nằm trong lòng Trương Thúy Sơn, ghé tai chàng nói:
– Trương ngũ ca, nếu hai đứa mình không chết, em muốn được mãi mãi lúc nào cũng ở bên cạnh chàng.
Trương Thúy Sơn tâm tình bồng bột, nói:
– Anh cũng đang muốn nói với em như thế, khắp thế gian này, chân trời đáy biển, lúc nào hai đứa mình cũng ở bên nhau.
Ân Tố Tố lòng mừng vô hạn, nhắc lại:
– Khắp thế gian này, chân trời đáy biển, lúc nào hai đứa mình cũng ở bên nhau.
Hai người má tựa vai kề, lòng thầm cảm tạ cơn giông bão định mệnh này. Thế nhưng về phần Tạ Tốn thì không ngớt kêu than, dù y võ công cao cường đến đâu, đối với mưa to gió lớn cũng không làm gì được, đành phải phó mặc cho trời, để đưa đâu thì đi, đến đâu thì đến.
Cơn giông đó kéo dài đến hơn ba giờ mới từ từ giảm xuống. Mây đen trên trời cũng dần dần tan đi, lộ ra vầng trăng. Trương Thúy Sơn đến chỗ lái thuyền, nói:
– Tạ tiền bối, đa tạ ông đã cứu mạng hai người chúng tôi.
Tạ Tốn lạnh lùng đáp:
– Câu nói đó e rằng còn quá sớm. Tính mạng ba người mình, chín phần mười còn nằm trong tay giặc trời già.
Trong đời Trương Thúy Sơn, chàng chưa nghe ai lại thêm chữ ?giặc? vào hai tiếng ?trời già?, nghĩ thầm người này hận đời, đến mức chẳng còn úy kỵ gì nữa, nhưng chỉ nghĩ lại, con thuyền nhỏ bé này lênh đênh trên biển cả mênh mông, xem chừng chưa thấy hi vọng gì. Chàng và Ân Tố Tố hai người hết dạ thương yêu, càng thêm lưu luyến cõi đời, khác gì rượu ngon rót vào chén ngọc, lại bị người khác lấy mất. Cái cảnh ngộ ?con tạo hóa đành hanh quá ngán? này, với tiếng chửi ?giặc trời già? của Tạ Tốn kia xem ra lại càng thấm thía.
Chàng thở dài một tiếng, tiếp lấy tay lái từ Tạ Tốn. Tạ Tốn cũng đã mệt nhọc hơn nửa ngày, liền vào trong khoang nằm nghỉ.
Ân Tố Tố ngồi bên cạnh Trương Thúy Sơn, ngửng đầu nhìn sao, theo cái cán chòm Bắc Đẩu, kiếm được sao Bắc Cực. Chiếc thuyền thuận theo dòng hải lưu, đi về phương bắc. Nàng nói:
– Ngũ ca, thuyền này không ngừng đi mãi về hướng bắc.
Trương Thúy Sơn nói:
– Đúng thế, tốt hơn hết phải quay ngược sang hướng tây, mình mới có hi vọng trở lại quê hương.
Ân Tố Tố thừ người một hồi, nói:
– Nếu như thuyền cứ đi mãi về hướng đông, không biết mình sẽ đến đâu.
Trương Thúy Sơn nói:
– Hướng đông là biển khơi vô tận, chỉ lênh đênh bảy tám ngày là mình hết nước uống ?
Ân Tố Tố mới hưởng phong vị ái tình, như say như mơ, không muốn nghĩ đến cái khổ đau chết chóc, nói:
– Nghe người ta nói rằng, biển đông có núi tiên, trên núi có các vị tiên trường sinh bất lão, không chừng mình sẽ đến được tiên đảo đó, gặp những tiên ông tiên bà hình dung đẹp đẽ ?
Nàng ngửng đầu nhìn giải Ngân Hà, nói tiếp:
– Không chừng thuyền cứ trôi mãi, đến được Ngân Hà, hai đứa mình sẽ thấy Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau trên cầu Ô Thước.
Trương Thúy Sơn cười đáp:
– Hai đứa mình sẽ tặng cho Ngưu Lang chiếc thuyền này, lúc nào y muốn gặp Chức Nữ, chỉ việc chèo thuyền qua sông, không phải đợi đến mồng bảy tháng bảy mỗi năm mới gặp được.
Ân Tố Tố nói:
– Mình đem thuyền cho Ngưu Lang, anh với em muốn gặp nhau, lấy gì mà đi?
Trương Thúy Sơn cười:
– Khắp thế gian này, chân trời đáy biển, lúc nào hai đứa mình cũng ở bên nhau. Nếu lúc nào cũng ở bên nhau rồi, còn việc gì mà phải qua Ngân Hà làm chi?
Ân Tố Tố cũng phá lên cười, mặt nàng tươi như hoa mới nở, nắm tay Trương Thúy Sơn, mơn man vuốt ve. Hai người tình như mật ngọt, dường như trong bụng biết bao những điều ân ái muốn nói cùng nhau, nhưng lại thấy không cần phải nói nên lời. Một lúc lâu sau, Trương Thúy Sơn nhìn xuống, thấy Ân Tố Tố nước mắt doanh tròng, trên mặt vương vương một nỗi buồn, vội hỏi:
– Em sao thế?
Ân Tố Tố cúi đầu nói nhỏ:
– Ở trên đời, nơi đáy biển, em được ở bên anh. Thế nhưng mai này mình chết đi, anh được lên trời, còn em … em … phải xuống địa ngục.
Trương Thúy Sơn nói:
– Lại nói lăng nói nhăng rồi.
Ân Tố Tố thở dài:
– Em biết chứ, trong đời em làm biết bao nhiêu điều ác, giết lung tung không kể ai với ai.
Trương Thúy Sơn kinh hãi, ngầm hiểu nàng là người lòng dạ tàn ác, với mình thực không phải là mối lương duyên, nhưng tình yêu đã sâu đậm, lại thêm trong cảnh chín chết một sống giữa biển khơi, hai người đâu có nghĩ gì đến chuyện mai sau. Chàng an ủi nàng:
– Từ nay trở đi em làm lành lánh dữ, tích thêm công đức cho dày vì người ta có câu: tri quá năng cải, thiện mạc đại yên.[3] Ân Tố Tố lặng thinh, một lúc sau, bỗng cất tiếng hát khúc ?Sơn Pha Dương[4]?:
– Chàng với em, em với chàng, hai đằng thương nhớ nhau. Oan gia ơi, sao lại kết nên mối duyên này, để khi chết xuống trước Diêm Vương, ông ấy bỏ mình vào cối giã, lấy cưa cưa đầu, ném vào vạc dầu. Sống mà làm tội, chết đi mang gông. Lửa đốt lông mày, quay đầu lại đi. Lửa đốt lông mày, quay đầu lại đi.[5] Bỗng từ khoang thuyền vọng ra Tạ Tốn nói lớn:
– Khúc hát hay lắm, hay lắm. Ân cô nương, so sánh cô với Trương tướng công giả nhân giả nghĩa kia, xem ra cô hợp ý tôi nhiều.
Ân Tố Tố đáp:
– Tiền bối và tôi đều là ác nhân, sau này thể nào cũng phải khổ.
Trương Thúy Sơn nói nhỏ:
– Nếu mai này em phải chịu khổ, anh cũng sẽ chịu khổ cùng với em.
Ân Tố Tố vừa mừng vừa sợ, chỉ kêu lên được một tiếng:
– Ngũ ca.
Rồi không nói thêm được nữa.
Hôm sau, khi trời mờ sáng, Tạ Tốn dùng lang nha bổng đánh được một con cá khoảng hơn mười cân. Đầu lang nha bổng có móc câu, dùng vào việc đánh cá thật là tiện lợi. Ba người đói đã hai ngày, tuy cá sống rất tanh, nhưng ăn vẫn thấy ngon lành. Trên thuyền không có nước uống, đành ép thịt cá lấy nước, tạm dùng cho đỡ khát.
Dòng nước biển tiếp tục chảy về hướng bắc, đưa con thuyền không ngừng tiến lên. Ban đêm, sao Bắc Cực ở đầu thuyền lấp lánh, mặt trời mọc ở phía tay phải, lặn về phía bên trái. Liên tiếp mười ngày như thế, con thuyền tuyệt nhiên không chuyển hướng.
Khí hậu mỗi ngày thêm lạnh, Tạ Tốn và Trương Thúy Sơn nội công thâm hậu, còn chịu được. Riêng Ân Tố Tố mỗi ngày thêm tiều tụy, Trương Tạ hai người đều cởi áo ngoài cho nàng mặc, nhưng cũng không đỡ được bao nhiêu. Trương Thúy Sơn thấy nàng gượng làm vui, cố gắng chịu đựng cái gió rét, trong lòng hết sức chua xót. Nếu con thuyền cứ tiếp tục đi thêm vài ngày nữa, Ân Tố Tố thể nào cũng chết cóng.
Thế nhưng cũng may trời còn thương, một hôm thuyền lạc vào một bầy hải cẩu. Tạ Tốn dùng lang nha bổng đánh chết mấy con, ba người lột da khoác lên người, thành một tấm áo cừu rất tốt. Thịt hải cẩu cũng ăn được, ai nấy đều hết sức sung sướng.
Chiều hôm đó, ba người ngồi ở sau thuyền ngắm trời. Ân Tố Tố cười hỏi:
– Cầm thú nào tốt nhất trên đời?
Cả ba cùng cười đáp:
– Hải cẩu.
Ngay lúc đó, bỗng nghe thấy mấy tiếng leng keng, loong coong, thật là thú vị. Ba người đều ngơ ngẩn, Tạ Tốn sắc mặt đại biến, nói:
– Băng nổi.
Y lấy lang nha bổng thọc xuống biển khoắng mấy cái, quả nhiên đụng phải những cục nước đá.
Tới lúc này, trong lòng ba người bỗng thấy lạnh lẽo, biết rằng nếu con thuyền tiếp tục ngày đêm trôi về hướng bắc, trời mỗi lúc một lạnh thêm, bây giờ trên biển chỉ là những cục băng nhỏ, càng về sau băng càng nhiều hơn, càng lớn hơn, thuyền sẽ bị kẹt trong băng giá, không di động được, là lúc cả ba đều chết.
Trương Thúy Sơn nói:
– Trong thiên Tiêu Dao Du sách Trang Tử có câu: ?Tại cực bắc có biển tối, là chỗ ao trời[6]?. Chúng mình chắc sẽ tới ao trời chăng.
Tạ Tốn nói:
– Chẳng phải ?thiên trì? mà chính là ?minh hải?, ?tử hải? đó.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố hai người nhìn nhau cười gượng. Đêm hôm đó, cả ba nghe tiếng băng chạm nhau leng keng không ngừng, chẳng ai ngủ được. Đến trưa hôm sau, những khối băng trên mặt biển đã bằng cái bát, đụng vào thuyền kêu lách cách. Tạ Tốn chua xót nói:
– – Tôi si tâm vọng tưởng, muốn đi tìm cái bí mật trong thanh đao Đồ Long này, ngờ đâu lại đến băng hải, làm băng nhân , mai mối cho hai người, quả là danh với thực giống nhau.
Ân Tố Tố mặt đỏ lên, đưa tay nắm lấy tay Trương Thúy Sơn.
Tạ Tốn cầm thanh đao Đồ Long lên, hậm hực nói:
– Thôi để ta cho mi xuống Long Cung, để mi giết con rồng bỏ mẹ nào ở dưới ấy.
Y toan ném thanh đao xuống biển, nhưng vừa định buông tay, nghĩ sao lại thở dài, sau cùng ném thanh đao vào trong khoang.
Thuyền đi lên hướng bắc thêm bốn ngày nữa, mặt biển đầy băng, có khối to bằng cái bàn, có cái bằng cái nhà nhỏ, ba người biết rằng tình thế không ổn, chẳng còn nghĩ đến chuyện sống chết nữa. Hôm đó, ngủ đến nửa đêm, bỗng nghe bình một tiếng lớn, chiếc thuyền rung chuyển thật mạnh. Tạ Tốn kêu lên:
– Hay lắm, được lắm, đụng phải băng sơn rồi.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố hai người nhìn nhau cười buồn, lập tức xích lại gần nhau, thấy dưới chân nước biển lạnh buốt từ từ dâng lên ngập đến bắp chân, hiển nhiên đáy thuyền đã vỡ. Lại nghe Tạ Tốn kêu lớn:
– Nhảy lên trên băng sơn đi, sống được thêm ngày nào tốt ngày nấy. Giặc trời già muốn ta chết sớm, ông không chịu xem mi làm gì được nào.
Trương Ân hai người nhảy lên đầu thuyền, dưới ánh trăng một tòa băng sơn chiếu sáng xanh chói lòa, trông thật là đẹp, nhưng cũng thật đáng sợ. Tạ Tốn đã đứng trên một khối băng hình thoi bên cạnh băng sơn, đưa lang nha bổng cho hai người níu lấy. Ân Tố Tố giơ tay kéo một cái, hai người cùng nhảy lên băng sơn.
Lỗ hổng dưới đáy thật lớn nên chỉ chừng xong một bữa cơm thuyền đã chìm xuống biển mất tăm mất tích. Tạ Tốn lấy hai mảnh da hải cẩu trải xuống mặt băng, ba người sóng vai ngồi xuống. Tòa băng sơn này to ước chừng bằng một ngọn núi nhỏ, nhìn ra mặt bằng ngang chừng hơn hai mươi trượng, dọc cũng tám chín trượng, so với mặt thuyền rộng rãi hơn nhiều. Tạ Tốn ngững đầu lên hú một tiếng, nói:
– Ở trên thuyền buồn chán quá, thôi mình ra đây cho dãn gân dãn cốt.
Nói xong y đứng dậy trên phiến băng đi qua đi lại, ra vẻ đắc ý lắm. Mặt băng tuy trơn trượt, nhưng Tạ Tốn túc bộ trầm ổn, đi chẳng khác gì trên đất liền.
Băng sơn theo dòng nước chiều gió, vẫn không ngừng trôi về hướng bắc. Tạ Tốn cười nói:
– Giặc trời già đem tới một chiếc thuyền lớn đón ba người mình đi gặp Bắc Cực tiên ông đây mà.
Ân Tố Tố hình như chỉ cần có tình lang bên cạnh là đã thỏa mãn lắm nên dù có trời sập nàng cũng không màng. Trong ba người chỉ có Trương Thúy Sơn nhíu mày, lo lắng chuyện nguy nan trước mắt thôi.
Băng sơn tiếp tục trôi thêm bảy tám ngày nữa. Ban ngày nước đá phản xạ ánh sáng mặt trời khiến da ba người bị cháy nắng, mắt cũng sưng đỏ. Thành ra ban ngày ba người lấy miếng da che đầu nằm ngủ, đến chiều tối mới dậy bắt cá, săn hải cẩu. Nói ra cũng lạ, càng về hướng bắc, ngày càng dài ra, đến sau mỗi ngày dường như mười một tiếng là ngày, đêm tối chỉ chừng một canh.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố càng lúc càng uể oải, mặt mày tiều tụy, còn Tạ Tốn thần sắc mỗi ngày một khác thường, mắt lộ quang thái kỳ lạ, thường hoa tay múa chân chỉ trời chửi mắng, những lời oán độc trong lòng không còn ức chế được nữa.
Một buổi chiều, Trương Thúy Sơn đang che mảnh da hải cẩu tựa vào băng nằm ngủ, mơ mơ màng màng bỗng nghe Ân Tố Tố kêu lớn:
– Buông tôi ra, buông tôi ra.
Trương Thúy Sơn vội vàng nhỏm dậy, dưới ánh sáng huy hoàng của băng sơn, Tạ Tốn đang hai tay nắm chặt đầu vai Ân Tố Tố, miệng hà hà, tiếng như mãnh thú. Mấy hôm nay Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn thần tình cổ quái, đã ngầm đề phòng, nhưng không ngờ y lại xâm phạm Ân Tố Tố. Chàng không khỏi vừa sợ vừa tức, tung mình nhảy tới, kêu lên:
– Bỏ tay ra.
Tạ Tốn lầm lì đáp:
– Tên gian tặc kia, ngươi giết chết vợ ta, được rồi, hôm nay ta bóp chết vợ ngươi, cho ngươi một thân một mình sống nơi trần thế.
Nói xong y đưa tay trái cấu vào yết hầu Ân Tố Tố. Ân Tố Tố ?A? một tiếng, kêu lên thất thanh. Trương Thúy Sơn kinh hãi nói:
– Tôi đâu phải cừu nhân của ông, đâu có giết vợ ông. Tạ tiền bối, mau tỉnh lại, tôi là Trương Thúy Sơn của phái Võ Đương, đâu phải kẻ thù của ông đâu.
Tạ Tốn ngẩn người, kêu lên:
– Thế mụ này là ai? Có phải vợ ngươi không?
Trương Thúy Sơn thấy y nắm chặt Ân Tố Tố, nóng lòng vội nói:
– Đó là Ân cô nương, Tạ tiền bối, cô ấy đâu phải là vợ của kẻ thù ông đâu.
Tạ Tốn gầm lên:
– Ta cóc cần biết là ai với ai. Vợ ta bị người ta giết chết, mẹ ta bị người ta giết chết, ta muốn giết hết đàn bà con gái trên đời này.
Nói rồi tay trái sử kình, Ân Tố Tố ngộp thở, không còn kêu lên được nữa. Trương Thúy Sơn thấy Tạ Tốn đột nhiên hóa điên, không còn cách gì nói năng phải quấy, vội vàng ngưng khí lên tay phải, hết sức đánh vào sau lưng y. Tạ Tốn đưa tay trái ra sau, đánh lại một chưởng. Trương Thúy Sơn loạng choạng, mặt băng lại quá trơn, nên ngã lăn ra. Tạ Tốn phóng chân phải ra, nhắm ngay eo chàng đá tới. Trương Thúy Sơn biến chiêu thật nhanh, tay đẩy một cái người phóng vọt lên, giơ ngón tay điểm huyệt đạo trên đầu gối y. Tạ Tốn không đợi sử hết cú đá, nửa đường giựt ngược về, tay phải đánh xuống đỉnh đầu Trương Thúy Sơn.
Ân Tố Tố nghiêng người, vung tay trái ra chém xuống đầu Tạ Tốn. Tạ Tốn không thèm để ý, tiếp tục đánh xuống. Trương Thúy Sơn song chưởng đưa ra đỡ một chưởng của y, nhưng chỉ giây lát, thấy tức ngực, chân khí dường như không vận lên nổi. Ân Tố Tố chém vào cổ Tạ Tốn, chỉ thấy cổ y vừa dai vừa cứng, tay nàng bị dội trở ra, cạnh bàn tay lại tê dại đau điếng. Tạ Tốn hai mắt đỏ ngầu như muốn tóe lửa, bàn tay to lớn của y lại thò ra chộp vào yết hầu nàng, Ân Tố Tố kêu lên kinh hãi.
Ngay lúc đó, trước mắt bỗng sáng lòa, phương bắc hiện ra một khung cảnh màu sắc kỳ dị không sao tả được. Không biết bao nhiêu màu sắc, trong bóng đêm khi vươn ra khi thu vào, trong ánh vàng có lẫn màu tím đỏ. Màu tím càng lúc càng dài ra, trong màu tía có những tia sáng vàng, lam, lục, hồng. Tạ Tốn ngạc nhiên kêu ?Ồ? một tiếng, tay lỏng ra buông rơi Ân Tố Tố. Trương Thúy Sơn cũng thấy sức ép trên tay nhẹ hẳn đi.
Tạ Tốn hai tay chắp sau lưng, đi về hướng bắc của băng sơn, đăm đăm nhìn ánh sáng kỳ ảo. Thì ra ba người theo nước trôi đi, đên đây đã gần Bắc Cực, ánh sáng lạ lùng đó chính là một cảnh sắc kỳ diệu gọi là Bắc Cực quang[7], người Trung Hoa trước nay chưa thấy bao giờ.
Trương Thúy Sơn chạy tới đỡ Ân Tố Tố, hai người tim đập thình thình. Hôm đó, Tạ Tốn đứng ngắm Bắc Cực kỳ quang, không động tĩnh gì nữa. Sáng hôm sau, quang thái nhạt dần, Tạ Tốn cũng tỉnh lại, không hiểu sao quên hết việc mình phát điên đêm hôm qua, ngôn ngữ cử chỉ lại thật nho nhã.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đều nghĩ: ?Cha mẹ vợ con y đều bị người ta giết chết, không trách y được. Có điều không biết kẻ thù của y là ai??. Lại sợ bệnh điên của y tái phát, hai người không dám đề cập đến.
Lại thêm mấy ngày nữa, băng sơn vẫn trôi về hướng bắc. Tạ Tốn lại bắt đầu mắng chửi trời già, đôi lúc mắt y lại tóe ra những tia sáng lấp lánh chẳng khác gì một con mãnh thú. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố tuy cả hai không đề cập tới, nhưng đều chuẩn bị ngầm, e rằng y lại đột nhiên phát điên.
?Một hôm kia, mặt trời đỏ rực dừng lại tại mặt nước phía tây, hồi lâu không lặn xuống biển. Tạ Tốn bỗng nhảy lên, chỉ vào vầng thái dương lớn tiếng mắng chửi:
– Cả cái mặt trời kia ngươi cũng chọc tức ta, tặc thái dương, quỉ thái dương, ta mà có cái cung cứng, một mũi tên dài, hừ hừ, bắn một cái là xuyên qua ngươi.
Y đột nhiên đánh mạnh vào băng sơn, vỡ một khối nước đá lớn, dùng sức ném về phía mặt trời. Miếng băng phóng ra phải đến hai chục trượng mới rơi tòm xuống biển. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố hai người kinh hãi, nghĩ thầm: ?Cánh tay người này mạnh thật, giá như mình, e rằng ném không xa tới một nửa?.
Tạ Tốn ném khối đá xong, lại ném khối khác, tổng cộng đến sáu bảy chục miếng, kình lực vẫn không suy giảm. Y ném tới ném lui, dường như không biết mặt trời cách xa bao nhiêu. Y lại nhảy lên đá tung vào băng sơn, khiến cho đá vụn văng tứ tán.
Ân Tố Tố khuyên:
– Tạ tiền bối, ông nghỉ ngơi đã, đừng để ý đến quỉ thái dương làm gì.
Tạ Tốn quay đầu lại, mắt đầy tia máu đỏ ngầu, ngơ ngẩn nhìn nàng. Ân Tố Tố trong lòng sợ hãi, gượng nở một nụ cười. Tạ Tốn đột nhiên kêu lên một tiếng, nhảy tới ôm chặt lấy nàng, kêu lên:
– Ta giết ngươi, ta giết ngươi. Sao ngươi lại giết mẹ ta, giết con ta?
Ân Tố Tố thấy mình như bị nhốt trong một cái lồng sắt, có điều cái lồng đó dần dần xiết lại.
Trương Thúy Sơn nắm lấy cánh tay Tạ Tốn cố gỡ ra, nhưng không nhúc nhích chút nào. Trước mắt thấy Ân Tố Tố lè lưỡi, tưởng như hết thở, chàng liền giơ chưởng hết sức bình sinh đánh vào huyệt Thần Đạo trên lưng y, nghe bùng một tiếng. Nào ngờ chưởng đánh vào như trúng sắt đá, Tạ Tốn vẫn hà hà rống lên như dã thú, hai tay càng xiết chặt thêm. Trương Thúy Sơn quát lên:
– Nếu ngươi không buông ra, ta dùng binh khí đó.
?Thấy y không lý gì đến, chàng lấy phán quan bút ra, điểm mạnh vào huyệt Tiểu Hải trên khuỷu tay trái. Tạ Tốn tay phải vung ngược lại, chộp được phán quan bút, ném vèo vào trong biển cả.
Ân Tố Tố thấy vòng tay y lỏng ra, liền hụp xuống chui ra ngoài. Tạ Tốn tả chưởng đánh xéo vào cổ Trương Thúy Sơn, tay phải giơ ra chộp vào đầu vai Ân Tố Tố. Nghe rẹt một cái, chiếc áo da hải cẩu của Ân Tố Tố bị năm ngón tay y cào rách một đường. Trương Thúy Sơn biết rằng nếu mình né qua, Ân Tố Tố thể nào cũng sẽ bị y bắt lại, lập tức sử chiêu ?Tự Tại Phi Hoa? trong Miên Chưởng chế ngự chưởng lực của y. Nào ngờ bàn tay chàng và cạnh bàn tay y vừa đụng nhau, lập tức cảm thấy một sức hút cực mạnh gỡ ra không được, chỉ còn cách vận nội công lên chống đỡ.
Tạ Tốn một chưởng đã chế ngự được Trương Thúy Sơn liền lập tức lôi chàng chồm về phía Ân Tố Tố. Ân Tố Tố tung mình nhảy lên, hai chân chưa chạm đất, Tạ Tốn liền đá một cái, bảy tám miếng băng nhỏ bay vèo tới, trúng cả vào đùi bên phải của nàng. Ân Tố Tố chỉ kịp kêu lên một tiếng: ?Ối chà? rồi ngã lăn ra.
Tạ Tốn đột nhiên phát xuất chưởng lực, đánh Trương Thúy Sơn văng ra xa mấy trượng. Chưởng đó thực là mãnh liệt, Trương Thúy Sơn rơi xuống ngay mép của băng sơn, nước đá lại trơn, chân phải chàng trượt một cái, nghe tõm một tiếng, lăn tòm xuống biển.
[1] Ca dao Việt Nam [2] Đỡ ngang xà vàng [3] Biết điều sai mà sửa, là làm một điều thiện lớn [4] Con dê trên triền núi [5] Bài này có lẽ là một loại dân ca, người dịch cũng không hiểu rõ lắm, dịch theo nghĩa đen mà thôi.
[6] Cùng phát chi bắc hữu minh hải giả, thiên trì dã.
[7] aurora borealis
Hết tập 6

*******************************************************************************************************************

TẬP 7:
THÙY TỐNG BĂNG KHẢ LAI TIÊN HƯƠNG

Trời xanh se một chữ duyên, Thiên Thai trước mặt, Đào Nguyên trong lòng.
Theo chàng phận gái chữ tòng, Nguyện rằng sống chết sẽ cùng bên nhau.
Trương Thúy Sơn tay trái vung ngân câu ra, móc vào băng sơn, mượn sức nhảy về, nghĩ bụng Ân Tố Tố ắt đã bị rơi vào tay Tạ Tốn, không ngờ dưới ánh trăng lạnh, chỉ thấy Tạ Tốn hai tay ôm mắt, rên rỉ còn Ân Tố Tố đang nằm phục trên mặt băng.
Trương Thúy Sơn vội chạy tới đỡ nàng dậy, Ân Tố Tố nói nhỏ:
– Em ? em bắn trúng mắt y ?
Câu nói chưa dứt, Tạ Tốn rống lên một tiếng, xông lại. Trương Thúy Sơn ôm lấy Ân Tố Tố cùng lăn luôn mấy vòng, tránh ra chỗ khác, bỗng nghe thấy tiếng ầm ầm vang dội, Tạ Tốn đang giơ lang nha bổng đánh vào băng sơn. Y vứt lang nha bổng xuống, hai tay nâng một khối băng lớn ước chừng hơn trăm cân, nghiêng đầu nghe ngóng, rồi ném về phía Trương Ân hai người.
Ân Tố Tố muốn đứng lên chạy trốn, nhưng Trương Thúy Sơn đã đẩy lưng nàng, hai người cùng núp vào một cái hốc nước đá, không dám thở mạnh. Tạ Tốn ném khối băng xong, đứng yên không động đậy, cố tìm nơi hai người ẩn náu. Trương Thúy Sơn thấy mắt y chảy hai dòng máu tươi, biết rằng Ân Tố Tố trong khi nguy cấp đã bắn ngân châm, Tạ Tốn lúc đó thần trí hôn mê không kịp đề phòng, hai mắt trúng kim thành mù.
Thế nhưng thính giác y cực kỳ linh mẫn, chỉ cần một tiếng động nhỏ, cũng đủ khiến y chồm tới, hậu quả ra sao thật khó lường. Cũng may trên biển còn có sóng ỳ ầm, gió lại mạnh, thêm băng đá chạm nhau leng keng, nên hơi thở của hai người bị át hết, nếu không khó mà thoát khỏi độc thủ của y.
Tạ Tốn nghe ngóng một hồi, trong tiếng sóng, tiếng gió, tiếng băng chạm nhau không tìm được chỗ hai người đang trốn, nhưng hai mắt đau nhức, trước mắt chỉ một màu tối đen, vừa giận dữ vừa sợ hãi, dậm chân kêu hú một tiếng, tay đánh chân đá hỗn loạn vào băng sơn, rồi cầm các tảng băng ném ra tứ tán, nghe bình bình liên thanh, vang vọng bất tuyệt. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố hai người nép vào với nhau, sợ mặt cắt không còn hột máu, trên đầu vô số cục băng bay vèo vèo, chỉ trúng một mảnh thôi cũng đủ táng mạng.
Trận ném đá của Tạ Tốn tuy chỉ chừng nửa giờ nhưng Trương Ân hai người tưởng chừng kéo dài một năm. Tạ Tốn ném băng không hiệu quả, bỗng dưng ngừng tay, ôn tồn nói:
– Trương tướng công, Ân cô nương, tôi nhất thời hồ đồ, bệnh điên phát tác, khiến cho mạo phạm, xin hai vị tha lỗi cho.
Câu đó thật là khiêm hòa, lễ độ trở lại thần thái bình thường của y. Y nói xong, ngồi trên phiến băng, chờ hai người lên tiếng.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố trong tình cảnh này, đâu dám trả lời. Tạ Tốn nói mấy lần, không thấy hai người đáp lại, liền đứng thẳng lên, thở dài một tiếng, nói:
– Hai vị nếu không tha thứ , tôi không còn cách nào khác.
Nói xong y hít mạnh một hơi. Trương Thúy Sơn bỗng giật mình, nhớ lại lúc y cất tiếng hú tại Vương Bàn Sơn đảo làm mọi người ngã gục, trước khi ra tay cũng thở mạnh một hơi như thế này. Hai mắt y tuy mù, tiếng hú chế ngự địch của y nào có gì khác. Lúc này nguy cơ đến ngay tức thì, muốn xé áo nhét kín hai tai, cũng đã muộn. Chàng không kịp nghĩ ngợi, vội ôm Ân Tố Tố nhảy ùm xuống bể.
Ân Tố Tố chưa rõ việc gì, tiếng hú của Tạ Tốn đã cất lên. Trương Thúy Sơn ôm nàng vội vàng lặn xuống, nước lạnh thấu xương ngập hết cả đầu, nên cũng che kín luôn tai. Tay trái Trương Thúy Sơn cầm ngân câu móc vào băng sơn, tay phải chàng ôm Ân Tố Tố, trừ bàn tay trái thò ra ngoài, toàn thân hai người đều chìm dưới nước. Tuy vậy hai người vẫn nghe văng vẳng tiếng hú của Tạ Tốn.
Băng sơn vẫn tiếp tục trôi về hướng bắc, mang theo cả hai người ở bên dưới. Trương Thúy Sơn thấy mình vẫn còn may, nếu như không mất bút thép mà lại mất ngân câu, dẫu hai người có chạy khỏi tiếng hú của Tạ Tốn, thì cũng chết đuối trong biển cả.
Lâu lâu một lần, hai người thò miệng ra ngoài mặt nước, hít một hơi, nhưng hai tai vẫn chìm trong nước, sáu bảy phen như thế, tiếng hú của Tạ Tốn mới ngừng. Mỗi lần hú nội lực tiêu hao rất nhiều, nên y thấy uể oải, không còn hơi sức đâu mà tìm xem Trương Ân chết hay sống, chỉ còn ngồi xuống dưới mặt băng ám điều nội tức. Trương Thúy Sơn giơ tay ra hiệu, hai người lặng lẽ trồi lên băng sơn, nhổ ít lông hải cẩu trên mảnh da thú, nhét chặt vào trong tai, cốt mong sao qua được cơn kiếp nạn.
Trương Ân biết rằng nếu còn ở chung với y trên cùng một băng sơn, chỉ cần một tiếng động nhỏ, lập tức đại họa đến ngay. Hai người mặt mày đăm chiêu, nhìn về hướng tây thấy mặt trời đỏ như máu vẫn chưa chìm xuống dưới mặt biển. Họ đâu biết vùng này gần kề Bắc Cực, thời tiết hoàn toàn thay đổi, nơi đây sáu tháng là ngày liên tiếp, còn sáu tháng kia là đêm tối vô cùng, chỉ thấy mọi sự đều quái dị, nghĩ mình đã đến nơi tận cùng của thế giới.
Ân Tố Tố toàn thân ướt đẫm, lạnh buốt thấu xương, chịu không nổi run lên cầm cập, hai hàm răng đánh vào nhau kêu lách cách. Tạ Tốn dĩ nhiên nghe thấy, y lập tức rống lên, cầm lang nha bổng đánh xuống. Trương Ân đã phòng bị, nhảy qua tránh né, nghe bình một tiếng, bổng đã đánh vào băng sơn. Lực đạo cú đánh đó phải ít nhất bảy tám trăm cân làm vỡ bảy tám miếng lớn, văng cả xuống biển.
Hai người nhìn nhau kinh hãi, thấy Tạ Tốn vũ động lang nha bổng thành hàng nghìn đạo ngân quang, từ từ ép tới. Cái lang nha bổng đó dài đã hơn một trượng, bây giờ múa lên, uy lực bao trùm phải bốn năm trượng chung quanh, hai người tuy nhảy nhót đã nhanh, nhưng cũng không thể nào chạy thoát, chỉ cón cách liên tiếp lùi về sau, lùi một hồi đã đến mép của băng sơn.
Ân Tố Tố kinh hãi kêu lên:
– – Ối chà Trương Thúy Sơn cầm lấy tay nàng, hai chân nhún một cái, nhảy vọt luôn xuống biển. Hai người còn đang ở trên không, nghe thấy tiếng bình bình thật lớn, những mảnh băng đã bắn tới sau lưng, một số mảnh văng trúng nên cảm thấy hơi đau. Trương Thúy Sơn khi nhảy đã nhắm một khối băng to bằng cái bàn, tay trái vung ngân câu ra, móc luôn vào đó. Tạ Tốn nghe thấy tiếng hai người rơi xuống biển, dùng lang nha bổng đánh vỡ băng, cầm ném theo. Nhưng hai mắt y đã mù, Trương Ân hai người trên biển liên tiếp bơi đi, miếng đầu không trúng, những miếng sau cũng đều ra ngoài cả.
Băng sơn trên biển phần trồi lên chỉ là một phần nhỏ của toàn khối, dưới nước là một băng thể thật lớn. Miếng băng Trương Ân hai người nằm phục trên đó là một mảnh băng do Tạ Tốn đánh vỡ ra, nhỏ chưa bằng một phần nghìn của băng sơn, vì thế theo dòng thủy lưu trôi thật nhanh, càng lúc càng xa núi băng nơi Tạ Tốn đang đứng. Đến chiều tối, quay đầu nhìn lại, thân hình Tạ Tốn chỉ còn là một cái chấm nhỏ, còn đại băng sơn vẫn lấp lánh phát quang.
Hai người bám được khối băng này chỉ cốt không bị chìm, nhưng thân mình ở dưới nước không thể nào chịu được lâu. May thay trên đường trôi về phương bắc, họ lại thấy một khối băng sơn nho nhỏ xuất hiện, hai người vội vàng bơi đến gần bám vào leo lên.
Trương Thúy Sơn nói:
– Cứ nói là trời không đưa mình vào tuyệt lộ, nhưng sao mình phải chịu biết bao nhiêu khổ sở, em cảm thấy thế nào?
Ân Tố Tố nói:
– Tiếc là mình không mang theo được chút thịt hải cẩu nào, anh không bị thương chứ?
Hai người nói mà như cho mình nghe, chẳng hiểu bên kia nói gì, chợt hiểu ra vội móc lông hải cẩu trong tai. Thì ra họ ra sức đào thoát, quên cả hai tai vẫn còn bịt chặt.
Hai người thoát được đại nạn, nhu tình trong lòng lại càng tăng lên mãnh liệt. Trương Thúy Sơn nói:
– Tố Tố, hai đứa mình có chết trên núi băng đó, cũng là vĩnh bất phân ly rồi.
Ân Tố Tố đáp:
– Ngũ ca, em có câu muốn hỏi, anh nói thật với em nhé. Ví như hai đứa mình còn ở trên đất liền, không trải qua những nguy nan như bây giờ, nếu em vẫn nhất tâm nhất ý muốn lấy anh, anh có bằng lòng lấy em không?
Trương Thúy Sơn ngẩn người, giơ tay gãi đầu, nói:
– Anh nghĩ rằng mình có lẽ không thân nhau sớm đến thế đâu, lại thêm ? lại thêm ? nhất định sẽ có rất nhiều trở ngại, gian lao, hai đứa môn phái không đồng ?
Ân Tố Tố thở dài, nói:
– Em cũng đã nghĩ như thế. Cho nên hôm anh cùng Tạ Tốn đấu chưởng, mấy lần em định phát xạ ngân trâm trợ lực, nhưng ngần ngừ mãi vẫn không xuất thủ.
Trương Thúy Sơn lạ lùng nói:
– Thế ư, thế là tại sao? Anh lại tưởng em trong đêm tối nhìn không rõ, sợ lỡ trúng anh.
Ân Tố Tố hạ giọng:
– Không phải đâu. Nếu lúc đó đả thương được y, hai đứa mình trở về lục địa, em sợ anh sẽ không ở bên em nữa.
Trương Thúy Sơn trong lòng bồi hồi, kêu lên:
– Tố Tố.
Ân Tố Tố nói tiếp:
– Có thể anh sẽ giận em nhưng lúc đó em chỉ mong được mãi mãi bên anh, hai đứa đến một cái hoang đảo, sống với nhau. Tạ Tốn ép bọn mình đi theo y, chính hợp với tâm nguyện của em.
Trương Thúy Sơn không ngờ nàng lại yêu thương mình sâu đậm đến thế, cảm kích vô hạn, dịu giọng nói:
– Anh không giận em đâu, trái lại còn thương em hơn vì em đối với anh chân tình như thế.
Ân Tố Tố ngả đầu vào ngực Trương Thúy Sơn, ngước lên nhìn vào mắt chàng, nói:
– Ông trời đưa mình đến nơi địa ngục băng giá này, em không những không oán giận, lại càng vui sướng. Em chỉ mong băng sơn này không quay về nam, ồ, nếu có ngày hai đứa mình về lại trung nguyên, sư phụ anh chắc ghét em lắm, còn cha em không chừng lại muốn giết anh ?
Trương Thúy Sơn ngạc nhiên:
– Cha em?
Ân Tố Tố đáp:
– Cha em là Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính, tức là giáo chủ sáng lập ra Thiên Ưng giáo.
Trương Thúy Sơn nói:
– Ồ, thì ra là thế. Nhưng không lo, anh và em sẽ đi với nhau, cha em có hung dữ cách mấy, cũng không đến nỗi giết chàng rể của mình.
Ân Tố Tố đôi mắt sáng lên, hai má đỏ bừng, nói:
– Anh nói thế có thật lòng không?
Trương Thúy Sơn nói:
– Hai đứa mình kết thành vợ chồng nhé.
Hai người lập tức cùng quì xuống ngay trên băng sơn. Trương Thúy Sơn cao giọng nói:
– Hoàng thiên ở trên, đệ tử là Trương Thúy Sơn hôm nay cùng Ân Tố Tố kết thành vợ chồng, họa phúc cùng chung, trước sau thề không bao giờ phụ bạc nhau.
Ân Tố Tố cũng kính cẩn khấn nguyện:
– Xin trời phù hộ, cho hai đứa con được sống mãi mãi bên nhau là vợ chồng.
Ngừng lại một chút, nàng tiếp:
– Nếu sau này được về lại trung nguyên, tiểu nữ sẽ cải tà qui chánh, sám hối tội đã qua, theo phu quân làm điều thiện, quyết không giết ai nữa. Nếu vi lời thề, xin trời lẫn người cùng tru diệt.
Trương Thúy Sơn mừng lắm, không ngờ nàng lại thề nguyền như thế, nên vòng tay qua ôm lấy Ân Tố Tố. Hai người tuy bị nước biển làm ướt đẫm, nhưng trong lòng ấm áp phơi phới như gió xuân.
Một lúc lâu sau, cả hai mới nhớ ra là ngày hôm nay chưa ăn gì. Trương Thúy Sơn cầm ngân câu đứng rình tại mép băng sơn, đợi cá bơi gần mặt nước thì móc lên. Cá ở nơi đây vì phải chống lạnh nên thịt dày, nhiều mỡ, tuy ăn sống hơi tanh, nhưng ăn vào tăng khí lực rất nhiều.
Hai người ở trên băng sơn, không có hi vọng gì quay về Trung Thổ, nhưng cũng không lo không buồn. Bây giờ ngày rất dài mà đêm rất ngắn, thực không bình thường, nên không có cách gì tính toàn thời khắc, cũng chẳng biết mặt trời mọc hay lặn bao nhiêu lần.
Một hôm, Ân Tố Tố trông thấy ngay chính hướng bắc có một cột khói bốc lên, sợ hãi mất vía, kêu lên:
– Ngũ ca.
Giơ tay chỉ cột khói đen. Trương Thúy Sơn nửa mừng nửa lo, nói:
– Không lẽ nơi đây cũng có người?
Tuy hai người nhìn thấy khói bay lên, nhưng thực ra còn cách xa lắm. Băng sơn tiếp tục trôi thêm một ngày nữa, vẫn chưa đến gần, nhưng khói đen bốc lên càng lúc càng cao, đến sau trông thấy trong đám khói có thấp thoáng ánh lửa.
Ân Tố Tố hỏi:
– Cái gì đây thế?
Trương Thúy Sơn lắc đầu không trả lời. Ân Tố Tố run run nói:
– Thôi hai đứa mình chắc sắp hết kiếp rồi. Đây là ? là cửa địa ngục đó.
Trương Thúy Sơn trong lòng cũng sợ hãi, nhưng cố trấn an nàng:
– Rất có thể nơi đây có người ở, chắc đang đốt lửa trên núi.
Ân Tố Tố nói:
– Đốt củi sao ngọn lửa bốc lên cao thế?
Trương Thúy Sơn thở dài, nói:
– Thôi mình đã đến đây, mọi sự run rủi do trời sắp định. Trời không muốn mình chết rét, lại muốn mình chết thiêu, thì cũng vui vẻ mà chịu.
Nói ra thật lạ, băng sơn hai người đang ở, lại cứ thẳng ngọn lửa mà trôi tới. Trương Ân hai người không hiểu rõ nguyên do, chỉ tin là do trời sắp xếp, dù họa hay phúc, thôi đành chiều theo số mệnh. Họ có biết đâu cột lửa kia là một ngọn hỏa sơn gần Bắc Cực đang hoạt động, lửa phun ra, làm cho nước biển chung quanh nóng lên. Nước nóng chảy về phía nam, dĩ nhiên cuốn các băng sơn từ phương nam lại thế chỗ, vì thế núi băng trôi đến càng lúc càng gần.
Băng sơn trôi thêm một ngày một đêm nữa thì đến dưới chân núi lửa, chung quanh là một vùng cây cối xanh tươi rộng mênh mông, thì ra là một hòn đảo thật lớn. Phía tây hòn đảo là vách đá và những ngọn núi, hình thù quái dị, Trương Thúy Sơn đã đi gần khắp một nửa trung nguyên mà cũng chưa thấy bao giờ. Hai người có biết đâu đây là hỏa sơn, những ngọn núi này đều là phún xuất thạch muôn vạn năm tích lại kết thành. Phía đông là một bình nguyên rộng không biết đâu là bờ là bến, do bụi núi lửa rơi xuống, lấp biển mà nên. Vùng này tuy gần ngay Bắc Cực, nhưng nhò có hỏa sơn hoạt động từ xưa không tắt, trên đảo khí hậu vì thế cũng giống như dẫy núi Trường Bạch hay Hắc Long giang. Trên núi cao có băng tuyết nhưng dưới đồng bằng thì cây cối xanh tươi, tùng xanh bách biếc, cao lớn dị thường, lại có đủ loại kỳ hoa dị thảo mà Trung Quốc không có.
Ân Tố Tố đứng ngắm một hồi lâu, đột nhiên nhảy lên, hai tay ôm cổ Trương Thúy Sơn nói:
– Ngũ ca, hai đứa mình đến núi tiên rồi.
Trương Thúy Sơn trong lòng cũng hết sức vui sướng, ngơ ngơ ngẩn ngẩn không nói nên lời. Lại thấy trên cánh đồng, một bầy mai hoa lộc cúi đầu ăn cỏ. Chàng nhìn bốn bề, ngoài ngọn núi lửa kia ra, tất cả đều yên tĩnh không có gì đáng sợ.
Thế nhưng băng sơn trôi đến gần đảo, bị nước ấm đẩy ra nên lại trôi ra ngoài. Ân Tố Tố vội kêu:
– Chao ôi, chao ôi, đảo tiên lại đi xa rồi.
Trương Thúy Sơn thấy tình hình không xong, nếu không lên đảo, băng sơn sẽ tiếp tục trôi ra ngoài, biết bao giờ mới ngừng. Trong tình hình nguy cấp, chàng vừa chưởng, vừa câu đánh ra, nghe ầm một tiếng đánh vỡ ngay một mảnh băng lớn. Hai người ôm lấy tảng băng, nhảy tòm ngay xuống biển, tay chân quạt mạnh, một hồi sau đã lên được đất liền.
Bầy mai hoa lộc thấy có người đến, giương mắt nhìn, có vẻ hiếu kỳ, nhưng không sợ hãi. Ân Tố Tố rón rén đến gần một con, giơ tay vuốt lưng nó mấy cái, nói:
– Giá có thêm vài con hạc, em nghĩ đây hẳn là Nam Cực tiên cảnh rồi.
Bỗng mặt đất rung rinh, nàng ngã lăn ra. Trương Thúy Sơn kinh hoảng kêu lên:
– Tố Tố.
Chàng vội chạy lại đỡ nàng lên, nhưng mặt đất vẫn lay động, đứng không vững. Chỉ nghe thấy những tiếng ầm ầm, mặt đất rung chuyển, thì ra hỏa sơn lại phun lửa. Hai người ở trên mặt biển trôi nổi mấy mươi ngày, sóng nhồi lên nhồi xuống suốt ngày đêm, nay vừa lên bờ, dưới chân vẫn còn bồng bềnh, mặt đất vừa rung động đã ngã nhào xuống.
Hai người kinh hoảng nhưng không thấy gì xảy ra, mới cùng cười hì hì đứng dậy. Hôm đó hai người mệt lả, nên nằm ngay trên bãi cỏ, ngủ một giấc đến hơn bốn giờ mới dậy.
Khi tỉnh dậy, mặt trời vẫn chưa qua khỏi núi, Trương Thúy Sơn nói:
– Hai đứa mình đi vòng quanh xem thế nào. Tuy không thấy người ở nhưng biết đâu chẳng có độc trùng mãnh thú gì chăng.
Ân Tố Tố nói:
– Chỉ cần xem đàn mai hoa lộc này hiền từ như thế, đủ biết trên đảo tiên này thật là thái bình.
Trương Thúy Sơn cười:
– Cũng mong được như thế. Vậy hai đứa mình đi bái yết những vị tiên ở đây vậy.
Dù ở trên băng sơn, Ân Tố Tố vẫn để ý đến dung nhan phục sức, quần áo vẫn chỉnh tề, bây giờ lên đảo lại càng kỹ lưỡng săm soi bề ngoài. Nàng sửa lại y trang, chải đầu cho Trương Thúy Sơn, sau đó mới đi ra ngoài xem xét phong cảnh.
Ân Tố Tố tay cầm trường kiếm, còn Trương Thúy Sơn đã mất thiết bút nên chặt tạm một cành cây chắc chắn thay vào. Hai người thi triển khinh công, chạy từ nam lên bắc đến mười dặm. Mãi đến bây giờ mới có được một khoảng đất rộng để vùng vẫy, họ sung sướng không sao kể xiết. Khắp nơi, ngoài những gò thấp và cây cao, tất cả đều là bình nguyên, kỳ hoa dị thảo. Thỉnh thoảng có những loài chim đẹp đẽ, những con thú nhỏ, xem ra không làm hại đến người.
Hai người đi qua một khu rừng lớn, thấy ở phía tây bắc có một ngọn núi đá, dưới chân có một cái hang. Ân Tố Tố kêu lên:
– Chỗ này thật là tuyệt.
Vội vàng vượt lên trước chạy ngay tới. Trương Thúy Sơn kêu lên:
– Coi chừng.
Nói chưa dứt câu, nghe thấy ừm một tiếng, trước mắt đã có bóng thấp thoáng, một con gấu trắng từ trong động nhào ra. Con gấu đó lông dài, to lớn như một con bò mộng. Ân Tố Tố sợ hãi, vội lùi lại phía sau. Con gấu chồm tới, giơ chân trước, vồ vào đầu Ân Tố Tố, nàng vội vung kiếm lên đâm vào vai con thú. Nào ngờ ở trên biển lâu ngày, sức lực suy kiệt, tay không còn sức, kiếm đó tuy đâm trúng vai con gấu, nhưng chỉ làm nó bị thương sơ sài, chiêu thứ hai vừa tới, con gấu nhào lên gạt ra, nghe cách một tiếng, thanh kiếm đã rơi xuống đất.
Trương Thúy Sơn vội kêu:
– Tố Tố lùi ra đi.
Chàng nhảy tới vung cành cây quật ngang, đánh trúng ngay khuỷu chân trước con vật. Chỉ nghe lách cách mấy tiếng, cành cây đã gãy thành hai khúc, nhưng con gấu cũng bị què chân. Con vật bị thương nặng, đau quá rống lên, vang động cả sơn cốc, hung hăng chồm tới tấn công Trương Thúy Sơn.
Trương Thúy Sơn hai chân điểm một cái, sử dụng khinh công ?Thê Vân Túng?, nhảy vọt lên cao cả trượng, sử dụng cái móc trong tự quyết chữ ?tranh?, dùng ngân câu từ trên cao đánh xuống, trúng ngay mang tai con gấu. Chiêu đó kình lực thật mạnh, ngân câu móc vào cả tấc. Con gấu rống lên một tiếng kinh thiên động địa, hất văng ngân câu trong tay Trương Thúy Sơn, lăn ra dãy dụa mấy cái, chổng bốn vó lên trời chết tươi.
Ân Tố Tố vỗ tay reo lên:
– Khinh công đẹp quá, câu pháp thật tuyệt.
– Nói chưa dứt câu, bỗng nghe Trương Thúy Sơn kêu lên:
– Mau nhảy lại đây.
Ân Tố Tố nghe thấy Trương Thúy Sơn có vẻ kinh hoảng, không kịp hỏi thêm, vội vàng vọt về phía trước, nhảy ngay vào lòng chàng, quay đầu lại, không khỏi kêu lên “Ôi chao” một tiếng. Thì ra ngay đằng sau nàng lại có một con gấu trắng khác, nhe răng giơ vuốt, trông thật ghê rợn.
Trương Thúy Sơn trong tay không có món binh khí nào, vội ôm Ân Tố Tố nhảy lên trên một cây tùng lớn, con gấu cứ đi lòng vòng dưới gốc, thỉnh thoảng lại ngửng đầu gầm lên một tiếng. Trương Thúy Sơn bẻ một cành tùng, nhắm ngay mắt phải con vật phóng xuống, nghe vút một tiếng, cành cây đâm ngay vào mắt nó. Con gấu đau quá kêu ầm lên, toan trèo lên cây. Trương Thúy Sơn tiếp lấy thanh trường kiếm trong tay Ân Tố Tố, vận kình phóng xuống đầu dã thú, nghe soẹt một tiếng, thanh kiếm ngập vào đến quá nửa, con vật từ từ ngã ra, chết ngay dưới gốc cây.
Trương Thúy Sơn nói:
– Không biết trong động có còn con gấu nào nữa không.
Chàng kiếm mấy hòn đá ném vào trong hang, chờ một lát sau không thấy động tĩnh gì, mới tiến vào trước, Ân Tố Tố theo sát phía sau. Hai người thấy cái hang đó thật rộng rãi, sâu đến bảy, tám trượng, bên trên nóc lại có một cái lỗ hổng ánh sáng chiếu vào, chẳng khác gì một cái cửa sổ thiên nhiên.
Trong động đầy những đồ ăn còn lại của hai con gấu, xương cá, đầu cá, tanh thối vô kể. Ân Tố Tố bịt mũi nói:
– Nơi này tốt thì có tốt, nhưng hôi quá.
Trương Thúy Sơn nói:
– Chỉ cần mỗi ngày mình quét dọn, chùi rửa, mười ngày nửa tháng, thì sẽ hết hôi.
Ân Tố Tố nghĩ đến từ nay sẽ cùng chàng ở trên hòn đảo này, tháng năm vô tận, cho đến khi già chết mới thôi, trong lòng hết sức vui sướng, nhưng cũng thật thê lương. Trương Thúy Sơn ra ngoài bẻ cành cây, làm thành một cái chổi lớn, bắt đầu quét dọn những uế vật trong động. Ân Tố Tố cũng giúp chàng tẩy rửa, nhưng mùi hôi vẫn không hết. Ân Tố Tố nói:
– Giá gần đây có chỗ nào lấy nước về rửa một phen thì tốt biết mấy. Nước biển thì nhiều nhưng mình lại không có thùng để xách.
Trương Thúy Sơn nói:
– Anh có cách làm.
Chàng đến những vùng lạnh lẽo trên núi, ôm về mấy tảng băng lớn, để lên trên những chỗ cao trong hang. Ân Tố Tố vỗ tay cười:
– Hay lắm.
Khối băng dần dần tan ra thành nước, chảy xuống nhưng có điều rất chậm.
Trong khi Trương Thúy Sơn ở trong động chùi rửa, Ân Tố Tố ra ngoài dùng trường kiếm xẻ thịt hai con gấu trắng, cắt ra thành từng miếng. Vùng này tuy có núi lửa, nhưng dẫu sao cũng là cực bắc, thời tiết vẫn rất lạnh, thịt gấu để đó xem ra mấy tháng cũng không hư. Ân Tố Tố thở dài:
– Con người lòng không biết đến đâu mới vừa, được voi đòi tiên, giá như mình có lửa, nướng mấy cái bàn chân gấu mà ăn thì ngon biết mấy.
Lại nói tiếp:
– Chỉ sợ nước đá để trong động mãi không tan thì không hết được mùi hôi.
Trương Thúy Sơn ngước lên nhìn lửa trên ngọn hỏa sơn phun ra, nói:
– Lửa thì có kia, nhưng lửa lại quá lớn, để thư thả mình nghĩ cách nào lấy lửa đem về.
Đêm hôm đó, hai người ăn no thịt gấu rồi trèo lên cây nằm ngủ. Họ tưởng như mình vẫn còn trên băng sơn rôi dạt trên biển cả, nghe tiếng sóng ỳ ầm, nhấp nhô lên xuống, thực ra chỉ là gió thổi vào lay động cành cây.
Hôm sau, Ân Tố Tố chưa mở mắt đã kêu lên:
– Thơm quá, thơm quá.
Nàng xoay người nhảy xuống, thấy mùi thơm ngát từ một vùng đầy những loại hoa không biết tên bên dưới xông lên, vui mừng nói:
– Trước cửa động có nhiều hương hoa như thế này, thật là thú vị.
Trương Thúy Sơn nói:
– Tố Tố, việc mừng để sau, có một việc anh muốn nói với em trước đã.
Ân Tố Tố thấy chồng sắc mặt trịnh trọng, không khỏi lo âu, hỏi:
– Cái gì vậy?
Trương Thúy Sơn nói:
– Anh đã tìm được cách có lửa rồi.
Ân Tố Tố mừng nói:
– Ồ, cái anh chàng này, vậy mà làm cho em tưởng có chuyện gì không hay cơ chứ. Cách nào đâu? Nói em nghe, nói cho em nghe nào.
Trương Thúy Sơn nói:
– Lủa trên miệng hỏa sơn lớn quá, không cách gì đến gần được, e rằng mình còn cách đến mấy chục trượng cũng đã chết thiêu rồi. Mình dùng vỏ cây tết thành một sợi thừng dài, phơi cho khô, sau đó ?
Ân Tố Tố vỗ tay:
– Cách đó hay lắm, hay lắm. Sau đó mình buộc một cục đá vào đầu dây, ném vào miệng núi lửa, lửa cháy vào dây, mình lấy đem về.
Hai người ăn thịt sống đã lâu, muốn có lửa ngay, nói là lập tức làm liền. Phải mất đến hai ngày, họ mới bện được một sợi dây thừng dài hơn trăm trượng, lại phơi thêm một ngày nữa, ngày thứ tư mới nhắm hướng núi lửa mà đi.
Ngọn hỏa sơn nhìn thì không xa, nhưng đi phải đến hơn bốn chục dặm. Hai người càng tới gần càng nóng, đầu tiên phải cởi áo da hải cẩu, lúc sau chỉ một manh áo ngoài mà cũng vẫn còn nóng. Đi thêm một dặm nữa, hai người miệng khô lưỡi bức, mồ hôi đầm đìa, chung quanh không còn cây cối hoa cỏ gì, chỉ toàn là đá vàng xém trơ trụi.
Trương Thúy Sơn trên vai vác cuộn dây, thấy mấy sợi tóc dài của Ân Tố Tố bị nóng quá đã quăn cả lại, trong bụng thương xót, nói:
– Em ở đây chờ anh, một mình anh đi cũng được rồi.
Ân Tố Tố giận nói:
– Anh mà còn nói nữa, em sẽ không bao giờ ngó đến anh đâu. Cùng lắm mình không có lửa, suốt đời ăn thịt sống, chứ có gì quan trọng đâu mà không được?
Trương Thúy Sơn chỉ mỉm cười.
Lại đi thêm một dặm nữa, hai người đều thở phì phò như trâu. Trương Thúy Sơn tuy nội công tinh thâm, nhưng cũng bị nóng đến mắt nổ đom đóm, trong đầu kêu lùng bùng, nói:
– Được rồi, mình đứng đây quăng sợi dây lên, nếu không bắt lửa, thì đành ? đành ?
Ân Tố Tố cười:
– Thì đành là trời bắt mình làm một đôi vợ chồng đời thượng cổ ăn lông ở lỗ vậy ?
Nói đến đây, thân hình lảo đảo, mắt hoa lên phải vội bám vào vai chồng mới đứng được. Trương Thúy Sơn nhặt dưới đất một cục đá, buộc vào đầu dây, đề khí chạy lên trước vài trượng, quát lên một tiếng ?Đi? hết sức ném tới.
Chỉ thấy cục đá phóng tới như tên bắn, mang theo sợi dây thẳng băng, rơi xuống tận đằng xa. Thế nhưng vài chục trượng so vơi chỗ Trương Ân hai người đứng có nóng hơn thật, nhưng vẫn còn cách miệng núi lửa thật xa, không sao đốt cháy được sợi dây. Hai người đợi một hồi lâu, người nóng ran, mắt như muốn đổ lửa, nhưng sợi dây vẫn y nguyên, không thấy chút khói nào bốc lên cả. Trương Thúy Sơn thở dài:
– Người xưa khoan gỗ, đánh đá lấy lửa, cũng đều được, thôi hai đứa mình về rồi từ từ tìm cách khác. Cái cách ném dây lấy lửa này coi bộ không xong.
Ân Tố Tố nói:
– Cái cách này tuy không xong nhưng sợi dây đã khô lắm rồi. Mình đi kiếm vài cục đá lửa, dùng kiếm đánh vào xem sao.
Trương Thúy Sơn nói:
– Em nói đúng lắm.
Chàng cuộn sợi dây lại, xé tưa đầu thành những sợi nhỏ như tơ. Chung quanh hỏa sơn rất nhiều đá lửa, chàng lấy một cục, dùng kiếm đập vào, tóe ra mấy đốm lửa, bắn vào bùi nhùi, làm khoảng chục lần thì được lửa.
Hai người mừng rỡ ôm nhau mà reo hò. Cái thừng đó giữ lửa rất tốt, hai người mặt mày rạng rỡ cầm sợi dây đem về hang. Ân Tố Tố gom củi lại gầy một đống lửa lên.
Có lửa rồi, mọi việc đều xong, từ nấu băng thành nước, đến sấy thịt cho khô. Từ khi thuyền đắm đến nay, họ chưa được ăn đồ nóng sốt, bây giờ lần đầu có một miếng thịt gấu thơm tho, họ nhai vội vàng tưởng như muốn nuốt luôn cả lưỡi xuống bụng.
Đêm hôm đó, nơi hang gấu, hoa hương ngào ngạt, ánh lửa bập bùng. Từ khi thành vợ chồng đến nay, đến lúc này họ mới hưởng cái thú động phòng đêm xuân ấm áp.
Sáng sớm hôm sau, Trương Thúy Sơn đi ra ngoài động, đưa mắt nhìn bốn bề, trong lòng khoan khoái. Bỗng thấy từ đằng xa trên một khối đá ngay cạnh bờ biển, một bóng người cao lớn đứng ở đó, chẳng phải Tạ Tốn thì ai?
?Trương Thúy Sơn sợ hãi không để đâu cho hết, những tưởng cùng Ân Tố Tố qua cơn đại nạn, từ nay hai người sẽ bình yên sống với nhau trên hòn đảo hoang này, nào ngờ gã ma đầu cũng đến được. Trong nhất thời, chàng tưởng như biến thành tượng đá, đứng thất thần không dám cử động. Chàng thấy Tạ Tốn bước đi lảo đảo, loạng choạng tiến vào đất liền. Hẳn là từ khi mắt bị mù, y không cách gì có thể bắt cá hay săn hải cẩu, nên chịu nhịn đói tới nay. Y đi được vài trượng, vấp một cái thân hình bổ nhào về phía trước, nằm phục dưới đất.
Trương Thúy Sơn quay về hang, Ân Tố Tố thấy chàng nũng nịu nói:
– Ngũ ca, chàng ?
Thấy sắc mặt chàng trịnh trọng, nàng nói chưa thành câu đã ngừng lại. Trương Thúy Sơn nói:
– Gã họ Tạ đã đến đây rồi.
Ân Tố Tố giật mình nhảy dựng lên, hỏi nhỏ:
– Y có nhìn thấy anh không?
Nàng chợt nghĩ ra Tạ Tốn đã mù cả hai mắt, nên nỗi kinh hoàng lập tức biến mất, nói:
– Mình hai người mắt sáng, không lẽ lại thua một người mù?
Trương Thúy Sơn gật đầu, nói:
– Y đói quá nằm ngất xỉu rồi.
Ân Tố Tố nói:
– Để ra xem.
Nàng xé tay áo ra bốn mảnh vải, lấy hai mảnh nhét vào tai Trương Thúy Sơn, còn mình cũng dùng hai mảnh nút chặt tai lại. Tay phải nàng cầm trường kiếm, tay trái thủ sẵn mấy cái ngân châm, hai người cùng ra ngoài động.
Hai người đi đến còn cách Tạ Tốn chừng bảy tám trượng, Trương Thúy Sơn lớn tiếng nói:
– Tạ tiền bối, có muốn ăn không?
Tạ Tốn bất ngờ nghe thấy tiếng người, vừa vui mừng, vừa sợ hãi, nhưng lập tức nhận ra tiếng của Trương Thúy Sơn, mặt liền sầm xuống, một lúc sau mới gật đầu. Trương Thúy Sơn quay về động lấy một miếng thịt gấu đã nướng chín còn lại từ đêm qua, đứng xa xa ném tới, nói:
– Xin đón lấy.
Tạ Tốn nhỏm dậy, nghe hơi gió định hướng, giơ tay bắt, chậm rãi đưa lên ăn một miếng.
Trương Thúy Sơn thấy y là một đại hán tựa như rồng cọp, nay vì đói nên suy nhược như thế, không khỏi nhủ lòng thương cảm. Ân Tố Tố trái lại trong lòng lại nổi lên một ý nghĩ: ?Ngũ ca quả thật là nhân từ, sao không để cho y chết đói luôn, sau này đỡ rắc rối? Lần này cứu sống y, e rằng về sau sẽ phiền não vô cùng, không chừng hai người mình sẽ mất mạng vào tay y?. Thế nhưng nàng chợt nghĩ mình đã lập trọng thệ, quyết ý đi theo Trương Thúy Sơn để thành người tốt, tuy trong lòng có ý không muốn cứu người, nhưng đâu dám nói ra.
Tạ Tốn ăn hết nửa miếng thịt rồi, nằm phục xuống ngủ khò khò, Trương Thúy Sơn đốt cho y một đống lửa ở bên cạnh. Tạ Tốn ngủ hơn một tiếng đồng hồ mới dậy, hỏi:
– Đây là đâu thế?
Trương Ân hai người đứng canh bên cạnh, thấy y nhỏm dậy mở miệng hỏi, liền lấy mảnh giẻ ở bên tai phải ra, để có thể nghe y nói, nhưng tay phải vẫn chỉ để cách tay một vài tấc, nếu tình hình không xong, lập tức bịt tai lại, còn mảnh vải bên tai trái vẫn để nguyên. Trương Thúy Sơn nói:
– Đây là một hòn đảo hoang không người ở nơi cực bắc.
Tạ Tốn ?Ồ? một tiếng, ngay lúc đó trong đầu nổi lên vô số ý niệm, thừ người hồi lâu mới nói:
– Nếu như thế thì mình không sao về lại được nữa.
Trương Thúy Sơn nói:
– Cái đó cũng còn tùy ở ông trời.
Tạ Tốn chửi:
– Cái gì mà ông trời, đồ chó trời, đồ giặc trời, đồ ăn cướp trời thì có.
Rồi y lần mò đến ngồi trên một phiến đá, tiếp tục ăn nốt miếng thịt, hỏi:
– Các ngươi định đối xử với ta ra sao?
Trương Thúy Sơn đưa mắt nhìn Ân Tố Tố, đợi nàng lên tiếng. Ân Tố Tố đưa tay ra hiệu, ý muốn nói là mọi sự tùy chồng quyết định. Trương Thúy Sơn hơi trầm ngâm, rồi lớn tiếng đáp:
– Tạ tiền bối, vợ chồng chúng tôi ?
Tạ Tốn gật đầu:
– Ồ, thành vợ chồng rồi đấy.
Ân Tố Tố mặt đỏ lên, nhưng không khỏi có chút đắc ý, nói:
– Thì có thể nói chính là do tiền bối làm mai, nên cũng xin đa tạ đã tác thành cho chúng tôi.
Tạ Tốn hừ một tiếng, nói:
– Thế hai vợ chồng định đối với ta như thế nào?
Trương Thúy Sơn nói:
– Chúng tôi bắn mù mắt tiền bối, quả thật muôn phần bất đắc dĩ, nhưng sự đã như thế, muôn ngàn lời cũng không có ích gì. Bây giờ ý trời đã cho mình sống chung với nhau trên đảo hoang này, xem ra cũng không chắc có dịp quay về Trung Thổ, vậy hai chúng tôi sẽ liệu điều phụng dưỡng tiền bối tử tế.
Tạ Tốn gật đầu, thở dài:
– Thì cũng đành như vậy thôi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Vợ chồng chúng tôi tình sâu nghĩa nặng, quyết sống chết với nhau, tiền bối nếu như bệnh điên tái phát, hại một người nào trong hai vợ chồng tôi, người kia quyết không sống một mình.
Tạ Tốn đáp:
– Có phải ngươi muốn nói với ta rằng, nếu các ngươi chết đi, ta mù mắt, ở trên hòn đảo hoang này cũng không sống được chứ gì.
Trương Thúy Sơn đáp:
– Đúng thế.
Tạ Tốn đáp:
– Nếu đã như thế, sao tai bên trái các ngươi còn nhét giẻ làm chi?
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau cười, lấy giẻ trong tai ra, trong lòng đều sợ thầm: ?Người này mắt tuy mù, tai lại rất thính, ắt có thể dùng tai thay mắt không chừng. Y lại thật thông minh cơ trí, liệu sự như thần, nếu không phải ở trên hòn đảo nơi cực bắc, chưa chắc đã cần đến mình nuôi dưỡng?.
Trương Thúy Sơn xin Tạ Tốn đặt tên cho hòn đảo này. Tạ Tốn nói:
– Nếu đảo này có băng khối vạn năm, lại có ngọn núi lửa muôn đời không tắt, thì gọi nó là Băng Hỏa đảo.
Từ đó ba người sống trên Băng Hỏa đảo, mọi sự không có gì xảy ra. Cách hang gấu chừng nửa dặm cũng có một cái sơn động nho nhỏ. Trương Ân hai người sắp xếp thành một nơi ở, đưa Tạ Tốn đến đó. Hai vợ chồng bắt cá săn thú xong còn dư thì giờ, nung đồ sứ thành chén bát, đắp đất thành lò, các loại đồ dùng tuy thô sơ nhưng cũng đầy đủ.
Tạ Tốn cũng không nói chuyện với hai người, chỉ ngồi ôm thanh đao Đồ Long, cúi đầu suy nghĩ. Trương Ân thấy y đáng thương, khuyên đừng suy nghĩ bí mật trong thanh đao nữa làm gì, Tạ Tốn đáp:
– Sao ta lại không biết là dù có tìm ra bí mật trong thanh đao này, thì ở trên hoang đảo cũng có làm được gì? Thế nhưng không có việc gì làm, sao cho hết ngày giờ đây?
Hai người thấy y nói có lý, nên không khuyên can nữa.
Thấm thoát đã được vài tháng, một hôm hai vợ chồng dắt tay nhau du ngoạn lên mạn bắc của hòn đảo. Hóa ra hòn đảo này chu vi cực lớn, trải dài ra tận phía bắc không biết đến đâu, đi đến hơn hai mươi dặm, thấy một khu rừng rậm, cây cao vút, che phủ hết mặt trời. Trương Thúy Sơn định đi vào rừng thám hiểm, nhưng Ân Tố Tố lại sợ, nói:
– Thôi lỡ trong rừng có cái gì cổ quái, mình đi về là hơn.
Trương Thúy Sơn hơi lấy làm lạ, nghĩ thầm: ?Tố Tố trước nay hiếu sự, sao độ này có vẻ uể oải, nói chuyện gì cũng cứ gạt đi là sao??
Nghĩ như thế, chàng hơi lo, hỏi lại:
– Em có sao không? Có gì không được khỏe thì phải?
Ân Tố Tố đột nhiên mặt đỏ bừng, nói nhỏ:
– Đâu có sao.
Trương Thúy Sơn thấy nàng có điều khác lạ, gặng hỏi mãi. Ân Tố Tố cười nửa miệng đáp:
– Ông trời thấy mình tịch mịch quá, nên sai một người xuống, để cho mình được vui đấy mà.
Trương Thúy Sơn sững người, vui mừng quá, kêu lên:
– Em có con phải không?
Ân Tố Tố chặn lại:
– Nói khẽ thôi. Người ta nghe thấy bây giờ.
Nói đến đây, nàng bỗng bật cười khanh khách. Chốn hoang sơn này làm gì còn người thứ ba nào.
Thời tiết biến đổi, ngày một ngắn lại, đêm dài dần ra. Đến sau, mỗi ngày chỉ còn độ hai tiếng, khí hậu cũng ngày thêm lạnh lẽo. Ân Tố Tố từ khi có mang cũng lười biếng hơn, nhưng vẫn cố gắng nấu nướng, may vá và làm các việc nhà.
Hôm đó, mười tháng mang thai đã gần mãn, trong hang gấu đốt lửa lên, hai vợ chồng tựa vào nhau nói chuyện. Ân Tố Tố nói:
– Chàng nghĩ xem mình sẽ sinh con trai hay con gái?
Trương Thúy Sơn đáp:
– Con gái thì giống em, con trai thì giống anh, trai gái gì cũng tốt cả.
Ân Tố Tố đáp:
– Không, em thích mình có đứa con trai. Anh lựa cho con mình một cái tên đi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Ừ.
Một hồi lâu, không nói năng gì. Ân Tố Tố nói:
– Mấy hôm nay anh có điều gì lo lắng? Em thấy anh dường như cứ nghĩ đâu đâu ấy.
Trương Thúy Sơn đáp:
– Có gì đâu. Có lẽ sắp lên làm bố, sung sướng quá nên đâm ra hồ đồ đấy mà.
Câu nói đó không phải chàng nói đùa mà đầu mày khóe mắt, ẩn ẩn nét ưu tư. Ân Tố Tố dịu dàng nói:
– Ngũ ca, anh nói dối em, chỉ làm cho em thêm lo. Anh thấy có cái gì không ổn phải không?
Trương Thúy Sơn thở dài, nói:
– Chỉ mong là anh quá đa nghi thôi. Anh xem Tạ tiền bối mấy hôm nay thần sắc có vẻ không được bình thường.
Ân Tố Tố ?A? lên một tiếng, nói:
– Em cũng đã thấy rồi. Mặt mày ông ta càng ngày càng hung dữ, dường như lại muốn phát điên.
Trương Thúy Sơn gật đầu nói:
– Có lẽ vì ông ta suy nghĩ về bí mật trong thanh đao Đồ Long không ra, do đó trong lòng buồn bực mà nên.
Ân Tố Tố nước mắt rưng rưng, nói:
– Hai đứa mình vốn dĩ muốn cùng với y chết một lượt, cái đó cũng không sao. Có điều ? có điều ?
Trương Thúy Sơn cầm vai nàng, an ủi:
– Em nói không sai, bây giờ mình có con, không thể cùng chết chung với y được. Y tử tế thì thôi, nếu hành hung tác ác, mình chỉ còn cách giết y đi. Y dẫu sao cũng đã mù hai mắt, không làm gì mình được đâu.
Ân Tố Tố từ khi mang thai, không hiểu sao, đột nhiên trở nên nhân từ. Trước đây khi còn con gái, một lần giết cả chục người nàng cũng không coi vào đâu, giờ đây giết một con thú nàng cũng cảm thấy không nỡ. Có lần Trương Thúy Sơn bắt được một con hươu mẹ, con hươu con đi theo đến tận động, Ân Tố Tố liền đem con mẹ thả ra, khiến mọi người phải ăn trái cây dại hết hai ngày. Bây giờ nghe Trương Thúy Sơn định giết Tạ Tốn, nàng không khỏi run lên.
Nàng đang tựa vào lòng Trương Thúy Sơn, nên khi run, chàng nhận thấy ngay. Trương Thúy Sơn nhìn thần sắc ôn nhu của nàng, nói:
– Chỉ mong y đừng phát điên. Mình tuy không có bụng hại người, nhưng phải có bụng phòng người.
Ân Tố Tố nói:
– Đúng thế, nếu như y lại phát điên, thì mình có cách nào chế ngự không? Hay là khi mình cho y ăn, mình bỏ thuốc độc vào ? không, không chưa chắc y đã phát điên đâu, có thể chỉ vì mình quá đa nghi đấy thôi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Anh có một cách. Từ ngày mai trở đi, mình dời vào sâu trong động, bên ngoài đào một cái rãnh sâu, trên mặt trải da và đất mềm.
Ân Tố Tố đáp:
– Kế đó hay tuyệt, nhưng ngày ngày anh phải đi ra ngoài săn bắt, nếu y hành hung ?
Trương Thúy Sơn nói:
– Anh một mình dễ dàng chạy trốn, chỉ thấy tình hình không ổn, là chạy lên trên những bờ vách đá. Y mù hai mắt, làm sao đuổi kịp anh được?
Hôm sau sáng sớm, Trương Thúy Sơn đã ra đào trước hang một cái rãnh sâu. Có điều vì không có cuốc xẻng, chỉ có cách đi tìm cây gỗ nào dùng tạm như cái mai, thực là làm nhiều mà chẳng được bao nhiêu. Cũng may chàng nội lực thâm hậu, cực nhọc bảy ngày liền, cũng đào được cái hố sâu ba trượng.
Trước mắt thấy Tạ Tốn ngày càng có vẻ bất thường, thỉnh thoảng lại lấy đao Đồ Long múa may như điên. Trương Thúy Sơn càng ra sức đào hố, định sẽ đào sâu khoảng năm trượng, dưới đáy cắm chông gỗ. Hố đó dưới nhỏ trên rộng, nếu y không tiến vào thì thôi, nếu bước vào hang, không thể không rơi xuống. Bên cạnh hố chàng cũng chất nhiều đá lớn, để khi y sa bẫy chàng sẽ dùng đá đó ném xuống.
Xế trưa hôm đó, Tạ Tốn ở bên ngoài động chừng vài trượng đi qua đi lại. Trương Thúy Sơn không dám tiếp tục đào, e y nghe thấy tiếng, đâm ra nghi ngờ. Chàng cũng không dám ra ngoài săn thú, chỉ thủ bên cạnh động, xem động tĩnh thế nào. Chỉ nghe Tạ Tốn luôn mồm chửi bới, từ Trời đổ xuống, kế đến Tây Phương Phật tổ, Đông Hải Quan Âm, Ngọc Hoàng trên trời, Diêm Vương dưới đất. Sau đó y lại chửi đến Tam Hoàng, Ngũ Đế, Nghiêu Thuấn Vũ Thang, Tần Hoàng, Đường Tông, văn thì cả Khổng Mạnh, võ thì đến Quan Nhạc[1] bất kể thánh hiền anh hùng nào cũng đều bị y chửi không còn sót một ai. Tạ Tốn cũng là một người tương đối có học, cho nên khi y chửi bới, Trương Thúy Sơn nghe cũng có chiều văn vẻ.
Đột nhiên, Tạ Tốn chửi tới các nhân vật võ lâm, bắt đầu từ Hoa Đà sáng tạo Ngũ Cầm Hí, tới Đạt Ma tổ sư của phái Thiếu Lâm, Nhạc Võ Mục thần quyền tán thủ, đều bị y coi không ra gì. Có điều không phải y chỉ chửi xuông, mà mỗi nhà mỗi phái y đều vạch những khuyết điểm, chỗ nào sai sót, đâu ra đấy. Y đi từ đời Đường xuống đời Tống rồi chửi tới những người đời cuối Nam Tống như Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, Bắc Cái, Trung Thần Thông[2], rồi tới Quách Tĩnh, Dương Quá, rồi sau cùng tới tổ sư phái Võ Đương Trương Tam Phong.
Y nhục mạ người khác thì không sao, bây giờ lại chửi đến cả ân sư, Trương Thúy Sơn nhịn làm sao nổi? Chàng đang toan mở miệng đáp lại, đột nhiên Tạ Tốn rống lên:
– Trương Tam Phong đã chẳng ra quái gì, thì đệ tử của y là Trương Thúy Sơn cũng đâu có vào đâu, để ta bóp cổ vợ nó xem nó làm gì ta.
Y tung mình nhảy tới, vượt qua bên cạnh Trương Thúy Sơn, chạy vào trong động. Trương Thúy Sơn đuổi theo, nghe ầm một tiếng, Tạ Tốn đã rơi xuống hố. Thế nhưng đáy hố chưa để chông, y tuy ngã xuống nhưng không bị thương, chỉ vì bất ngờ nên cũng kinh hoảng. Trương Thúy Sơn thuận tay cầm ngay cành cây chàng dùng để đào hố, thấy Tạ Tốn từ dưới hố toan nhảy lên, nên cúi xuống đánh mạnh xuống đầu y. Tạ Tốn nghe được hơi gió, tay trái quơ lên, đã chộp được cành cây, dùng sức giựt mạnh một cái. Trương Thúy Sơn cầm không chắc, cành cây tuột khỏi tay. Cái giựt đó kình lực thật mạnh khiến hổ khẩu Trương Thúy Sơn rách ra, lòng bàn tay cũng bị sước, máu chảy ròng ròng. Tạ Tốn bị sức lôi cũng ngã phịch trở xuống đáy hố.
Lúc đó Ân Tố Tố đang trở dạ, đau bụng đã nửa ngày rồi. Lúc đầu nàng thấy Tạ Tốn đi lại trước động không rời, không dám nói cho chồng biết, e ngại Tạ Tốn nghe thấy sẽ bớt đi một phần úy kỵ, làm khó vợ chồng nàng sớm hơn. Bây giờ thấy tình thế nguy cấp, mặc dù bụng đau như xé, nàng vẫn gượng cầm thanh trường kiếm bên cạnh ném cho Trương Thúy Sơn.
Trương Thúy Sơn chụp được thanh kiếm, nghĩ thầm: ?Người này võ công cao hơn ta nhiều quá, nếu y nhảy lên, ta dùng kiếm chém xuống, thể nào kiếm cũng bị y đoạt mất?. Trong cơn nguy cấp, đột nhiên nghĩ ra: ?Hai mắt y đã mù, sở dĩ y đoạt được binh khí toàn là do tiếng gió từ binh khí mà nhận ra hướng của chiêu thế?.
Chàng nghĩ ra lẽ đó, nghe Tạ Tốn cười ha hả, lại tung mình nhảy lên. Trương Thúy Sơn nhắm chính xác đường đi của y, để mũi kiếm đúng ngay nơi đầu não, giữ nguyên không động đậy. Tạ Tốn vừa phóng mình lên, thế nhảy thật mạnh, lao đầu vào đúng ngay mũi kiếm ở trên. Vì trường kiếm không di chuyển nên võ công y dù cao cũng không sao biết được. Chỉ nghe soẹt một tiếng, Tạ Tốn kêu rống lên thật to, trường kiếm đã đâm vào trán y, vào sâu cả tấc. Tuy nhiên y ứng biến thật nhanh, kiếm vừa đâm vào đầu, lập tức ngả đầu ra phía sau, đồng thời sử dụng công phu Thiên Cân Trụy rơi trở lại xuống hố. Nếu y biến chiêu chậm một tí, mũi kiếm sẽ đâm thẳng vào óc, chết ngay lập tức. Tuy thế, đầu y cũng bị thương nặng, máu chảy ra đầy mặt, trường kiếm cắm trên trán, không ngừng lay động.
Tạ Tốn giựt thanh kiếm ra, xé vạt áo để buộc vết thương, y thấy đầu váng mắt hoa, biết mình bị thương không nhẹ, bệnh điên nổi lên, rút từ lưng ra thanh đao Đồ Long múa lên vù vù, bảo vệ đỉnh đầu, lại nhảy lên lần thứ ba. Trương Thúy Sơn vác những tảng đá, liên tiếp nhắm y ném xuống, nhưng đều bị thanh đao gạt ra. Chỉ thấy thanh đao quay tròn như tuyết rơi, hàn quang lấp lánh, Tạ Tốn đã nhảy được lên bờ, tiến thẳng vào động. Trương Thúy Sơn từng bước, từng bước lùi lại, lòng đau như cắt, nghĩ đến hôm nay cùng Ân Tố Tố hai người táng mạng, không được nhìn thấy đứa con chưa kịp chào đời.
Tạ Tốn sợ Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố có thể len lén đi ngang mình chui ra khỏi hang, ra đến ngoài thì không sao đuổi kịp, nên tay phải cầm đao, tay trái cầm kiếm, sử động những chiêu số bao trùm một vùng thật rộng, bao quát đến hơn hai trượng vuông, tin chắc hai người không thể nào đào tẩu được.
Bỗng nhiên từ trong động một tiếng ?Oa? truyền ra tiếng khóc của hài nhi. Tạ Tốn giật mình kinh hãi, lập tức dừng lại, chỉ nghe đứa bé khóc vang không dứt.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố biết đây là lúc đại nạn lâm đầu, nhưng không nhìn Tạ Tốn làm gì, hai người chỉ chú mục vào đứa con mới sinh. Đó là một đứa bé trai, tay chân vùng vẫy, kêu khóc inh ỏi. Trương Ân biết rằng Tạ Tốn chỉ cần một đao chém xuống, cả hai vợ chồng lẫn đứa con sơ sinh đều chết tươi. Hai người không nói một câu, mắt cũng không không liếc sang, trong lòng thầm cảm ơn trời đất, đã cho mình được có dịp nhìn thấy đứa con, nên nhìn được thêm giây phút nào, hưởng thêm hạnh phúc giây phút ấy.
Hai vợ chồng lúc này đã thỏa nguyện, không còn nghĩ đến số mệnh của mình, nếu giữ được cho con khỏi chết thì tốt nhất, nhưng biết không có khả năng, nên vì thế ngay cả một ý nghĩ cũng không màng đến.
Đứa trẻ vẫn tiếp tục khóc oa oa. Đột nhiên Tạ Tốn lương tri nổi dậy, bệnh điên biến mất, đầu óc trở lại sáng suốt bình thường. Y nghĩ đến khi toàn gia bị người ta giết hại, vợ y cũng mới sinh con chưa lâu, ngay cả đứa hài nhi cũng không thoát khỏi độc thủ của địch. Mấy tiếng khóc oa oa đã đưa y trở lại biết bao chuyện cũ: từ tình nồng mặn của vợ chồng, sự hung tàn của kẻ địch, đứa trẻ thơ vô tội bị quật chết thành một đống máu thịt bầy nhầy, bản thân mình cô khổ lênh đênh, kiệt tận toàn lực nhưng không tìm ra cách báo thù, nay tuy đã được thanh đao Đồ Long, nhưng bí mật trong thanh đao vẫn chưa tìm thấy ?
Y đứng ngẩn ngơ xuất thần, trên mặt lúc thì ôn hòa cười nụ, khi lại nghiến răng trợn mắt. Chỉ trong chớp mắt, ba người đang trong cảnh sống chết, nhưng từ tiếng khóc đầu tiên của hài nhi, cả ba người cùng toàn thần chú tâm vào đứa trẻ.
Tạ Tốn đột nhiên hỏi:
– Con trai hay con gái?
Trương Thúy Sơn đáp:
– Con trai.
Tạ Tốn nói:
– Tốt lắm. Thế đã cắt rốn chưa?
Trương Thúy Sơn nói:
– Phải cắt rốn ư? A, đúng rồi, đúng rồi, tôi quên khuấy đi mất.
Tạ Tốn quay ngược trường kiếm, đưa cán kiếm tới. Trương Thúy Sơn cầm lấy, cắt đứt cuống rốn đứa trẻ, bấy giờ mới nghĩ ra, Tạ Tốn đang ở ngay bên cạnh, nhưng y tuyệt nhiên không động thủ, trong lòng thấy lạ lùng, quay lại nhìn y, thấy trên mặt Tạ Tốn đầy vẻ quan hoài, tưởng như muốn giúp một tay không chừng.
Ân Tố Tố nói giọng yếu ớt:
– Cho em bế một tí.
Trương Thúy Sơn bế con lên, để vào lòng vợ. Tạ Tốn lại nói:
– Ngươi đã nấu nước để tắm cho nó chưa?
Trương Thúy Sơn bật cười, nói:
– Tôi thật là hồ đồ, chẳng chuẩn bị gì cả, thằng bố này thật là vô dụng.
Nói xong chàng định đi ra ngoài đun nước, nhưng chỉ mới dợm bước, thấy thân hình to lớn của Tạ Tốn chắn trước mặt đứa bé, trong lòng lại sợ run. Tạ Tốn nói:
– Thôi ngươi ở lại giúp cho phu nhân và cháu bé, ta đi nấu nước cho.
Y cắm thanh đao Đồ Long vào thắt lưng, rồi hối hả đi ra ngoài, đến chỗ cái hố nhẹ nhàng nhảy vọt qua.
Một lát sau, quả nhiên Tạ Tốn đã đem một chậu nước nóng vào, Trương Thúy Sơn liền tắm cho đứa trẻ. Tạ Tốn thấy hài nhi tiếng khóc vang vọng, hỏi:
– Thằng bé giống bố hay giống mẹ?
Trương Thúy Sơn mỉm cười:
– Xem chừng giống mẹ nhiều hơn, không lớn lắm, mặt trái xoan.
Tạ Tốn thở dài, hạ giọng nói:
– Cũng mong sau này y lớn khôn, đa phúc đa thọ, đừng phải chịu khổ nhiều.
Ân Tố Tố nói:
– Tạ tiền bối, ông xem tướng thằng bé không được tốt hay sao?
Tạ Tốn đáp:
– Chẳng phải vậy. Có điều nếu nó giống phu nhân, thì sẽ đẹp lắm, e rằng phúc trạch sẽ không nhiều, sau này ra đời, gặp nhiều tai nạn.
Trương Thúy Sơn cười đáp:
– Tiền bối nghĩ xa quá, bốn người mình ở trên hòn đảo hoang nơi cực bắc, thằng bé này ắt là chết già nơi đây, làm gì còn có dịp trùng nhập nhân thế mà phải lo.
Ân Tố Tố hấp tấp nói:
– Không đâu, không đâu. Bọn mình không về cũng được, nhưng thằng bé này không lẽ để nó một thân một mình nơi hòn đảo hoang này? Vài mươi năm nữa, ba người mình chết hết rồi, ai làm bạn với nó? Khi nó lớn lên, làm sao lấy vợ sinh con?
Nàng từ bé nhiễm tính cha, lại ở trong Thiên Ưng giáo, tai nghe mắt thấy toàn những điều độc ác, tàn nhẫn, nên ra đời hành sự cũng theo như thế, coi là chuyện bình thường. Từ khi làm vợ Trương Thúy Sơn, nàng bắt đầu hướng thiện, hôm nay lại được làm mẹ, trong lòng từ ái nảy sinh, nên đã hết sức hết lòng nghĩ cho con.
Trương Thúy Sơn nhìn nàng buồn bã, giơ tay vuốt tóc vợ, nghĩ thầm: ?Hoang đảo này cách xa Trung Thổ hàng vạn dặm, làm cách nào mà về được bây giờ??. Tuy nhiên chàng không nỡ làm vợ đau lòng, nên nhịn không nói ra.
Tạ Tốn bỗng nói:
– Trương phu nhân nói không sai. Bọn mình thì coi như xong rồi, nhưng đâu có thể để cho đứa trẻ chết già nơi hoang đảo, không được hưởng một giây phút nào cái hoan lạc của cuộc đời? Trương phu nhân, ba người mình phải cùng tâm kiệt lực, đưa được thằng bé về Trung Thổ.
Ân Tố Tố mừng quá, run rẩy đứng lên. Trương Thúy Sơn giơ tay đỡ nàng, kinh hoảng:
– Tố Tố, em sao thế? Mau nằm xuống đi.
Ân Tố Tố đáp:
– Không đâu, ngũ ca, hai đứa mình phải khấu đầu vài cái trước Tạ tiền bối, cảm tạ đại ân đại đức của ông ấy.
Tạ Tốn xua tay nói:
– Không cần, không cần. Thằng bé này đã đặt tên chưa nhỉ?
Trương Thúy Sơn đáp:
– Chưa. Tiền bối học vấn uyên bác, xin đặt cho cháu một cái tên.
Tạ Tốn trầm ngâm:
– Hừ, phải đặt cái tên nào đẹp một tí, để ta nghĩ xem đã.
Ân Tố Tố bỗng nhiên nghĩ thầm: ?Không lẽ quái nhân này lại thích trẻ con đến thế, nếu y coi đứa bé như con mình, thì thằng bé sống trên đảo này không còn sợ y làm hại, dẫu bệnh điên có phát ra, chắc cũng không hạ độc thủ?. Nàng nói:
– Tạ tiền bối, chúng tôi vì đứa bé này mà khẩn khoản xin tiền bối một điều, xin đừng từ chối.
Tạ Tốn hỏi:
– Điều gì thế?
Ân Tố Tố đáp:
– Xin ông nhận thằng bé này làm con nuôi. Khi nó lớn lên, đối với ông phụng dưỡng chẳng khác gì cha ruột. Được ông chiếu liệu, một đời nó không còn sợ gì nữa. Ngũ ca, anh nghĩ thế có phải không?
Trương Thúy Sơn hiểu ngay cái mối lo của vợ, nói:
– Hay lắm, hay lắm. Tạ tiền bối, xin ông đừng từ chối, xin nhận lời cầu xin của vợ chồng chúng tôi.
Tạ Tốn buồn bã nói:
– Con ruột của ta bị người ta quật chết, thành một đống máu thịt bầy nhầy, các ngươi đã thấy chưa?
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nhìn nhau, thấy điều y nói vẫn có vẻ điên khùng, nhưng nghĩ lại cái cảnh thảm khốc y phải chịu, trong lòng không khỏi se lại. Tạ Tốn lại nói tiếp:
– Nếu con ta không chết, năm nay cũng đã mười tám tuổi rồi. Ta đem một đời công phu truyền cho nó, hà hà, chưa chắc nó đã kém gì Võ Đương thất hiệp đâu.
Câu nói đó trong vẻ thê lương cũng có đôi phần cuồng ngạo, trong cái tự phụ lại chứa chất nỗi tịch mịch thương tâm vô cùng, khiến Ân Tố Tố và Trương Thúy Sơn không khỏi hối hận: ?Giá như hôm đó trên khối băng sơn mình không hủy đôi mắt của y, bốn người sống với nhau trên hòn đảo hoang này, không lo không phiền, chẳng hay lắm ư??.
Ba người lặng yên giây lát. Trương Thúy Sơn nói:
– Tạ tiền bối, nếu tiền bối thu thằng bé này làm con nuôi, chúng tôi sẽ để nói đổi qua họ Tạ.
Tạ Tốn trên mặt lộ vẻ vui mừng, nói:
– Ngươi bằng lòng cho nó họ Tạ ư? Đứa con của ta bị chết, tên là Tạ Vô Kỵ.
Trương Thúy Sơn nói:
– Nếu ông thích, thế thì, thằng bé này cũng đặt tên là Tạ Vô Kỵ.
Tạ Tốn mừng không để đâu cho hết, chỉ sợ Trương Thúy Sơn nói rồi sau lại hối hận, nói:
– Các ngươi đem con cho ta, còn chính mình thì sao?
Trương Thúy Sơn nói:
– Hài nhi dù là họ Tạ hay họ Trương, chúng tôi cũng đều yêu thương nó. Sau này y hiếu thuận với song thân, kính yêu nghĩa phụ, không coi đâu nặng nhẹ dày mỏng cả, không phải hay lắm sao? Tố Tố, em nghĩ có đúng không?
Ân Tố Tố hơi ngần ngại, nói:
– Phu quân nói sao thì làm vậy. Con mình càng được nhiều người yêu thương, càng lợi cho nó chứ sao.
Tạ Tốn vái hai người một cái thật sâu, nói:
– Vậy thì tôi cám ơn hai vị, cái hận làm hư mắt, chúng mình từ nay bỏ qua. Tạ Tốn tuy mất con mà lại có con, sau này Tạ Vô Kỵ dương danh thiên hạ, lúc đó ai nấy đều biết, cha mẹ nó là Trương Thúy Sơn, Ân Tố Tố, còn nghĩa phụ của nó là Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn.
Ân Tố Tố lúc đầu hơi do dự, vì nàng nghĩ đến Tạ Vô Kỵ đã chết, bị người ta quật nát như tương, con mình nếu lấy cái tên đó, e rằng không tốt, nhưng khi nàng thấy Tạ Tốn sung sướng như điên như cuồng, liệu tưởng y đối với thằng bé ắt sẽ cưng chiều lắm, sau này nó sẽ được rất nhiều điều hay. Tình mẹ thương con cái gì dù nhỏ nhặt đến đâu cũng nghĩ đến, miễn là có lợi cho con, thì đều hi sinh cả. Nàng ôm đứa con nói:
– Tiền bối có muốn bế nó một chút không?
Tạ Tốn giơ tay ra, bồng đứa trẻ trên tay, trong lòng vui sướng quá chẩy cả nước mắt, hai tay run run, nói:
– Bà ? bà bồng nó lại đi. Hình dạng tôi thế này làm nó chết khiếp mất.
Kỳ thực trẻ sơ sinh mới một ngày làm gì đã biết, nhưng y nói như thế, quả thực yêu thằng bé biết bao. Ân Tố Tố mỉm cười đáp:
– Nếu ông thích nó, cứ bế nó một lát. Sau này nó lớn lên, ông đưa nó đi chơi.
Tạ Tốn nói:
– Tốt lắm ? tốt lắm.
Nghe thằng bé khóc to, y liền nói:
– Hài nhi đói rồi, bà cho nó bú sữa đi. Tôi ra bên ngoài.
Thực ra hai mắt y đã mù, dù Ân Tố Tố có cho con bú trước mặt y cũng không sao, nhưng khi y phát điên thô bạo bao nhiêu, bây giờ trở lại bình thường vẫn là một người văn chất, nho nhã quân tử.
Trương Thúy Sơn nói:
– Tạ tiền bối ?
Tạ Tốn nói:
– Không, chúng mình đã thành người một nhà, cái gì mà còn tiền bối hậu bối, vai vế trên dưới? Để ta nói cho nghe, ba người chúng ta kết thành kim lan huynh đệ, sau này lợi cho thằng bé con.
Trương Thúy Sơn nói:
– Ông là tiền bối cao nhân, vợ chồng tôi so với ông thân phận cách xa quá, đâu dám vói cao.
Tạ Tốn đáp:
– Hừ, ngươi là con nhà võ, sao lại còn hủ lậu thế? Ngũ đệ, ngũ muội, các ngươi có gọi ta là đại ca hay không thì bảo?
Ân Tố Tố cười đáp:
– Để em gọi đại ca trước, hai người mình kết bái thành anh em. Nếu anh ấy còn gọi là tiền bối, em cũng thành tiền bối của anh ấy luôn.
Trương Thúy Sơn nói:
– Nếu đã như thế, tiểu đệ đành phải nghe theo đại ca thôi.
Ân Tố Tố nói:
– Ba người mình cứ định như thế đã, vài ngày nữa khi em khỏe lại, mình sẽ tế cáo trời đất, bái kết nghĩa phụ, nghĩa huynh.
Tạ Tốn ha hả cười, nói:
– Đại trượng phu một lời nói ra, cả đời không đổi, việc gì phải bái trời bái đất. Giặc trời già tự mình không lo nổi cho mình, Tạ Tốn này hận y lắm lắm.
Nói xong hiên ngang đi ra khỏi động, từ ngoài cánh đồng không tiếng cười hả hê của y vang lại, hiển nhiên cực kỳ đắc ý. Trương Ân từ khi biết y đến nay, chưa bao giờ thấy Tạ Tốn hoan hỉ như thế.
Từ đó ba người toàn tâm toàn ý nuôi dưỡng thằng bé. Tạ Tốn khi còn trẻ làm nghề săn bắn, lại có hiệu là Kim Mao Sư Vương, dạy thú bắt muông không ai sánh kịp. Trương Thúy Sơn nói cặn kẽ từng nơi từng chốn trên đảo, y đi qua một lượt là nhớ hết. Từ đó việc bắt hươu, giết gấu một mình Tạ Tốn lo liệu.
Chẳng mấy chốc đã qua mấy năm, ba người sống trên đảo bình yên vô sự. Thằng bé con không bệnh tật gì, càng lớn càng khỏe mạnh. Trong ba người hóa ra Tạ Tốn lại cưng chiều y nhất, khi nào nó quá ương ngạnh, Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố muốn trách phạt, thì Tạ Tốn lại can. Mấy lần như thế, đứa trẻ biết được nghĩa phụ che chở, mỗi khi cha mẹ nổi cáu, liền chạy sang Tạ Tốn cầu cứu. Trương Ân chỉ còn nước lắc đầu cười nụ, nói đại ca nuông quá hóa hư.
Năm Vô Kỵ được bốn tuổi, Ân Tố Tố dậy y học chữ. Sinh nhật năm tuổi, Trương Thúy Sơn nói:
– Đại ca, thằng bé học võ được rồi. Từ nay đại ca dạy cho cháu có được không?
Tạ Tốn lắc đầu:
– Không được, võ công của ta quá sâu xa, trẻ con không thể nào lãnh ngộ được. Sao hiền đệ không truyền cho nó Võ Đương tâm pháp, đợi khi nào nó được tám tuổi, lúc đó ta mới dạy cho nó, chỉ dạy hai năm thì các ngươi trở về được rồi.
Ân Tố Tố lạ lùng hỏi:
– Đại ca nói về là về đâu? Về Trung Thổ ư?
Tạ Tốn đáp:
– Mấy năm nay ta ngày ngày nghe ngóng hướng gió, chiều nước. Mỗi năm đến kỳ đêm dài nhất, thì có gió bắc, thổi liên tiếp mấy chục ngày không ngừng. Mình có thể đóng một cái bè gỗ lớn, dương buồm lên, theo gió bắc mà xuôi nam. Nếu giặc trời già không làm gì trái khoáy, không chừng các ngươi có thể về Trung Thổ được.
Ân Tố Tố nói:
– Các ngươi? Không lẽ đại ca không về cùng sao?
Tạ Tốn đáp:
– Ta hai mắt mù rồi, trở về Trung Thổ làm cái gì?
Ân Tố Tố nói:
– Nếu đại ca không về, chúng em cũng không thể nào để đại ca ở đây một mình. Thằng bé chắc cũng không chịu, không có nghĩa phụ, ai cưng chiều nó đây?
Tạ Tốn thở dài:
– Ta cưng chiều nó mười năm cũng đủ rồi. Trời già vốn ghét ta hay phá phách, thằng bé nếu ở bên ta quá lâu, e rằng tặc lão thiên cũng ghét lây qua nó, khiến nó chịu nhiều tai họa.
Ân Tố Tố cảm thấy lạnh người, nghĩ lại chắc y chỉ thuận miệng nói thôi, nên cũng không để tâm. Trương Thúy Sơn truyền thụ cho thằng bé căn cơ nội công, nghĩ rằng nó còn bé, chỉ cốt sao cho khỏe mạnh là đủ, ở trên hòn đảo hoang này có đánh nhau với ai. Tạ Tốn tuy có nói chuyện về Trung Thổ, nhưng sau đó không bao giờ đề cập đến nữa, xem ra chỉ là hứng nhất thời, không lấy đó mà theo được.
Khi đã được tám năm, quả nhiên Tạ Tốn bảo Vô Kỵ theo y học võ, khi truyền thụ không gọi Trương Ân đứng bên cạnh để xem. Hai vợ chồng cũng tôn trọng qui củ võ lâm, đi thật xa, đối với tiến cảnh của Vô Kỵ cũng không tra hỏi, tin rằng Tạ Tốn dạy cho, đều phải là tuyệt học cao minh dị thường.
Trên đảo không có gì để ghi lại, ngày tháng trôi như nước chảy, thấm thoát đã hơn một năm. Từ khi Vô Kỵ sinh ra, Tạ Tốn trong lòng đã có nơi nghĩ đến nên không còn để ý gì đến bảo đao Đồ Long. Một đêm Trương Thúy Sơn bất ngờ mất ngủ, nửa đêm ra ngoài tản bộ, dưới ánh trăng chàng nhìn thấy Tạ Tốn ngồi xếp bằng trên một phiến đá, hai tay bưng thanh đao, đang cúi đầu suy nghĩ. Trương Thúy Sơn giật mình, muốn tránh ra, nhưng Tạ Tốn đã nghe thấy tiếng chân của chàng, nói:
– Ngũ đệ, tám chữ ?võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long? xem ra chỉ là hư ngôn.
Trương Thúy Sơn đến gần nói:
– Trong võ lâm những điều hoang đường thật biết bao nhiêu mà kể. Người tài trí thông minh như đại ca, đối với lời nói về thanh đao này lại cứ canh cánh không quên là sao?
Tạ Tốn đáp:
– Có điều ngươi chưa biết, ta từng nghe một vị hữu đạo cao tăng của phái Thiếu Lâm là Không Kiến đại sư nói về việc này rồi.
Trương Thúy Sơn nói:
– A, Không Kiến đại sư ư? Nghe nói ông ta là sư huynh của chưởng môn phái Thiếu Lâm Không Văn đại sư, nhưng tạ thế đã lâu rồi.
Tạ Tốn gật đầu:
– Đúng rồi, Không Kiến đã từ trần, chính ta đánh chết ông ta đấy.
Trương Thúy Sơn giật mình kinh hãi, nghĩ thầm trong giang hồ có hai câu truyền ngôn: ?Thiếu Lâm thần tăng, Kiến Văn Trí Tính? là để chỉ đương thời bốn vị hòa thượng võ công tối cao của chùa Thiếu Lâm là Không Kiến, Không Văn, Không Trí, Không Tính. Về sau nghe nói Không Kiến đại sư bị bạo bệnh qua đời, không ngờ lại do Tạ Tốn đánh chết.
Tạ Tốn thở dài, nói:
– Vị Không Kiến đại sư đó thật là cố chấp, ông ta chỉ chịu cho ta đánh, trước sau không đánh trả, ta đánh ông ta mười ba quyền, sau cùng đánh chết ông ấy.
Trương Thúy Sơn trong bụng sợ hãi, nghĩ thầm: ?Người nào chịu được đại ca đánh một quyền, một cước mà không chết đã là võ lâm bậc nhất cao thủ, vị thần tăng của phái Thiếu Lâm này chịu được mười ba quyền, thân thể như vậy còn cứng hơn sắt đá?. Thế nhưng chàng thấy Tạ Tốn thần sắc thê lương, trên mặt có dáng hối hận, hẳn rằng trong vụ này có cái gì hết sức ghê gớm. Từ khi chàng cùng Tạ Tốn kết nghĩa đến nay đã tám năm, cùng sống trên một hoang đảo, tình như ruột thịt, thế nhưng đối với vị nghĩa huynh này, trong kính trọng có ba phần sợ hãi, ngại rằng y có thể nhớ lại hận cũ ngày xưa, thành thử không bao giờ hỏi đến.
Nào ngờ Tạ Tốn nói tiếp:
– Ta bình sinh khâm phục chỉ có vài người. Tôn sư Trương chân nhân ta nghe danh đã lâu, nhưng vô duyên chưa gặp. Còn vị Không Kiến đại sư này, quả là một cao tăng. Tuy về mặt võ công ông ta không nổi danh như các sư đệ Không Trí, Không Tính, nhưng dưới mắt ta, hai vị Không Trí, Không Tính không sao bì kịp lão nhân gia.
Trương Thúy Sơn trước kia cũng đã nghe y bình luận các nhân vật đương thời, phần lớn người nào cũng bị y cười khẩy khinh thị. Dù người nào bị mắng chửi vài câu, đã được coi là nhân vật hạng nhất rồi, còn được y ca ngợi một câu lại càng khó hơn. Nào ngờ khi y đề cập đến Không Kiến đại sư lại ra chiều khâm phục đến vậy, quả là không ngờ đến, nên nói:
– Có lẽ vì người ẩn cư thanh tu, ít đi lại trên giang hồ, nên võ học cao siêu nhưng ít ai biết đến.
Tạ Tốn ngửng đầu lên trời, ngơ ngẩn, nói một mình:
– Thật là đáng tiếc thay, một vị cái thế kỳ sĩ trong võ lâm như thế, vậy mà để ta đánh mười ba quyền chết tại chỗ. Ông ta võ công tuy cao, nhưng lại cũng không thực tế, nếu khi đó ra tay đánh lại ta thì Tạ Tốn làm sao còn sống được đến hôm nay?
Trương Thúy Sơn nói:
– Không lẽ võ công của vị cao tăng đó, so với đại ca lại còn cao hơn ư?
Tạ Tốn nói:
– Ta làm sao so sánh được với ông ấy. Ta kém xa, kém xa lắm. Nói đúng ra là cách xa một trời một vực.
Khi y nói câu đó, trên mặt, giọng nói đầy vẻ kính ngưỡng khâm phục. Trương Thúy Sơn lấy làm lạ, trong lòng không thể tin nổi, tự biết ân sư Trương Tam Phong là một võ học gia trước nay ít có, nhưng so với Tạ Tốn, e rằng cũng chỉ thắng y một ít, nếu như Không Kiến đại sư so với Tạ Tốn cách xa như thế, nói đến ?một trời một vực?, thì không lẽ còn giỏi hơn ân sư hay sao? Thế nhưng cũng biết rằng tuy tên của Tạ Tốn có một chữ ?tốn?, tính tình y lại cực kỳ kiêu ngạo, nếu ông ấy không hơn y thực sự, thì y nhất định không thể nào nhận không bằng.
Tạ Tốn xem chừng đoán được tâm ý của chàng, nói:
– Ngươi không tin phải không? Được rồi, đi gọi Vô Kỵ ra đây, để ta kể câu chuyện cũ cho y nghe.
Trương Thúy Sơn thầm nghĩ trong giờ phút canh khuya này, Vô Kỵ chắc đã ngủ say, lay nó dậy để nghe kể chuyện xưa thật chẳng có ích gì, nhưng đại ca đã ra lệnh, không tiện từ khước, nên đành quay về hang gấu, gọi con dậy. Vô Kỵ nghe nói nghĩa phụ kể chuyện cho nghe, kêu lên mừng rỡ khiến cho Ân Tố Tố cũng thức dậy theo. Ba người ra ngoài ngồi bên cạnh Tạ Tốn.
Tạ Tốn nói:
– Con ơi, không bao lâu nữa con sẽ quay về Trung Thổ ?
Vô Kỵ lạ lùng hỏi:
– Quay về Trung Thổ là sao?
Tạ Tốn xua tay, ý muốn y đừng cắt ngang câu chuyện, nói tiếp:
– Hoặc giả chiếc bè sẽ bị chìm dưới biển khơi, hay bị gió thổi đi mất tăm mất tích, thì coi như xong, không cần nói tới. Còn như về được Trung Thổ, ta nói cho con nghe, trên đời lòng người hiểm ác, không có thể tin vào ai được. Trừ cha mẹ thôi, ai ai cũng có bụng muốn hại con. Tiếc thay hồi ta còn nhỏ, không ai nói với ta như thế, ôi, mà nếu có nói, lúc ấy chắc ta cũng không tin.
Năm ta mười tuổi, vì một cơ duyên ngoài ý muốn, được một vị võ học cực cao cho làm môn đệ. Sư phụ của ta thấy ta tư chất không kém, nên có bụng thương yêu, dốc túi đem hết sở học truyền thụ. Thầy trò ta tình như cha con, ngũ đệ, đương thời ta đối với sư phụ kính yêu ngưỡng mộ, có lẽ so với ngươi đối với ân sư chẳng khác chút nào.
Năm ta hai mươi ba tuổi thì rời sư môn, đi đến tận Tây Vực, kết giao cùng một số bằng hữu lai lịch rất lớn, được họ quí trọng, coi như anh em. Ngũ muội, lệnh tôn Bạch Mi Ưng Vương thời đó cũng là người cùng ta kết giao đó. Sau đó ta lấy vợ sinh con, một nhà sum họp vui vầy, quả thực sung sướng.
Năm ta hai mươi tám tuổi, sư phụ ta đến thăm gia đình ta mấy ngày, trong lòng ta thật cao hứng, cả nhà hết lòng tiếp đãi, lúc rảnh rỗi, sư phụ ta lại chỉ điểm thêm công phu cho ta. Nào ngờ vị cao thủ thành danh trong võ lâm đó, lại mặt người dạ thú, rằm tháng bảy năm đó uống rượu xong, bỗng đối với vợ ta thi hành cường bạo…
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cùng ?A? lên một tiếng. Việc thầy cưỡng gian vợ học trò, trong võ lâm chưa từng nghe đến, là một chuyện đại ác mà trời lẫn người đều căm phẫn. Tạ Tốn nói tiếp:
– Vợ ta kêu la cầu cứu, cha ta nghe tiếng chạy vào, sư phụ ta thấy chuyện đổ bể, một quyền đánh chết phụ thân ta, sau đó đánh chết luôn mẹ ta, đem đứa con ta vừa mới đầy năm Tạ Vô Kỵ ?
Vô Kỵ nghe y nói đến tên mình, lạ lùng hỏi lại:
– Tạ Vô Kỵ?
Trương Thúy Sơn mắng nó:
– Không được lắm lời. Nghe nghĩa phụ nói chuyện.
Tạ Tốn nói:
– Đúng thế, đứa con thân sinh của ta cũng trùng tên với con, gọi là Tạ Vô Kỵ. Sư phụ ta cầm thằng bé, quật xuống thành một đống máu thịt nát nhừ.
Vô Kỵ không nhịn nổi, hỏi lại:
– Nghĩa phụ, y ? y có sống được không?
Tạ Tốn buồn bã lắc đầu, nói:
– Không sống được, không sống được.
Ân Tố Tố quay qua con xua tay, để y đừng hỏi nữa.
Tạ Tốn lặng người đi hồi lâu rồi mới nói:
– Lúc đó ta thấy tình cảnh như thế, sợ đến mất vía, trong lòng hoang mang, không biết phải đối phó cách nào với vị ân sư mà bình sinh ta kính yêu bậc nhất. Đột nhiên y đấm vào ngực ta, ta bàng hoàng đến mức không tránh đỡ, trúng một quyền lăn ra bất tỉnh. Khi tỉnh lại, sư phụ ta không biết đã đi đâu, chỉ thấy người chết đầy nhà, cha mẹ vợ con, em trai em gái, bộc dịch, toàn gia mười ba người, đều chết dưới quyền của ông ta. Có lẽ ông ta tưởng rằng một quyền đã đánh chết ta rồi nên không hạ độc thủ nữa.
Ta bị một cơn bệnh nặng, khi khỏi rồi bắt đầu khổ luyện võ công, ba năm sau đi kiếm sư phụ của ta báo thù. Thế nhưng công phu của ta so với ông ta còn thua xa, tưởng là báo thù nào ngờ chỉ thêm nhục, nhưng cái huyết cừu mười ba mạng người, đâu phải vì thế mà bỏ qua. Ta đi tìm hết mọi danh sư, không ăn không ngủ luyện tập, cái khổ công đó cũng thành tựu phần nào. Năm năm sau, ta tự thấy công phu đại tiến, lại đi tìm sư phụ ta lần nữa. Nào ngờ công phu của ta tuy cao, tài nghệ của ông ta lại càng cao hơn, lần thứ hai báo thù lại bị đánh trọng thương.
Sau khi ta hồi phục không lâu, có được một bộ quyền phổ ?Thất Thương Quyền?, đường quyền này uy lực quả không phải tầm thường. Ta chuyên luyện nội kình Thất Thương Quyền, hai năm sau quyền kỹ đại thành, tự cho rằng mình đã ngang ngửa với những cao thủ đệ nhất trong võ lâm. Sư phụ ta nếu không có duyên gặp được cái gì khác thường, ắt không thể nào là địch thủ của ta được. Thế nhưng đâu ngờ được lần thứ ba đi kiếm ông ta, thì không tìm được nơi ông ta cư trú nữa. Ta nghe ngóng khắp nơi, vẫn không sao điều tra được, có lẽ ông ta lẩn trốn nơi thâm sơn cùng cốc nào, nhưng đất trời mênh mông biết đi tìm đâu bây giờ?
Ta giận dữ quá bèn gây ra rất nhiều vụ án, giết người đốt nhà, không việc gì không làm. Tại mỗi vụ án ta đều để lại tên của sư phụ ta trên tường.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cùng kêu lên ?A? một tiếng. Tạ Tốn hỏi:
– Các ngươi đã biết sư phụ của ta là ai chưa?
Ân Tố Tố gật đầu đáp:
– Ồ, hóa ra đại ca là đệ tử của Hỗn Nguyên Tích Lịch[3] Thủ Thành Côn.
Thì ra hai năm trước đây, trong võ lâm đột nhiên sinh ra rất nhiều sóng gió, từ Liêu Đông cho chí Lĩnh Nam, chỉ trong nửa năm có đến hơn ba mươi vụ đại án, nhiều hào kiệt nổi danh bỗng dưng bị giết một cách bất minh, bất bạch, nhưng hung thủ đều để lại cái tên Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn. Người bị hại nếu không phải là chưởng môn một phái, cũng là một lão anh hùng giao du thật rộng, mỗi vụ lại liên quan đến rất nhiều người. Chỉ cần một vụ thôi cũng đã loan truyền vang dội khắp võ lâm, huống chi lại đến hơn ba mươi vụ. Lúc đó Võ Đương thất hiệp cũng đã vâng lời sư phụ xuống núi tra tìm, nhưng không kiếm ra manh mối gì. Ai cũng biết là người nào đó đã cố tình giá họa cho Thành Côn.
Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn võ công rất cao, trước nay thanh danh rất tốt, trong số người bị hại có cả một số bằng hữu thâm giao của ông ta, nên những vụ án đó nhất định không phải ông ta làm. Thế nhưng muốn biết hung thủ thì phải tìm được ông ta trước đã, nhưng đột nhiên ông ta biến mất không thấy tăm hơi, không còn tin tức gì cả. Sau một thời náo loạn, ba mươi vụ án rồi cũng chìm xuống. Tuy số người muốn báo thù rửa hận có hàng trăm hàng nghìn, nhưng vì không biết hung thủ là ai, ai nấy cũng chỉ còn để trong lòng mà thôi. Nếu không phải hôm nay Tạ Tốn thổ lộ chân tướng, Trương Thúy Sơn làm sao biết được nguyên ủy vụ này.
Tạ Tốn nói:
– Ta mạo danh Thành Côn gây ra những vụ án, chỉ mong bức bách được y phải ra mặt, dù ông ta cứ rụt đầu rụt cổ trốn tránh thì hàng trăm hàng ngàn người cùng đi tìm, chẳng hơn chỉ một mình ta đi kiếm hay sao.
Ân Tố Tố nói:
– Kế đó hay lắm, có điều biết bao người vô tội phải chết vì tay đại ca, ở dưới âm thành quỉ hồ đồ, chẳng đáng thương lắm ư?
Tạ Tốn nói:
– Thế thì cha mẹ vợ con ta bị Thành Côn giết chết không phải là người vô tội sao? Không đáng thương ư? Ta xem trước đây cô tính tình sảng khoái, lấy ngũ đệ chín năm qua, học được cái tính ủy mị rồi.
Ân Tố Tố nhìn chồng mỉm cười:
– Đại ca, những vụ án đó bất ngờ nổi lên, rồi cũng tự nhiên biến mất, sau đó đại ca có tìm thấy Thành Côn không?
Tạ Tốn đáp:
– – Không, không thấy. Về sau ta ở Lạc Dương trông thấy Tống Viễn Kiều à Trương Thúy Sơn giật mình kinh hãi, nói:
– Sư ca của đệ Tống Viễn Kiều ư?
Tạ Tốn đáp:
– Đúng rồi. Chính là người đứng đầu Võ Đương thất hiệp Tống Viễn Kiều. Ta đã gây ra rất nhiều đại án, trên giang hồ đã náo loạn trời quay đất chuyển rồi, nhưng sư phụ ta Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn ?
Vô Kỵ hỏi:
– Nghĩa phụ, ông ta xấu xa như thế, sao cha còn gọi là sư phụ?
Tạ Tốn cười buồn đáp:
– Ta từ nhỏ gọi thế quen rồi. Dẫu gì, hơn một nửa võ công của ta là do ông ta truyền thụ, ông ta có tệ hại, thì ta cũng chẳng phải người tốt, biết đâu chừng cái xấu xa của ta cũng do ông ta dạy. Cái hay cũng do ông ta dạy, cái dở cũng do ông ta dạy, nên ta vẫn gọi là sư phụ.
Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Đại ca một đời gặp nhiều thảm họa, vì quá phẫn khích, hành sự không phân đâu là phải, đâu là trái. Vô Kỵ nghe những lời đó nhớ ở trong lòng, sau này lập thân ắt sẽ có hại, vài ngày nữa ta sẽ từ từ giải thích cho y nghe?.
Tạ Tốn nói tiếp:
– Ta thấy sư phụ ẩn nhẫn, nhất định không lộ diện, nghĩ thầm nếu không có một vụ đại án kinh thiên động địa, thì không thể nào ép ông ta ló đầu ra. Hiện nay trên võ lâm chỉ có hai phái Thiếu Lâm, Võ Đương là cao hơn cả, xem ra phải giết một người thuộc loại nhất lưu cao thủ trong phái Thiếu Lâm hay phái Võ Đương thì mới có hiệu quả. Hôm đó ta ở trong vườn mẫu đơn ngoài Thanh Hư quan, nơi thành Lạc Dương, trông thấy Tống Viễn Kiều ra tay trừng trị một tên ác bá, võ công thật cao cường, nên dự tính đêm đó sẽ tới giết y.
Trương Thúy Sơn nghe tới đây, bỗng nhiên khiếp đảm, mặc dù biết rằng đại sư ca không bị Tạ Tốn giết, nhưng nghĩ lại tình hình hung hiểm lúc đó, không khỏi ghê sợ. Tạ Tốn võ công cao hơn đại sư ca nhiều, huống chi một người ngoài sáng, một người trong tối, nếu như quả thực ra tay, đại sư ca chắc không thoát khỏi. Ân Tố Tố cũng biết Tống Viễn Kiều chưa chết, nói:
– Đại ca, chắc đột nhiên đại ca không nỡ giết người vô tội, chứ nếu đã giết Tống đại hiệp rồi thì vị Trương ngũ hiệp này nhất định sẽ thí mạng với đại ca, chứ đâu có thành anh em kết nghĩa được.
Tạ Tốn hừ một tiếng đáp:
– Làm gì có chuyện nỡ hay không nỡ? Nếu là ngày hôm nay, ta ắt nghĩ đến tình với ngũ đệ, không đến gây sự với phái Võ Đương. Có điều hồi đó ta chưa biết ngũ đệ, không nói gì là Tống Viễn Kiều mà có chính là ngũ đệ chăng nữa, e rằng nếu ta bắt gặp, cũng sẽ giết trước rồi tính sau.
Vô Kỵ lạ lùng hỏi:
– Nghĩa phụ, tại sao nghĩa phụ lại muốn giết cha con?
Tạ Tốn mỉm cười đáp:
– Đó là ta nói giả tỉ, chứ không phải muốn giết cha con thật.
Vô Kỵ nói:
– Ồ, thì ra là thế.
Y mới yên tâm. Tạ Tốn vuốt ve tóc thằng bé, nói tiếp:
– Giặc trời già tuy có nhiều chuyện không ra gì, nhưng không để ta giết Tống Viễn Kiều, nếu không ta và cha con thù ghét nhau, thì sẽ không thể nào cùng cha con kết nghĩa anh em được.
Ngừng lại một chút, nói tiếp:
– Tối hôm đó, ta ăn cơm chiều xong, ngồi trong khách điếm đả tọa dưỡng thần. Ta biết rằng Tống Viễn Kiều là người đứng đầu trong Võ Đương thất hiệp, võ công ắt phải có chỗ hơn người. Nếu như đánh một lần mà không trúng, để y chạy thoát, hoặc chỉ đánh y trọng thương mà không chết, hành tàng của ta ắt bị tiết lộ, mưu kế ép cho sư phụ ta phải lộ diện kia coi như xôi hỏng bỏng không. Hào kiệt trong khắp cả thiên hạ sẽ kiếm ta vây đánh, thì dù Tạ Tốn này có ba đầu sáu tay, cũng không thể nào đối địch. Ta có chết cũng không có gì đáng tiếc, nhưng cái mối huyết hải oan cừu này, không còn cách gì báo phục được nữa.
Trương Thúy Sơn hỏi lại:
– Thế đại ca tỉ võ với đại sư ca của tiểu đệ rồi sau ra sao? Đại sư ca chưa bao giờ nói với tiểu đệ về chuyện ấy, thật là lạ.
Tạ Tốn nói:
– Tống Viễn Kiều trước sau nào có hay biết, e rằng đến cả sáu chữ Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn cũng chưa nghe đến bao giờ, vì sau đó ta đâu có đi kiếm y.
Trương Thúy Sơn thở phào, nói:
– Tạ trời tạ đất.
Ân Tố Tố cười:
– Tại sao lại tạ giặc trời già, giặc đất già làm chi, tạ là tạ Tạ đại ca ngay trước mặt này chứ?
Trương Thúy Sơn và Vô Kỵ cùng cười.
[1] Quan Vũ, Nhạc Phi [2] Những nhân vật kiệt xuất trong bộ Anh Hùng Xạ Điêu [3] Tích lịch hay phích lịch là sét đánh ý nói quyền pháp mạnh mẽ như sấm sét
Hết tập 7

*******************************************************************************************************************

TẬP 8:
CÙNG PHÁT THẬP TẢI PHIẾM QUI HÀNG
Thắm thoát mười năm qua, Tha hương nay về nhà.
Oán ân đâu đà dứt, Huynh đệ nay đành xa.
Tạ Tốn chậm rãi nói:
– Tình cảnh buổi tối hôm đó, đến nay ta vẫn còn nhớ thật rõ ràng. Ta ngồi trên giường trong khách điếm ám vận chân khí, đem pho Thất Thương Quyền ôn lại trong lòng một lượt. Ngũ đệ, người từ trước tới nay chưa biết đến Thất Thương Quyền, có muốn xem thử hay không?
Trương Thúy Sơn chưa kịp trả lời, Ân Tố Tố đã chen vào:
– Chắc hẳn là thần diệu vô song, uy mãnh tuyệt luân. Đại ca, sao lúc đó đại ca không đi kiếm Tống Viễn Kiều?
Tạ Tốn mỉm cười, nói:
– Cô sợ ta thử quyền pháp sẽ làm bị thương ông chồng của cô ư? Nếu như quyền lực không thu phát tùy ý được, thì sao còn được gọi là Thất Thương Quyền?
Nói xong y đứng dậy, đi đến cạnh một cây lớn, quát lên một tiếng như tiếng sấm, nghe bùng một tiếng, một quyền đã đánh ngay vào thân cây.
Cứ như công lực của y, quyền đó nếu không đánh gãy đôi thân cây, thì quyền đầu cũng ngập vào trong gỗ, nào ngờ khi y thu quyền lại, cây đó tuyệt nhiên không tổn hại chút nào, ngay cả cành cây cũng không gãy. Ân Tố Tố trong lòng nhủ thầm: ?Đại ca ở trên đảo luôn chín năm, võ công tất cả đều mất hết. Từ trước tới nay không thấy đại ca luyện công, việc đó cũng không có gì làm lạ?. Sợ Tạ Tốn thương tâm, nàng vẫn lớn tiếng khen ngợi.
Tạ Tốn nói:
– Ngũ muội, tiếng khen của cô nghe gượng gạo lắm. Cô nghĩ võ công của ta không còn bằng trước, có phải không?
Ân Tố Tố nói:
– Tại nơi đảo hoang cực bắc này, đi qua đi lại cũng chỉ có bốn người thân, luyện võ để làm gì?
Tạ Tốn hỏi:
– Ngũ đệ, ngươi có nhìn thấy gì áo diệu không?
Trương Thúy Sơn nói:
– Tiểu đệ thấy thế quyền của đại ca mười phần cương mãnh, thế nhưng khi đánh vào thân cây, đến cái lá cũng không lay động, điểm đó tiểu đệ không sao hiểu được. Đến như Vô Kỵ đánh một quyền, cành cây cũng còn rung chuyển nữa là.
Vô Kỵ kêu lên:
– Con làm được.
Y chạy tới đấm bình một cái vào thân cây, quả nhiên cành cây rung rinh, dưới ánh trăng chiếu vào, bóng cây dưới đất lay động không ngừng. Vợ chồng Trương Thúy Sơn thấy con mình đánh ra hơi có sức, trong lòng mừng rỡ, cùng nhìn Tạ Tốn, đợi y giảng giải đạo lý bên trong.
Tạ Tốn nói:
– Ba ngày nữa, lá cây sẽ vàng và từ từ rụng xuống, nửa tháng sau, cả cây sẽ khô héo. Quyền của ta đã đánh đứt tất cả các thớ gỗ bên trong thân cây rồi.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố không khỏi kinh hãi, biết rằng y không phải kẻ đại ngôn, những lời đó ắt không phải giả dối. Tạ Tốn cầm thanh đao Đồ Long ở bên cạnh lên, rút ra khỏi vỏ, nghe soẹt một tiếng, chém xéo vào thân cây một nhát, chỉ nghe ầm một tiếng, nửa trên của đại thụ đã đổ xuống. Tạ Tốn thu đao về nói:
– Các ngươi nhìn thử xem uy lực Thất Thương Quyền của ta có còn như xưa không?
Ba người đến nhìn vết đao cắt ngang thân cây, thấy lõi cây quá nửa thớ gỗ đứt đoạn, thớ thì xoắn lại, thớ thì nát nhừ, có thớ đứt thành mấy khúc, có thớ chỗ đứt chỗ không, hiển nhiên trong một quyền đó bao hàm nhiều kình lực khác nhau. Trương Ân hai người hết sức thán phục.
Trương Thúy Sơn nói:
– Đại ca, hôm nay quả thực khiến cho tiểu đệ mở mắt.
Tạ Tốn không khỏi đắc ý, nói:
– Trong quyền của ta bao gồm bảy kình lực không đồng đều, cương mãnh có, âm nhu có, cương trung hữu nhu có, nhu trung hữu cương có, chém ngang có, đánh thẳng có, ép vào bên trong có. Địch nhân đỡ được kình lực thứ nhất, không đỡ được kình lực thứ hai, nếu đỡ được kình lực thứ hai, đến kình lực thứ ba làm sao đối phó? Ha ha, Thất Thương Quyền do đó mà thành tên. Ngũ đệ, hôm ngươi cùng ta đấu chưởng lực, nếu như ta đánh Thất Thương Quyền ra, ngươi không sao đỡ nổi.
Trương Thúy Sơn đáp:
– Đúng vậy.
Vô Kỵ định hỏi xem tại sao cha nó lại đấu chưởng với nghĩa phụ, thấy Tố Tố liên tiếp xua tay, nên không dám hỏi, chỉ nói:
– Nghĩa phụ, cha dạy cho con Thất Thương Quyền được không?
Tạ Tốn lắc đầu:
– Không được.
Vô Kỵ có vẻ thất vọng, toan nhõng nhẽo năn nỉ, Ân Tố Tố cười nói:
– Vô Kỵ, sao con ngốc thế? Môn võ công tinh diệu của nghĩa phụ con, nếu như không có nội công thượng thừa, làm sao luyện nổi?
Vô Kỵ đáp:
– Phải rồi, vậy để khi nào con có nội công thượng thừa rồi sẽ tính sau.
Tạ Tốn vẫn lắc đầu:
– Môn Thất Thương Quyền này không luyện là hơn. Thân thể chúng ta ai ai cũng âm dương nhị khí, kim mộc thủy hỏa thổ ngũ hành. Tim thuộc hỏa, phổi thuộc kim, thận thuộc thủy, tì thuộc thổ, gan thuộc mộc, một khi luyện Thất Thương Quyền thì bảy bộ phận đó cũng đều bị tổn thương. Pho quyền đó mỗi lần luyện công, nội tạng trong người lại tổn hại thêm một chút, nên mới gọi là Thất Thương, đúng là tổn thương mình trước, tổn thương địch sau. Nếu không phải vì luyện quyền pháp này mà bị thương tâm mạch, ta đâu có thỉnh thoảng nổi cơn điên, không cách gì chế ngự.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố bây giờ mới biết, tại sao y tài sức hơn người, võ công cao cường, nhưng khi phát điên rồi thì tâm trí đều mất hết. Tạ Tốn nói tiếp:
– Giá như nếu nội lực của ta thực là hồn hậu chắc chắn, được bằng Không Kiến đại sư, hoặc Võ Đương Trương chân nhân, rồi hãy luyện môn Thất Thương Quyền này, thì có lẽ không bị tổn thương, hoặc tổn hại chút ít, cũng không đáng ngại. Chỉ vì hồi đó ta quá nóng lòng báo thù, phải mất bao nhiêu tâm lực mới đoạt được trong tay phái Không Động một bản sao Thất Thương Quyền Phổ, quyền phổ vừa đến tay, lập tức ra tay luyện ngay, chỉ sợ quyền công chưa thành mà sư phụ ta đã chết, không báo thù được. Đến khi phát giác nội tạng đã bị tổn thương nặng thì không còn cách nào cứu chữa được nữa. Lúc đó ta không nghĩ ra, phái Không Động đời đời tương truyền bản quyền phổ, nhưng sao lại không có ai danh dương thiên hạ về môn công phu này. Ta cũng thích lộ quyền pháp này vì khi xuất quyền, hình thức cương mãnh, ồn ào rất có lợi thế. Ngũ muội, cô có hiểu được cái nguyên do trong đó không?
Ân Tố Tố trầm ngâm, đáp:
– Hừ, phải chăng quyền pháp này với công phu tích lịch gì đó của sư phụ đại ca không khác nhau bao nhiêu?
Tạ Tốn nói:
– Đúng thế. Sư phụ ta có ngoại hiệu là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ, chưởng lực chẳng khác gì sấm sét, uy lực cực kỳ ghê gớm kinh người. Nếu ta kiếm được ông ta, nếu dùng môn quyền Thất Thương này đối địch, ông ta sẽ cho rằng đây là quyền pháp chính ông dạy cho ta, đợi đến khi trúng đòn, ông ta biết là không phải thì cũng đã muộn. Ngũ đệ, ngươi đừng trách là ta dụng tâm hiểm độc, sư phụ ta bề ngoài trông có vẻ quê mùa, nhưng lại là người lắm mưu nhiều kế. Nếu không dĩ độc công độc, cái đại cừu này không cách gì báo được ? ôi, nói đến chi tiết thì thật quá nhiều mà vẫn chưa nói đến Không Kiến đại sư. Trở lại hôm đó ta ngồi vận khí ôn lại ba lượt Thất Thương Quyền công, rồi vượt tường ra ngoài, định đi kiếm Tống Viễn Kiều.
Ta vừa nhảy qua tường, thân hình chưa rơi tới đất, bỗng thấy đầu vai bị ai vỗ nhẹ một cái. Ta giật mình kinh hãi, cứ như võ công của ta lúc đó, một người nào giơ tay đập vào người mà không đỡ được, là điều khó mà tưởng tượng. Vô Kỵ, con nghĩ xem cái vỗ đó nhẹ thôi, nếu như người đó đem kình lực vào chưởng, có phải ta đã bị thương nặng rồi ư? Ta vội vàng quay lại giơ tay chộp, nhưng chỉ chộp vào quãng không, lại phản kích một quyền, quyền đó cũng không trúng ai cả, chân trái vừa chạm đất, lập tức quay lại, thì ngay lúc đó, lưng ta lại bị vỗ nhẹ một chưởng nữa, rồi người sau lưng ta thở dài nói: ?Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn?.[1] Vô Kỵ thấy câu chuyện thật thú vị, bật cười, nói:
– Nghĩa phụ, người đó định đùa chơi với cha hả?
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cũng đã nghĩ ngay, người đó hẳn phải là Không Kiến đại sư. Tạ Tốn kể tiếp:
– Lúc đó ta sợ đến lạnh cả người, chẳng khác gì rơi xuống vực sâu. Người đó võ công như thế, muốn giết ta thật dễ như trở bàn tay. Ông ta chỉ nói có tám chữ ?Khổ hải vô biên, hồi đầu thị ngạn? chỉ trong một giây thôi, nhưng trong giọng nói đầy lòng từ bi, từng chữ một lọt vào tai ta thật rõ ràng . Thế nhưng lúc đó trong bụng ta chỉ toàn là kinh hoàng phẫn nộ, quay đầu nhìn lại, thấy một nhà sư mặc áo trắng đứng đằng xa khoảng bốn trượng. Khi ta quay mình, nghĩ bụng ông ta chắc chỉ cách ta chừng ba thước, nào ngờ vừa vỗ vai ta xong, đã bay vút ra bốn trượng, thân pháp nhanh như thế, bộ pháp nhẹ như thế, thực không ai ngờ nổi.
Lúc đó trong đầu ta chỉ có một ý niệm ?Chắc là oan hồn nào bị ta giết hiện ra đòi mạng đây?, còn nếu là người sống, làm sao có ai thân pháp nhanh như thế. Ta nghĩ đó là ma, trong lòng thấy can đảm trở lại, quát: ?Yêu ma quỉ quái, cút ra cho xa, trời ông không sợ, đất ông không sợ, đâu có lẽ lại sợ cô hồn dã quỉ??. Nhà sư áo trắng chắp tay chào, nói:
– Tạ cư sĩ, lão tăng Không Kiến xin chào ngài.
Ta nghe hai chữ Không Kiến, nghĩ đến trên giang hồ vẫn nói đến hai câu ?Thiếu Lâm thần tăng, Kiến Văn Trí Tính?. Ông ta đứng đầu tứ đại thần tăng, hèn gì võ công cao siêu đến thế.
Trương Thúy Sơn nghĩ đến vị Không Kiến đại sư này về sau bị y đánh mười ba quyền mà chết, trong lòng cảm thấy áy náy không an. Tạ Tốn nói tiếp:
– Ta mới hỏi: ?Có phải là Không Kiến thần tăng của chùa Thiếu Lâm đấy chăng?? Nhà sư đáp: ?Hai chữ thần tăng, quả không dám nhận. Lão nạp[2] chính là Không Kiến ở chùa Thiếu Lâm đây?. Ta nói: ?Tại hạ vốn không quen biết đại sư, sao lại đùa rỡn như thế?? Không Kiến nói: ?Lão nạp nào có dám đùa rỡn với cư sĩ đâu? Xin hỏi cư sĩ, giờ này đang định đi đâu?? Ta đáp: ?Tôi đi đâu, có can hệ gì đến đại sư??. Không Kiến nói: ?Tối nay cư sĩ định đi giết đại hiệp Tống Viễn Kiều của phái Võ Đương, phải không??.
Ta nghe ông nói đúng việc ta đang định làm, lấy làm lạ lùng, lại thêm sợ hãi. Ông ta lại nói: ?Cư sĩ muốn có một vụ đại án chấn động võ lâm, khiêu khích Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn ra mặt, để báo thù việc y giết hại toàn gia ?? Ta nghe ông ấy nói đúng tên sư phụ ta, lại càng sợ hãi. Nên biết việc sư phụ ta giết hại cả nhà, ta chưa hề hé răng nói với một ai. Việc xấu xa đó sư phụ ta dĩ nhiên dấu kín, còn bản thân ta cũng không nói ra, làm sao vị hòa thượng Không Kiến này lại biết được?
Lúc đó ta bị khích động mạnh, nói: ?Nếu như đại sư cho biết y ở đâu, Tạ Tốn này xin cam nguyện một đời làm trâu làm ngựa cho ngài?. Không Kiến thở dài nói: ?Chuyện Thành Côn làm quả thật tội nghiệt quá lớn, nhưng cư sĩ vì cơn giận, làm hại bao nhiêu là nhân vật võ lâm, cũng thực là sai lầm?. Lúc đó ta định nói: ?Việc đó có liên can gì đến ông?? nhưng nghĩ lại ông ta vừa hiển thị võ công, ta không phải là địch thủ. Huống chi ta đang muốn cầu xin ông, nên đành cố dằn cơn giận, nói: ?Tại hạ quả thực thế chẳng đặng đừng, vì Thành Côn lẩn trốn vô ảnh vô tung, bốn bể mênh mông, khiến tôi không sao tìm y được?. Không Kiến gật đầu nói: ?Ta cũng hiểu trong lòng cư sĩ chứa đầy oán độc, không có cách nào phát tiết. Thế nhưng Tống đại hiệp là thủ đồ của Trương chân nhân phái Võ Đương, nếu cư sĩ định giết ông ta, họa đó to lớn không biết đâu mà lường?. Ta nói: ?Lòng tôi muốn gây ra họa, họa càng lớn, càng sớm bức bách Thành Côn ra mặt?.
Không Kiến nói: ?Tạ cư sĩ, nếu như ông giết hại Tống Viễn Kiều, thì Thành Côn quả thực không ra mặt không được. Thế nhưng Thành Côn hôm nay không còn là Thành Côn ngày trước, võ công của ông còn kém y xa lắm, mối huyết hải oan cừu đó chưa báo được đâu?. Ta nói: ?Thành Côn là sư phụ của tôi, võ công của ông ta đến đâu, tôi chắc biết rõ hơn đại sư nhiều?.
Không Kiến lắc đầu: ?Y đã được một minh sư nhận làm học trò, ba năm qua tiến bộ không ngờ, cư sĩ tuy đã luyện được Thất Thương Quyền của phái Không Động, nhưng cũng không đả thương được y đâu?. Ta kinh ngạc vô cùng, vị Không Kiến hòa thượng này ta chưa từng gặp bao giờ, nhưng nhất cử nhất động, ông ta biết chẳng khác gì chính mắt trông thấy. Ta lặng người hồi lâu, hỏi lại: ?Sao đại sư lại biết?? Ông ta đáp: ?Chính Thành Côn nói cho lão nạp nghe?.
Khi nghe y nói tới đây, hai vợ chồng Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố lẫn Vô Kỵ đều cùng ?A? lên một tiếng. Tạ Tốn nói:
– Các ngươi lúc này nghe tới còn kinh ngạc, lúc đó ta nghe câu này, nhảy dựng lên, quát hỏi: ?Làm sao y lại biết được thế?? Ông ta chậm rãi nói: ?Trong mấy năm qua, y lúc nào cũng ở bên cạnh cư sĩ, có điều y luôn luôn cải trang, nên cư sĩ không nhận ra y đấy thôi?. Ta nói: ?Hừ, tôi không nhận ra ông ta ư? Dù ông ta có biến thành tro, tôi cũng vẫn nhận ra?. Không Kiến nói: ?Tạ cư sĩ, ông không phải là người sơ xuất, vô tâm, thế nhưng trong mấy năm qua, ông chỉ lo việc luyện võ báo thù, những việc chung quanh không để ý tới. Ông ở ngoài sáng, y ở trong bóng tối. Cư sĩ không nhận ra y, mà dù có gặp cũng không nhận ra y đâu?.
Câu nói đó ta không thể không tin, huống chi Không Kiến đại sư là một cao tăng nổi danh trong thiên hạ, lẽ đâu đến để nói láo ta làm chi. Ta nói: ?Nếu như thế, sao ông ta không giết tôi đi, cho khỏi rắc rối?? Không Kiến nói: ?Nếu y có bụng hại cư sĩ, thì thật chỉ giơ tay là xong. Tạ cư sĩ, ông đã hai lần tìm y báo thù, hai lần đều thua cả, nếu y muốn sát hại ông, sao lúc đó không hạ thủ cho được việc? Hãy nói việc đi lấy Thất Thương Quyền Phổ, cư sĩ đã đấu nội lực với ba đại cao thủ của phái Không Động, thế còn hai người trong Không Động ngũ lão kia đi đâu? Sao họ không ra vây đánh cư sĩ? Nếu như cả ngũ lão đều xông lên, liệu cư sĩ có toàn tính mạng không?
Hôm đó khi ta đả thương Không Động tam lão rồi, mới phát giác ra hai người kia cũng bị trọng thương, việc lạ đó ta vẫn giữ trong lòng, là một nghi vấn chưa giải thích được. Hay là phái Không Động có tranh chấp lẫn nhau? Hay là có cao thủ nào ta chưa biết tên ở bên trong bí mật giúp ta? Khi ta nghe Không Kiến đại sư nói, trong bụng bàng hoàng, hỏi lại: ?Không lẽ nhị lão do Thành Côn đả thương sao??
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nghe y nói càng lúc càng thấy lạ kỳ, tuy tên chốn giang hồ có biết bao nhiêu chuyện khúc mắc, nhưng hai người kiến văn đều quảng bác, chuyện gì cổ quái mấy cũng đã từng nghe qua, nhưng câu chuyện Tạ Tốn đang kể cho nghe thì không sao tưởng tượng được. Hai người đều ngầm hiểu rằng, Tạ Tốn là một người kỳ tài, nhưng sư phụ của y là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn, về võ công cững như mưu trí lại còn hơn y một bậc.
Ân Tố Tố nói:
– Đại ca, vậy Không Động nhị lão quả thực do sư phụ của đại ca đứng ngầm bên trong đả thương ư?
Tạ Tốn nói:
– Lúc đó ta cũng đã mở miệng hỏi, Không Kiến đại sư nói: ?Không Động nhị lão bị thương ra sao, Tạ cư sĩ có chính mắt thấy không? Sắc mặt hai người như thế nào?? Ta chỉ đứng yên không trả lời, một lúc sau, nói: ?Nếu như thế, quả thực Không Động nhị lão đã bị sư phụ tôi đả thương rồi?. Nguyên lai khi ta thấy hai người trong phái Không Động nằm dưới đất, mặt đầy máu lấm chấm, hiển nhiên hai người đó dùng âm kình đánh người ta, bị cao thủ dùng Hỗn Nguyên Công đẩy trở lại. Cái kiểu mặt đầy ban điểm đó, theo như ta biết, nếu không phải bị Hỗn Nguyên Công đẩy ngược âm kình trở lại, thì chỉ có bị bệnh thương hàn thôi, nhưng hôm đó khi ta mới gặp Không Động ngũ lão, cả năm người đều bình thường mạnh khỏe, không thể nào đột khởi bạo bệnh được. Đương thời trong võ lâm, trừ hai thầy trò ta ra, không người thứ ba nào có luyện qua Hỗn Nguyên Công cả.
Không Kiến đại sư gật đầu, thở dài nói: ?Sư phụ ngươi uống rượu rồi làm chuyện vô đức, giết hại lớn bé toàn gia cư sĩ, khi tỉnh lại, xấu hổ vô cùng, nên hai lần cư sĩ tìm y báo thù, y không sát hại. Y thậm chí cũng không muốn đả thương cư sĩ, nhưng cả hai lần cư sĩ đều nổi điên toan thí mạng với y, nếu không đả thương ông, y không thể nào thoát thân được. Sau đó y bí mật theo dõi cư sĩ, ba lần ông bị nguy nan, y đều ám trung giải cứu?. Ta thầm tính trong lòng, ngoài vụ Không Động ngũ lão ra, quả nhiên có ba lần đang cực kỳ khó khăn, trong cơn nguy cấp, công thế của địch nhân tự nhiên mở ra. Không Kiến đại sư nói tiếp: ?Y biết rằng tội lỗi quá nhiều, không thể nào xin cư sĩ tha thứ được, chỉ mong sau một thời gian, cư sĩ sẽ dần dần nguôi ngoai. Nào ngờ cư sĩ càng ngày càng làm dữ, giết người mỗi ngày một nhiều. Hôm nay cư sĩ lại định đi giết Tống Viễn Kiều Tống đại hiệp, trường đại họa đó không thể nào để yên được.?
Ta nói: ?Nếu đã như thế, xin đại sư gọi sư phụ tôi ra gặp tôi, chúng tôi thanh toán với nhau, không liên quan gì đến người ngoài cả?. Không Kiến đại sư nói: ?Sư phụ ông không mặt mũi nào gặp ông cả, cũng không dám gặp ông. Hơn nữa, Tạ cư sĩ, không phải lão nạp dám coi thường ông, dù ông có gặp y thì cũng uổng công thôi?. Ta nói: ?Đại sư là hữu đạo cao tăng, phải trái đen trắng, chắc biết rõ ràng. Không lẽ cái huyết cừu toàn gia của tôi, đành bỏ qua không lý đến hay sao?? Ông ta nói: ?Thảm họa mà Tạ cư sĩ gặp phải, lão nạp cũng thấy thương tâm giùm. Thế nhưng tôn sư vì say rượu mà làm bậy, không phải do bản ý, huống chi y đã thành tâm sám hối, chỉ mong Tạ cư sĩ nghĩ đến tình thầy trò xưa, mở cho một lối đi?. Ta giận như điên cuồng, nói: ?Nếu tôi có đánh không lại, thì cùng lắm ông ta một chưởng đánh tôi chết mà thôi. Còn mối thù này không báo được, tôi cũng không muốn sống làm gì?.
Không Kiến đại sư trầm ngâm hồi lâu, nói: ?Tạ cư sĩ, tôn sư võ công ngày nay khác xưa nhiều lắm, dù ông luyện xong Thất Thương Quyền rồi, cũng không đả thương được y đâu. Nếu cư sĩ không tin, cứ đánh lão nạp vài quyền thì biết?. Ta nói: ?Tại hạ với đại sư không thù không oán, lẽ nào lại làm đại sư bị thương. Mặc dù võ công tại hạ kém cỏi thật, nhưng Thất Thương Quyền này không phải dễ dàng đối phó đâu?. Ông ta nói: ?Tạ cư sĩ, ta cùng với cư sĩ đánh cuộc. Tôn sư giết cả nhà cư sĩ tổng cộng mười ba mạng người, vậy cư sĩ đánh ta mười ba quyền. Nếu như đả thương được ta, lão nạp sẽ sõng tay không can thiệp vào chuyện này nữa, tôn sư sẽ tự ý ra gặp cư sĩ. Nếu không thì mối oan cừu này coi như chấm dứt, được không??
Ta trầm ngâm không đáp, biết rằng vị cao tăng này võ công cực kỳ cao thâm, Thất Thương Quyền tuy lợi hại thật, nhưng chưa chắc gì đả thương được ông ta, chẳng lẽ mối thù này không trả hay sao?
Không Kiến đại sư lại nói: ?Nói thực với cư sĩ, lão nạp đã nhúng tay vào giải quyết việc này, nhất quyết không để cư sĩ giết thêm những đồng đạo võ lâm vô tội nữa đâu. Nếu ông có ý hướng thiện, thì nên phủi tay, những chuyện đã qua coi như xong hẳn. Nếu không cư sĩ tìm người báo thù, không lẽ gia nhân đệ tử những người bị cư sĩ giết, không biết đi tìm cư sĩ báo thù hay sao??
Ta nghe ông ta giọng nói có vẻ nghiêm nghị, cuồng tính nổi lên, quát lớn: ?Được rồi, để tôi đánh đại sư mười ba quyền, nếu khi nào ông chịu không nổi thì cứ nói tôi sẽ ngừng tay. Đại trượng phu nói ra một lời nặng như núi, lúc đó ông phải gọi sư phụ tôi ra gặp nhau.? Không Kiến đại sư mỉm cười nói: ?Mời cư sĩ phát quyền đi?.
Ta thấy ông ấy thân hình gầy gò, nhỏ bé, râu mi trắng xóa, khuôn mặt từ bi trang nghiêm, không nỡ đả thương, quyền thứ nhất chỉ dùng có ba thành sức lực, nghe bình một tiếng đánh trúng ngực nhà sư.
Vô Kỵ kêu lên:
– Chao ôi, nghĩa phụ, cha sử dụng pho Thất Thương Quyền đánh đứt gân mạch cái cây ấy ư?
Tạ Tốn nói:
– Không đâu. Quyền đầu tiên ta đánh ra là môn quyền sư phụ ta Thành Côn truyền thụ, tức Tích Lịch Quyền. Quyền của ta đánh ra, thân hình ông ta lảo đảo, lùi lại một bước. Ta nghĩ thầm quyền này mới có ba thành sức lực, ông ta đã lùi một bước, nếu như thi triển Thất Thương Quyền thì chỉ ba quả đấm đã đánh chết ông ta rồi. Thành thử, quyền thứ hai ta gia tăng kình lực, nhưng ông ta cũng chỉ loạng choạng, lùi lại một bước. Quyền thứ ba ta dùng đến bảy thành lực, ông ta cũng lắc lư một cái, lùi lại một bước. Ta hơi lấy làm lạ, quyền lực của ta đã gia tăng gấp bội, nhưng đánh trúng cũng chỉ có thế. Cứ cái thân hình gầy gò của nhà sư, một quyền của ta cũng đã đánh ông ta đứt gân gãy xương, nhưng thân thể ông ta cũng không phát sinh sức lực phản kích nào, chỉ chịu ba quyền mà dường như không có gì xảy ra.
Ta nghĩ, nếu muốn đánh ngã ông ta, không thể không đem hết toàn lực, nhưng nếu ta dùng hết sức, nhà sư không chết cũng bị thương. Ta tuy tác ác đã nhiều, nhưng đối với vị cao tăng xả thân mình cứu người khác, đầy lòng từ bi này bỗng thấy trong lòng kính trọng, nên nói: ?Đại sư không trả đòn, tôi không nỡ nào đánh tiếp. Tại hạ đánh ba quyền rồi, bằng lòng không đi kiếm Tống Viễn Kiều nữa?. Ông ta nói: ?Còn mối oán thù với Thành Côn thì sao??. Ta nói: ?Mối thù này không đội trời chung, ông ta không chết, thì tôi phải chết?. Ta ngừng lại một lát, nói tiếp: ?Nhưng đại sư đã ra mặt, Tạ mỗ kính trọng đại sư, từ giờ trở đi, chỉ đi kiếm Thành Côn hay người nhà y, quyết không kiếm người ngoài không liên quan đến việc này nữa?.
Không Kiến đại sư chắp tay đáp: ?Thiện tai, thiện tai. Tạ cư sĩ có ý như thế, lão nạp thay mặt võ lâm đồng đạo xin cảm tạ. Có điều lão nạp phát tâm hóa giải trường oan nghiệt này, nay còn lại mười quyền, xin đánh nốt cho?.
Ta trong bụng tính toán, chỉ còn cách dùng Thất Thương Quyền đánh cho ông ta bị thương, có thế sư phụ ta mới xuất hiện. Được cái là quyền kình của Thất Thương Quyền có thể thu phát theo ý muốn, ra tay có chuẩn mức, nên nói: ?Như thế thì đành đắc tội vậy?. Quyền thứ tư ta đánh ra, lần này dùng quyền kình Thất Thương Quyền. Quyền đánh trúng ngực, ngực ông ta hơi lõm vào, nhưng lại tiến lên trước một bước.
Vô Kỵ nói:
– Cái đó lạ thật, lần này vị lão hòa thượng không lùi lại mà lại tiến lên.
Trương Thúy Sơn nói:
– Cái đó có phải là thần công Kim Cương Bất Hoại Thể của phái Thiếu Lâm chăng?
Tạ Tốn gật đầu:
– Ngũ đệ kiến đa thức quảng, đoán không sai chút nào. Quyền đó ta đánh ra, so với ba quyền trước khác nhau xa, trên thân thể ông ta sinh ra một lực phản kích, khiến ta chấn động trên ngực dưới bụng, tưởng như ruột gan đều đảo lộn hết. Ta biết rằng ông ta cực chẳng đã phải sử dụng đến thần công đó, nếu không sẽ không đỡ nổi Thất Thương Quyền của ta. Ta đã nghe danh Kim Cương Bất Hoại Thể thần công của phái Thiếu Lâm là một trong năm đại thần công, lúc đó chính bản thân mình được lãnh giáo, quả thực thật là ghê gớm. Vì thế quyền thứ năm ta hơi chuyển qua âm nhu, ông ta chỉ tiến lên trước một bước, và luồng âm kình phản kích lại ta cũng dễ dàng hóa giải à Vô Kỵ hỏi:
– Nghĩa phụ, vị lão hòa thượng nói là sẽ không trả đòn, nhưng sao còn đưa quyền kình của cha phản kích trở lại?
Tạ Tốn xoa đầu thằng bé, nói:
– Ta đánh đến quyền thứ năm, Không Kiến đại sư mới nói: ?Tạ cư sĩ, lão không ngờ uy lực của Thất Thương Quyền lại ghê gớm đến thế, nếu như không vận nội công phản hồi chấn động, thì chắc hẳn không thể nào chịu nổi?. Ta nói: ?Đại sư không ra tay đánh trả, tôi thật cảm kích cái thịnh tình sâu xa đó?. Tiếp theo ta ra quyền như gió, quyền thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, thứ chín một hơi đánh bốn cái liền. Nhưng vị Không Kiến đại sư này quả thực bản lãnh hơn người, cả bốn quyền đó đánh trúng vào người ông ta đều bị dội lại, cương nhu phân minh, từng lớp từng lớp cái nào ra cái nấy.
Ta trong bụng quả thực kinh sợ, quát lên: ?Cẩn thận nhé!? Quyền thứ mười ta nhẹ nhàng đánh ra. Ông ta hơi gật đầu, không để cho quyền trúng vào người, tiến lên hai bước, chỉ trong chớp mắt đó đã đi trước một nước.
Vô Kỵ dĩ nhiên không hiểu hai bước đó có cái gì trong đó nhưng Trương Thúy Sơn biết rõ khi cao thủ đối địch, chỉ cần biết trước đối thủ xuất chiêu, thì quả thực rất là lợi thế, thông thường chỉ cần biết trước một chiêu cũng đã có thể thắng rồi, nên gật đầu nói:
– Không xong rồi, không xong rồi.
Tạ Tốn kể tiếp:
– Quyền thứ mười đó ta chưa sử hết toàn lực, ông ta tiến lên nên kình lực dội ngược lại trước, khiến ta phải lùi về hai bước. Tuy ta không nhìn được sắc mặt mình thế nào, nhưng cũng tưởng tượng ra, chắc lúc đó mặt ta phải trắng như tờ giấy, không còn một chút máu. Không Kiến đại sư từ từ thở ra một hơi, nói: ?Quyền thứ mười một cư sĩ đừng đánh vội, hãy nghỉ một chút rồi hãy ra tay?.
Ta tuy vạn phần yêu cường hiếu thắng, nhưng trong người trộn trạo, quyền thứ mười một quả không thể nào đánh ra được.
Trương Thúy Sơn nghe tới đoạn này, trong lòng bồn chồn. Vô Kỵ đột nhiên nói:
– Nghĩa phụ, tất cả còn ba quyền nữa, cha không đánh nữa thì hơn.
Tạ Tốn hỏi:
– Sao vậy?
Vô Kỵ đáp:
– Vị lão hòa thượng đối xử thật tốt bụng, nếu cha đánh được ông ta, trong lòng sẽ không yên, còn nếu để cho chính mình bị thương, thì cũng không thích.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố hai người nhìn nhau, trong bụng nghĩ thầm con mình tuy tuổi còn nhỏ, nhưng đã có kiến thức như thế, có thể nói không phải dễ. Trương Thúy Sơn lại càng yên tâm, thấy Vô Kỵ tâm địa nhân hậu, đã biết phân biệt đâu là phải đâu là trái.
Chỉ nghe Tạ Tốn thở dài một tiếng, nói:
– Uổng cho ta sống đến mấy mươi tuổi, lúc đó trí tuệ không bằng được đứa bé con. Lúc đó trong lòng ta đầy những ý tưởng báo thù rửa hận, không tìm được sư phụ của ta, thì không chịu thôi, nên biết rằng có đánh thêm nữa, một trong hai người phải có một người chết, nhưng đâu có chịu suy nghĩ cho thấu đáo. Ta vận đủ kình lực, quyền thứ mười một lại đánh ra. Kỳ đó ông ta khi tiến lên lại ưỡn người, quyền đó thay vì đánh trúng ngực, nhưng vì ông ta ưỡn người nên quyền đánh trúng ngay phía bụng trên. Ông ta chau mày, hiển nhiên rất là đau đớn. Ta hiểu ngay ý của nhà sư, nếu như dùng ngực để đỡ quyền của ta, lực phản hồi quá lớn, sợ ta chịu không nổi, còn bụng tuy phản lực nhẹ hơn, nhưng bản thân ông ta chịu lại đau nhiều hơn.
Ta đứng ngơ ngẩn một hồi, nói: ?Sư phụ của tôi tội nghiệt thâm trọng, có chết cũng đáng, thân thể vàng ngọc của đại sư việc gì mà phải khổ sở chịu thay ông ta tai ách này??. Chỉ thấy Không Kiến đại sư điều quân hô hấp, cười gượng nói: ?Chỉ mong chịu thêm hai quyền nữa, thế ? thế là hóa giải được cái kiếp nạn này?. Ta nghe ông ta nói hơi thở không được liên tục, đột nhiên nghĩ ra một điều: ?Xem ra khi ông ta vận Kim Cương Bất Hoại Thể thần công thì không thể mở miệng nói năng, sao ta không dụ cho ông ta nói, đột nhiên đánh ra một quyền? nên nói: ?Nếu như trong mười ba quyền tôi đả thương được đại sư, đại sư có bảo đảm là sư phụ tôi sẽ ra cho tôi gặp hay không?? Ông ta nói: ?Chính miệng ông ta nói với ta như thế ?? Ngay lúc đó, ta không đợi ông ta nói xong, vù một tiếng đánh ngay một quyền vào bụng Không Kiến đại sư. Quyền đó thế đi thật nhanh, chỗ đánh lại thấp, cốt để ông ta không kịp vận thần công hộ thể.
Nào ngờ Phật môn thần công, tùy tâm mà phát ra, quyền kình của ta tuy trúng vào bụng, nhưng thần công của ông ta đã trải ra khắp mọi nơi. Ta chỉ thấy trời xoay đất chuyển, tim phổi dường như vỡ nát, bị đẩy lui đến bảy tám bước, lưng đụng vào một cái cây, mới đứng lại được.
Ta thấy thật thất vọng, ác niệm nảy sinh, nói: ?Thôi rồi, thôi rồi. Mối thù này thực khó mà trả được, Tạ Tốn này đâu còn gì mà sống trên thế gian này nữa?. Giơ tay lên, một chưởng nhằm ngay thiên linh cái đánh xuống.
Ân Tố Tố kêu lên:
– Diệu kế, diệu kế.
Trương Thúy Sơn hỏi lại:
– Vì sao?
Lập tức hiểu ngay, nói:
– Ồ, dùng cách đó đối phó với một vị hữu đạo cao tăng, chẳng độc ác quá ư?
Hóa ra chàng đã nghĩ đến, Tạ Tốn đánh xuống đỉnh đầu chính mình, Không Kiến đại sư thể nào chẳng kêu ngừng lại, chạy tới cứu. Tạ Tốn thừa cơ nhà sư không phòng bị, ra tay tấn công. Trương Thúy Sơn thông minh cơ cảnh chẳng kém gì vợ, nhưng bình thời không bao giờ nghĩ tới những ý nghĩ gian trá, nên suy nghĩ vì thế chậm hơn một bước.
Tạ Tốn buồn bã thở dài:
– Ta đã lợi dụng tấm lòng tốt thương người của vị lão hòa thượng, các em nghĩ không sai, ta giơ chưởng đánh ngay đỉnh đầu mình, tuy có dấu ngụy kế bên trong nhưng cũng hết sức nguy hiểm. Nếu chưởng đó đánh xuống xem không đủ mạnh, ông ta có thể thấy ngay chuyện giả trá, sẽ không chạy tới ngăn lại. Mười ba quyền nay chỉ còn lại một quyền sau cùng, Thất Thương Quyền tuy lợi hại, nhưng cũng đâu có phá nổi hộ thể thần công của nhà sư? Nếu thế việc tìm kiếm sư phụ ta để báo thù coi như chấm dứt. Do đó chưởng của ta xuống đầu quả thực dùng toàn lực đánh xuống, nếu như ông ta không lại cứu, ta sẽ chính mình đánh vỡ sọ mình chết ngay, vì nếu không trả được thù, cũng chẳng muốn sống làm gì.
Không Kiến đại sư thấy việc bất ngờ xảy ra, kêu lên: ?Chớ có đánh, sao ngươi lại ?? lập tức lao mình tới, giơ tay chặn hữu chưởng của ta. Ngay lúc đó, tay trái ta đánh ra, nghe bình một tiếng, đánh trúng ngay bụng của vị hòa thượng. Quả nhiên lần này ông ta không một chút đề phòng, ngay cả ý nghĩ vận thần công cũng không có. Cái thân thể máu thịt con người, làm sao chịu nổi một quyền như thế? Lập tức nội tạng nát nhừ, ngã lăn xuống đất.
Ta đánh quyền đó xong, trước mắt thấy ông ấy không sao sống được, trong lòng thiên lương nổi dậy, nằm phục xuống bên cạnh nhà sư khóc lóc, kêu lên: ?Không Kiến đại sư, Tạ Tốn này vong ân phụ nghĩa, thật không bằng con chó con heo?.
Trương Thúy Sơn cả nhà ba người lặng yên, nghĩ đến việc Tạ Tốn dùng ngụy kế đánh chết một cao tăng hữu đức, trong lòng ai nấy đều không vui. Tạ Tốn nói:
– Không Kiến đại sư thấy ta khóc lóc, mỉm cười, an ủi ta rằng: :Có ai không chết đâu? Cư sĩ việc gì phải sầu đau như thế? Sư phụ của ngươi sắp đến đây bây giờ, ngươi nên trấn định lại, đừng nên lỗ mãng?. Một lời của ông ấy khiến ta tỉnh ngộ, mười ba quyền vừa rồi hao phí biết bao chân lực, trước mắt kẻ địch tới nơi, đâu có thể khóc lóc làm tổn thương đến tinh thần? Thế là ta ngồi xuống xếp bằng tọa công, quân điều nội tức. Nào ngờ sau một hồi lâu, vẫn không thấy sư phụ ta đến. Ta trong lòng lạ lùng, nhìn Không Kiến đại sư dò hỏi.
Khi đó hơi thở nhà sư đã yếu lắm rồi, thều thào nói: ?Đâu ? đâu có ngờ y ? y không giữ lời ? không lẽ ? không lẽ có ai ngăn trở y sao??. Ta nổi giận, quát lên: ?Ông lừa tôi, ông lừa tôi đánh chết ông, mà sư phụ tôi không chịu ra cho tôi gặp?. Ông ta lắc đầu: ?Ta không lừa dối ngươi đâu, đối với ngươi quả thật không phải?. Ta trong cơn cuồng nộ, toan chửi mắng, bất chợt nghĩ ra: ?Ông ta lừa ta đánh ông ta chết thì đâu có lợi gì? Ta đánh chết ông ấy mà ông ấy còn ngỏ lời xin lỗi?. Trong lòng thật hối hận, ta quỳ xuống bên cạnh vị hòa thượng khóc nói: ?Đại sư, ngài có tâm nguyện gì, tôi xin hết sức làm tròn?. Ông ta lại mỉm cười, nói: ?Chỉ mong từ nay về sau, mỗi khi cư sĩ sắp sửa ra tay giết người, nghĩ tới lão nạp một chút?.
Vị cao tăng đó không những võ công tinh thâm, mà còn đại trí đại tuệ, biết rõ con người ta lắm. Ông ta biết ta không thể nào dứt được lòng thù hận, thay đổi để thành người tốt được, nên không có thể khuyên giải điều gì, chỉ còn cách nói trắng ra là khi sắp giết người thì nghĩ đến ông ta. Ngũ đệ, hôm đó ở trên thuyền ta cùng ngươi tỉ thí chưởng lực, sở dĩ ta không lấy mạng của ngươi, cũng chính vì bất chợt nghĩ đến Không Kiến đại sư.
Trương Thúy Sơn không sao ngờ được tính mạng của mình lại do Không Kiến đại sư cứu, trong lòng lại càng kính ngưỡng vị cao tăng này. Tạ Tốn thở dài:
– Hơi thở ông ta mỗi lúc một thêm yếu dần, tay ta để trên Linh Đài huyệt của nhà sư, cố gắng dùng nội lực kéo dài tính mệnh lúc nào hay lúc nấy. Đột nhiên ông hít mạnh một hơi, hỏi lại: ?Sư phụ ngươi chưa đến ư??. Ta đáp: ?Chưa đến?. Ông ta nói: ?Vậy thì y không đến rồi?. Ta nói: ?Đại sư, xin ngài yên tâm, tôi từ nay không giết người bừa bãi nữa, gọi ông ta ra đi. Dù tôi có phải đi khắp chân trời góc biển, cũng sẽ tìm ông ta cho bằng được?. Ông ta nói: ?Ôi, thế nhưng, võ công của ngươi chưa bằng được y đâu ? trừ phi ? trừ phi ??. Nói đến đây, tiếng của ông ta mỗi lúc một nhỏ, ta để sát tai vào miệng ông ấy, mới nghe mấp máy: ?Trừ phi ? kiếm được thanh đao Đồ Long, tìm ra ? trong thanh đao có gì bí ??. Ông ta nói đến chữ bí, hơi thở dứt luôn, không còn sống được nữa rồi.
Đến giờ phút này, vợ chồng Trương Thúy Sơn mới hiểu tại sao Tạ Tốn cố gắng suy nghĩ để tìm cho ra cái bí mật trong thanh đao Đồ Long, vì sao bình thời mềm mỏng lễ mạo, nhưng khi nổi cơn điên thì chẳng khác gì dã thú, vì sao trên người mang tuyệt thế võ công, nhưng lúc nào cũng buồn rầu khổ sở ? Tạ Tốn nói:
– Về sau ta nghe được tin tức của thanh đao Đồ Long, lên đảo Vương Bàn Sơn đoạt lấy. Ngũ muội, lệnh tôn trước kia là bạn tri giao của ta, thân thiết không biết chừng nào. Ưng Vương, Sư Vương tên tuổi cùng hàng trên đời, đến sau lại trở mặt thành thù nghịch. Chuyện đó có những đầu dây mối nhợ liên quan đến nhiều người khác, ta không thể nói cho hai em biết được. Trước khi ta có được thanh đao, trăm phương nghìn kế đi kiếm cho bằng được Thành Côn, thế nhưng sau khi được đao rồi lại sợ y kiếm được mình, cho nên phải đi tìm một nơi thật kín đáo để từ từ kiếm cho ra bí mật trong thanh đao. Vì sợ các ngươi tiết lộ hành tàng, nên mới phải cùng nhau đến đây. Không ngờ thấm thoát đã mười năm, Tạ Tốn ơi là Tạ Tốn, mọi sự ngươi vẫn chưa làm được gì?.
Trương Thúy Sơn nói:
– Không Kiến đại sư khi sắp chết, có thể nói chưa hết câu, ông ta nói: ?Trừ phi kiếm được thanh đao Đồ Long, tìm ra trong thanh đao có gì bí ?? có thể có ý nghĩa khác không chừng.
Tạ Tốn nói:
– Trong mười năm qua, mọi sự, mọi điều ta đã nghĩ đến cả rồi, nhưng không có chuyện gì phù hợp với lời ông ta cả. Trong thanh đao nhất định phải có cái gì bí mật, không còn nghi ngờ gì nữa. Thế nhưng ta đã hết tâm hết sức, vẫn không tìm ra đầu mối.
Từ sau cuộc nói chuyện này, Tạ Tốn không đề cập gì đến việc đó nữa, nhưng càng thúc ép Vô Kỵ luyện công, trở nên nghiêm nhặt dị thường. Vô Kỵ lúc này bất quá mới chín tuổi đầu, tuy thông minh, nhưng trong một thời gian ngắn làm sao lãnh hội được võ công trên đời hiếm có của Tạ Tốn được? Tạ Tốn lại dạy cho nó cách chuyển hoán huyệt đạo, giải trừ các huyệt đạo bị đóng, là công phu rất cao thâm trong võ học. Vô Kỵ đến huyệt đạo còn chưa nhận ra được, lại không có căn cơ nội công, sao học cho nổi? Tạ Tốn vừa đánh vừa la mắng, không cho thằng bé được nghỉ ngơi giây phút nào.
Ân Tố Tố thấy trên người con chỗ thì xanh, chỗ thì tím, thương thằng bé vô hạn, nói với Tạ Tốn:
– Đại ca, thần công của đại ca cái thế, trong vòng vài ba năm, làm sao Vô Kỵ luyện thành cho được? Trên hoang đảo này thời giờ vô hạn, sao đại ca không từ từ dạy cho cháu?
Tạ Tốn nói:
– Hừ, từng chiêu từng thức một mà luyện thì biết bao giờ cho kịp? Ta chỉ cần nó nhớ, sao nhớ kỹ được trong đầu là đủ.
Ân Tố Tố không hiểu nguyên do, nhưng biết vị đại ca này hành sự khác người, mọi sự tùy mình mà làm. Thế nhưng khi thấy trên mình thằng bé lằn ngang lằn dọc, chỉ còn nước ôm con vỗ về một hồi. Thế nhưng Vô Kỵ hiểu rõ nguyên do, nói:
– Mẹ ơi, nghĩa phụ muốn con giỏi, càng đánh nhiều thì càng nhớ kỹ đó.
Cứ như thế độ già nửa năm. Một buổi sáng sớm, Tạ Tốn bỗng nói:
– Ngũ đệ, ngũ muội, chỉ còn bốn tháng nữa gió sẽ chuyển sang hướng nam, bây giờ mình chuẩn bị đóng bè là vừa.
Trương Thúy Sơn vừa mừng vừa sợ, hỏi lại:
– Đại ca nói là đóng bè để về Trung Thổ đấy ư?
Tạ Tốn lạnh lùng đáp:
– Cái đó cũng còn để xem trời già có tốt bụng không, vì ?mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên?. Thành công thì về được, còn không thì vùi thây nơi biển cả.
Cứ như bản tâm Ân Tố Tố, ba người cứ ở trên cái hoang đảo này, tiêu dao tự tại, việc gì phải mạo hiểm quay về làm gì, thế nhưng khi nghĩ đến Vô Kỵ lớn lên làm sao lấy vợ sinh con, một đời mai một, nàng lại vui vẻ khởi công làm bè. Trên đảo không thiếu gì cây cao cổ thụ, vì ở chốn lạnh lẽo, thớ gỗ thật bền chắc, cứng như sắt đá. Tạ Tốn và Trương Thúy Sơn hì hục chặt cây, còn Ân Tố Tố thì tết dây, dùng da thú may buồm, còn Vô Kỵ chạy qua chạy lại đưa tin.
Cũng may Tạ Tốn và Trương Thúy Sơn võ công tinh thâm, Ân Tố Tố cũng không phải là loại phụ nữ chân yếu tay mềm, nhưng có điều không có dụng cụ đầy đủ, thành thử việc làm bè mất nhiều công lao mà thành tựu không được mấy.
Đến khi làm bè gần xong, Tạ Tốn bắt Vô Kỵ ở bên cạnh mình, tra hỏi sở học võ công. Bấy giờ Trương Ân không còn tị hiềm mà phải tránh ra chỗ khác nữa, nghe nghĩa phụ, nghĩa tử hai người một hỏi một đáp, toàn là khẩu quyết mà thôi. Tạ Tốn thậm chí còn dạy cả đao pháp, kiếm pháp, nhưng cũng toàn bắt Vô Kỵ nhớ thuộc lòng như kiểu đọc sách. Cái phương pháp ?dạy võ mà như học văn? này thật là lạ kỳ, không nửa lời giải thích, chẳng khác gì một ông thầy đồ dở mùa dạy trẻ, bắt trẻ con đọc tụng ?thi vân, tử viết? như cháo chảy. Ân Tố Tố đứng bên nghe thấy, không khỏi thương thằng bé, nghĩ bụng không cứ gì trẻ con, dù cho người lớn tinh thông võ học, cũng chưa chắc đã nhớ nổi biết bao nhiêu chiêu thức, khẩu quyết, lại không thi diễn, chỉ nhớ xuông trong đầu thì có ích lợi gì? Chẳng lẽ chỉ đọc vài câu khẩu quyết đã có thể thắng địch hay sao? Huống chi Vô Kỵ chỉ đọc sai một chữ, lập tức Tạ Tốn giáng cho một bạt tai ngay. Tuy y không sử nội kình, nhưng cũng đủ cho thằng bé sưng một bên má cả nửa ngày trời.
Cái bè đó làm mất hơn hai tháng mới xong, dựng thêm cột buồm lớn, cột buồm nhỏ lại mất thêm hơn nửa tháng nữa. Tiếp theo đi săn bắn, muối thịt, may bao da chứa nước uống. Đến khi mọi việc đầy đủ thì ngày đã thật ngắn, đêm lại thật dài, vậy mà gió vẫn chưa chuyển hướng.
Ba người làm một cái lều tranh ngay bên cạnh bờ bể để che cho cái bè, đợi gió thổi về nam, là cho bè xuống nước. Lúc đó Tạ Tốn không rời Vô Kỵ một bước, đến đêm ngủ, cũng bắt thằng bé ngủ với mình. Vợ chồng Trương Thúy Sơn thấy đối với con mình vừa nghiêm khắc vừa thân thiết như thế, chỉ còn cách nhìn nhau cười gượng.
Một đêm khuya, Trương Thúy Sơn nửa đêm tỉnh dậy, nghe thấy tiếng gió có chiều khác lạ. Chàng ngồi dậy, thấy quả nhiên gió đã từ phương bắc thổi xuống, vội lay Ân Tố Tố dậy, vui mừng nói:
– Em nghe kìa!
Ân Tố Tố còn đang nửa tỉnh nửa mê chưa kịp trả lời, đã nghe tiếng Tạ Tốn từ ngoài động nói vọng vào:
– Chuyển sang gió bắc rồi, chuyển sang gió bắc rồi.
Trong giọng nói dường như có tiếng nghẹn ngào, thổn thức, trong đêm khuya nghe thật thê lương, sầu khổ. Sáng hôm sau, vợ chồng Trương Thúy Sơn vui vẻ không biết chừng nào, thu thập hành trang. Thế nhưng đã ở trên đảo này mười năm trời, nay phải ra đi, lòng không khỏi bùi ngùi quyến luyến. Cho đến khi mọi thứ đều chuyển lên trên bè xong thì đã chính ngọ, ba người hợp lực đẩy bè xuống nước. Vô Kỵ là người nhảy lên bè trước tiên, kế đó là Ân Tố Tố.
Trương Thúy Sơn nắm tay Tạ Tốn, nói:
– Đại ca, cái bè cách đây sáu thước, hai người mình cùng nhảy lên nào.
Tạ Tốn nói:
– Ngũ đệ, anh em mình từ nay vĩnh biệt, mong các em bảo trọng lấy thân.
Trương Thúy Sơn bất giác giật mình, chẳng khác gì bị ai đánh một quyền trúng ngực, kêu lên:
– – Đại ca …. anh ?
Tạ Tốn nói:
– Ngũ đệ tâm địa nhân hậu, mong rằng phúc trạch thật dày, có điều trái phải, thiện ác hơi cố chấp, nên cẩn thận. Vô Kỵ bụng dạ rộng rãi, xem ra sau này hành sự xử thế, so với em sẽ dễ dàng hơn nhiều. Ngũ muội tuy là phận nữ nhi, nhưng không chịu kém ai. Người mà ta lo hơn cả, chính là hiền đệ đó.
Trương Thúy Sơn càng nghe càng kinh hoảng không tin nổi, run run nói:
– Đại ca nói sao? Đại ca không cùng ? không cùng đi với gia đình tiểu đệ ư?
Tạ Tốn nói:
– Mấy năm trước đây, ta đã từng nói với hiền đệ rồi, không lẽ ngươi quên rồi ư?
Mấy câu đó lọt vào tai Trương Thúy Sơn chẳng khác gì tiếng sấm, bấy giờ mới nhớ lại, hồi đó Tạ Tốn đã từng nói sẽ không rời hòn đảo này, nhưng về sau không đề cập đến, Trương Ân hai người vì thế không để tâm. Ngay cả khi đóng bè, Tạ Tốn cũng không hề lộ ra một tí gì dự định sẽ một mình ở lại, nào ngờ đến phút khởi hành, bấy giờ mới nói ra. Trương Thúy Sơn vội nói:
– Đại ca, một mình đại ca ở đây tịch mịch thê lương có gì là vui thú, mau nhảy xuống bè đi.
Nói rồi tay sử kình, dùng sức lôi y lên. Nhưng thân hình Tạ Tốn chẳng khác gì một cây đại thụ mọc rễ xuống đất, không hề lay chuyển. Trương Thúy Sơn kêu lên:
– Tố Tố, Vô Kỵ, mau lên trở lại đi. Đại ca nói là không đi với mình đâu.
Ân Tố Tố và Vô Kỵ nghe nói thế đều giật mình kinh hãi, cùng nhảy lên bờ. Vô Kỵ nói:
– Nghĩa phụ, sao cha không đi? Cha không đi con cũng không đi.
Tuy trong lòng Tạ Tốn không muốn rời ba người chút nào, vì đã ra đi là quyết không bao giờ có dịp gặp lại, còn y sẽ lênh đênh cô khổ trên hoang đảo, thực là sống mà như chết. Thế nhưng y với Trương Thúy Sơn, Ân Tố Tố ba người kết nghĩa kim lan, y lo lắng cho hai người còn hơn đối với bản thân nữa. Đối với đứa con nuôi Vô Kỵ, y yêu nó còn hơn con ruột. Tạ Tốn suy nghĩ lâu nay, biết mình có nợ máu với nhiều người, trên giang hồ bất luận là danh môn chính phái hay lục lâm hắc đạo, không biết bao nhiêu người muốn giết y, huống chi thanh đao Đồ Long lại ở trong tay, việc đó khó mà không tiết lộ ra ngoài. Giá như ngày xưa, y hiên ngang nào có sợ gì ai, nhưng bây giờ hai mắt đã mù, quyết không sao chống đỡ nổi một số đông kẻ thù cùng vi công, mà Trương Ân hai người ắt chẳng có thể thõng tay không can thiệp, cho nên nếu như tranh chấp xảy ra, dù mình chết đi thì cả bọn cũng không một ai sống sót. Nếu như trở về đại lục, e rằng bốn người không sống được quá nửa năm, một năm. Thế nhưng những suy nghĩ đó y không thể nói trước cho hai người biết, nên đành đợi đến phút cuối cùng mới nói ra cái ý định sẽ ở lại.
Y nghe Vô Kỵ nói mấy lời thật chân tình, nên bồng nó lên, dịu dàng nói:
– Vô Kỵ, con ơi, con nghe nghĩa phụ nói. Nghĩa phụ năm nay tuổi đã cao rồi, mắt lại mù, ở đây thật là sung sướng, về lại Trung Nguyên e rằng mọi nơi mọi chốn đều không quen, hóa ra lại không khoái hoạt.
Vô Kỵ nói:
– Về đến Trung Nguyên rồi, hài nhi ngày ngày hầu hạ cha, không rời cha nửa bước. Cha muốn ăn gì uống gì, con đem tới ngay, thì cũng chẳng khác gì ở đây sao?
Tạ Tốn lắc đầu đáp:
– Không được đâu. Ta thích ở đây hơn.
Vô Kỵ nói:
– Con cũng thích ở đây nữa. Cha, mẹ, hay tất cả đừng đi nữa, ở đây tốt hơn.
Ân Tố Tố nói:
– Đại ca có điều gì lo lắng, xin nói rõ ra. Tất cả bọn mình cùng thương lượng tính toán. Còn để đại ca một mình ở đây thì không thể được.
Thắm thoát mười năm qua, Tha hương nay về nhà.
Oán ân đâu đà dứt, Huynh đệ nay đành xa.
Tạ Tốn nghĩ thầm: ?Ba người này đối với ta tình sâu nghĩa nặng, nếu nói họ bỏ ta mà đi thì e có nói đến rã lưỡi, cũng không xong. Nhưng mình phải tìm cách nào bắt họ phải đi bây giờ??. Trương Thúy Sơn bỗng nói:
– Đại ca, đại ca sợ kẻ thù quá nhiều, làm liên lụy đến chúng tôi, phải không? Bốn người mình về đến Trung Nguyên rồi, kiếm chỗ hoang vắng nào đó mà sống, không để cho người ngoài lai vãng, như thế không còn lo gì nữa. Tốt nhất là tất cả mình lên núi Võ Đương ở, ai mà nghĩ rằng Kim Mao Sư Vương lại ở trên đó.
Tạ Tốn kiêu ngạo đáp:
– Hứ, đại ca của ngươi tuy chẳng bằng, nhưng cũng đâu đến nỗi phải dưới mái của tôn sư Trương chân nhân che chở.
Trương Thúy Sơn hối hận mình đã lỡ lời, vội nói:
– Võ công đại ca cũng đâu kém gì sư phụ của đệ, nào có cần phải che chở. Hồi Cương, Tây Tạng, hay miền sa mạc cực bắc, nơi đâu mà chẳng có chỗ cho bốn người mình tự tại tiêu dao?
Tạ Tốn lắc đầu:
– Nếu tìm nơi hoang tích để ở, trên thiên hạ còn có chỗ nào hơn chính nơi đây? Các ngươi có đi hay không thì bảo?
Trương Thúy Sơn nói:
– Đại ca không đi, ba người chúng tôi cũng nhất quyết không đi.
Ân Tố Tố và Vô Kỵ cùng nói:
– Nếu ông không đi, mọi người chúng ta đều ở lại.
Tạ Tốn thở dài:
– Được rồi, tất cả đều ở lại. Đợi khi nào ta chết rồi, các ngươi hãy đi cũng chưa muộn.
Trương Thúy Sơn nói:
– Đúng thế, mình đã ở đây mười năm rồi, đâu có gấp gáp gì.
Tạ Tốn lớn tiếng quát:
– Sau khi ta chết đi, các ngươi chắc không còn gì lưu luyến, phải không?
Ba người còn đang ngạc nhiên, thấy y đưa tay ra, soạt một tiếng, rút phắt thanh đao Đồ Long, đưa lên cổ cắt ngang. Trương Thúy Sơn kinh hãi, kêu lên:
– Đừng cắt trúng Vô Kỵ.
Chàng biết với võ công của mình, không thể nào cản trở nghĩa huynh hoành đao tự tận, trong cơn nguy cấp kêu y đừng cắt trúng Vô Kỵ. Tạ Tốn quả nhiên khựng lại, thu đao, quát:
– Cái gì?
Trương Thúy Sơn thấy y cương quyết như thế, nghẹn ngào nói:
– Đại ca nếu quyết ý như thế, tiểu đệ đành phải bái biệt.
Nói rồi quì xuống lạy mấy lạy. Vô Kỵ lớn tiếng nói:
– Nghĩa phụ không đi, con cũng không đi. Nghĩa phụ tự tận, con cũng tự tận. Đại trượng phu nói sao làm vậy, cha vung đao cứa cổ, con cũng vung đao cứa cổ.
Tạ Tốn quát lên:
– Trẻ con chỉ nói bậy nói bạ.
Nói rồi nắm cổ thằng bé, cầm nó ném lên trên bè, liền theo hai tay chụp Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố vứt theo, lớn tiếng nói:
– Ngũ đệ, ngũ muội, Vô Kỵ, lên đường thuận gió, mong các người bình an, sớm về Trung Thổ.
Lại nói:
– Vô Kỵ, khi con về đến Trung Thổ rồi, nên tự xưng là Trương Vô Kỵ, ba chữ ?Tạ Vô Kỵ? chỉ nên để trong bụng, tuyệt đối đừng có nói ra.
Vô Kỵ khóc òa lên:
– Nghĩa phụ, nghĩa phụ.
Tạ Tốn vung đao lên dọa:
– Các ngươi mà còn lên bờ, thì tình nghĩa từ đây đoạn tuyệt.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố thấy nghĩa huynh tâm ý kiên quyết, không thể nào đổi được, chỉ còn nước gạt lệ giơ tay từ biệt. Bấy giờ hải lưu lay động bè gỗ, từ từ trôi ra, thấy hình bóng Tạ Tốn mờ dần, từ từ nhỏ lại. Một lúc thật lâu sau, mãi đến khi không còn thấy thân hình y, ba người mới quay đầu lại. Vô Kỵ nằm phục trong lòng mẹ, khóc đến khi hết hơi, rồi ngủ thiếp đi.
Chiếc bè trôi trên biển, quả nhiên từ đó đều là gió bắc, thổi chiếc bè về phương nam. Trong biển cả mênh mông, không nhận biết phương hướng, nhưng thấy mỗi ngày mặt trời mọc ở phía bên trái, lặn ở phía bên phải, còn đến đêm vì sao Bắc Đẩu lấp lánh phía sau, và chiếc bè vẫn không ngừng di động, nên biết rằng họ mỗi ngày một gần Trung Nguyên.
Trong hai mươi ngày đầu, Trương Thúy Sơn còn sợ chiếc bè va phải băng sơn, nên chỉ giương nửa chiếc buồm nhỏ ở cột buồm phụ, đi tuy có chậm thật nhưng an toàn, dù có đụng phải băng sơn, cũng chỉ chao đảo, rồi lại dạt ra. Đến khi đã ra khỏi vùng băng sơn rồi, họ mới giương tất cả buồm lên.
Gió bắc ngày đêm không chuyển hướng, chiếc bè trôi mỗi lúc một nhanh, cũng may trên đường không gặp gió bão, xem ra việc về được cố hương hi vọng có đến bảy, tám phần. Suốt thời gian đó, Trương Ân hai người sợ Vô Kỵ thương tâm, nên không nói đến chuyện Tạ Tốn. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Võ công đại ca truyền cho Vô Kỵ, có dùng được hay không, cũng khó mà nói. Vô Kỵ về đến Trung Thổ rồi, thể nào cũng gia nhập phái Võ Đương của ta?. Ở trên chiếc bè, ngày dài không biết làm gì, chàng bèn truyền lại cho con các công phu nhập môn về quyền pháp, chưởng pháp. Phương pháp chàng dạy so với Tạ Tốn cao minh hơn nhiều, căn bản phái Võ Đương lại không khó, chỉ cần giảng vài lần, chỉ điểm thêm một chút, Vô Kỵ liền học được ngay. Hai cha con ở trên chiếc bè sách chiêu tập dợt.
Hôm đó Ân Tố Tố thấy mặt biển sóng êm, chiếc bè căng gió xuôi nam, không nhịn nổi nói:
– Đại ca không những võ công tinh thâm, lại tính toán thiên thời địa lợi đều chính xác, quả là kỳ tài.
Vô Kỵ đột nhiên nói:
– Nếu cứ nửa năm gió thổi về nam, nửa năm gió thổi về bắc, sang năm mình quay lại Băng Hỏa đảo thăm nghĩa phụ.
Trương Thúy Sơn vui mừng nói:
– Vô Kỵ nói phải lắm, đợi khi nào con lớn rồi, cả nhà mình lại lên phương bắc ?
Ân Tố Tố đột nhiên chỉ về phương nam, kêu lên:
– Cái gì thế kia?
Chỉ thấy nơi mặt biển xa xa tít tận chân trời có hai điểm đen. Trương Thúy Sơn giật mình kinh hãi, nói:
– Liệu có phải cá voi chăng? Nếu nó đến húc vào bè thì nguy mất.
Ân Tố Tố nhìn một hồi, nói:
– Không phải cá voi đâu, đâu có thấy phun nước.
Ba người chăm chăm nhìn hai điểm đen đó, mãi đến hơn một giờ sau, Trương Thúy Sơn vui mừng kêu lên:
– Thuyền đó, thuyền đó.
Chàng cao hứng nhảy tung người lên, lộn một vòng. Chàng từ khi sinh được Vô Kỵ, lúc nào cũng tất bật, chưa bao giờ có dịp hành động một cách trẻ con như thế. Vô Kỵ cười khanh khách, bắt chước cha, cũng lộn tùng phèo hai vòng.
Lại thêm hơn một giờ nữa, dưới ánh mặt trời xiên xiên, nhìn rõ ràng là hai chiếc thuyền lớn. Ân Tố Tố bỗng nhiên run run, sắc mặt đại biến. Vô Kỵ lạ lùng hỏi:
– Mẹ, mẹ sao thế?
Ân Tố Tố môi mấp máy, nhưng không nói được nên lời. Trương Thúy Sơn nắm lấy tay nàng, mặt đầy vẻ quan tâm. Ân Tố Tố thở dài nói:
– Vừa về đến đã gặp ngay rồi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Cái gì?
Ân Tố Tố nói:
– Chàng thử nhìn cánh buồm kia.
Trương Thúy Sơn nheo mắt nhìn kỹ, thấy chiếc thuyền lớn bên trái, trên buồm có vẽ một con chim ưng lớn màu đen, giang rộng hai cánh, hình thù uy mãnh, nhớ đến trên Vương Bàn Sơn đảo năm nào nhìn thấy trên đại kỳ của Thiên Ưng giáo, trong lòng chấn động, nói:
– Đó ? đó là Thiên Ưng giáo?
Ân Tố Tố cúi đầu đáp:
– Đúng rồi, chính là Thiên Ưng giáo của cha em.
Ngay lúc đó, trong đầu Trương Thúy Sơn nổi lên biết bao ý niệm: ?Cha của Tố Tố chính là giáo chủ Thiên Ưng giáo, tà giáo này xem ra không việc ác gì không làm, khi ta gặp nhạc phụ phải tính sao đây? Ân sư đối với việc hôn nhân của ta sẽ nói như thế nào?? Chàng thấy bàn tay nhỏ nhắn của Ân Tố Tố trong tay mình run rẩy, biết rằng trong lòng nàng cũng có biết bao tâm sự, liền nói:
– Tố Tố, con của mình cũng đã lớn rồi. Trên trời dưới đất, nhất quyết không bao giờ xa nhau. Em còn sợ gì nữa?
Ân Tố Tố thở phào một hơi, liếc chàng mỉm cười, nói nhỏ:
– Chỉ cầu em không làm cho anh phải khó khăn, mong có gì anh nghĩ đến Vô Kỵ.
Vô Kỵ trước nay chưa nhìn thấy thuyền bao giờ, nay thấy lạ nên chăm chăm nhìn hai chiếc thuyền, không nghe cha mẹ nói gì cả. Chiếc bè trôi mỗi lúc một gần, thấy hai chiếc thuyền kia đậu gần sát nhau, tưởng như ở cùng một chỗ. Nếu phương hướng không đổi, chiếc bè sẽ trôi đến cách chỗ giao thoa của hai chiếc thuyền kia chừng vài chục trượng thôi.
Trương Thúy Sơn hỏi:
– Em có muốn gọi người trên thuyền không? Hỏi thăm tin tức cha em xem thế nào?
Ân Tố Tố nói:
– Thôi đừng gọi, để về đến Trung Nguyên rồi, em sẽ đưa anh và Vô Kỵ đến thăm gia gia.
Trương Thúy Sơn nói:
– Ừ, thế cũng được.
Bỗng chàng thấy trên chiếc thuyền kia có ánh đao lấp loáng, dường như có bốn năm người đang giao đấu nên nói:
– Người trên hai chiếc thuyền này đang động thủ.
Ân Tố Tố chăm chú nhìn một hồi, có vẻ hơi lo, nói:
– Không biết cha em có trên thuyền này không?
Trương Thúy Sơn nói:
– Nếu có ở trên đó, bọn mình nên đến xem sao.
Chàng kéo nghiêng buồm, bẻ tay lái phía sau, chiếc bè nghiêng qua bên trái, chầm chậm trôi về hướng hai chiếc thuyền.
Tuy buồm trên chiếc bè căng gió nhưng trôi cũng rất chậm, phải mất nửa ngày mới đến gần hai chiếc thuyền. Bỗng nghe từ trên chiếc thuyền của Thiên Ưng giáo có người lớn tiếng nói:
– Có việc làm ăn đứng đắn, người ngoài không liên quan gì xin tránh ra nơi khác.
Ân Tố Tố kêu lên:
– Nhật nguyệt quang chiếu, thiên ưng triển xí, thánh diễm hùng hùng, phổ huệ thế nhân[3]. Đây là đường chủ của tổng đà. Trên đó đàn nào nổi lửa đốt hương đó?
Câu nàng nói là mật ngữ của Thiên Ưng giáo. Người trên thuyền lập tức cung kính đáp lại:
– Thiên Thị Đường Lý đường chủ tất lãnh Thanh Long Đàn Trình đàn chủ, Thần Xà Đàn Phong đàn chủ ở trên này. Có phải Thiên Vi Đường Ân đường chủ giá lâm đấy không?
Ân Tố Tố đáp:
– Tử Vi Đường Đường chủ đây.
Người trên thuyền đó nghe thấy năm chữ ?Tử Vi Đường Đường chủ?, lập tức náo loạn cả lên. Một lát sau, hơn một chục người cùng kêu lên:
– Ân cô nương về rồi, Ân cô nương về rồi.
Trương Thúy Sơn cùng Ân Tố Tố thành hôn đã mười năm, trước nay chưa hề hỏi vợ về việc bên trong Thiên Ưng giáo, cũng không nghe nàng nói chuyện bao giờ, bây giờ nghe hai bên đối đáp, mới biết vợ mình là ?Tử Vi Đường Đường chủ? chi đó, xem ra đường chủ quyền vị còn cao hơn đàn chủ.
Khi chàng ở trên đảo Vương Bàn Sơn, đã chứng kiến tài năng của hai vị đàn chủ Huyền Võ Đàn, Chu Tước Đàn. Nếu cứ võ công mà luận họ đều giỏi hơn Ân Tố Tố, nhưng nàng được giữ địa vị đường chủ, chẳng qua chỉ vì là con gái của giáo chủ. Xem như thế, vị Lý đường chủ của Thiên Thị Đường này, ắt phải là một nhân vật cực kỳ lợi hại.
Bỗng nghe từ phía thuyền bên kia, một giọng già nua cất lên:
– Nghe nói thiên kim của giáo chủ tệ giáo là Ân cô nương đã trở về, tất cả tạm thời ngừng đấu, được chăng?
Kế đó có tiếng một người vang vang nói:
– Được, mọi người ngừng tay.
Sau đó tiếng binh khí chạm nhau đều im bặt, những người đang giao đấu lập tức giãn ra hai bên.
Trương Thúy Sơn nghe thấy tiếng người trầm hùng kia rất quen thuộc, liền sững người, kêu lên:
– Có phải Du Liên Châu Du sư ca đấy không?
Người trên thuyền nghe hỏi liền đáp:
– Ta chính là Du Liên Châu ? ồ ? ồ ? ngươi ? ngươi ?
Trương Thúy Sơn nói:
– Tiểu đệ Trương Thúy Sơn đây.
Chàng tâm tình kích động, thấy chiếc bè còn cách xa hai chiếc thuyền đến mấy trượng, liền nhặt một khúc gỗ, vận kình ném ra, tiếp theo thân hình nhảy tới, đạp vào khúc gỗ mượn sức, nhảy lên đầu thuyền kia.
Du Liên Châu vượt lên trên, sư huynh sư đệ xa nhau mười năm, không biết mất hay còn, sống hay chết, lần này gặp lại, vui mừng biết mấy. Bốn bàn tay nắm chặt, người thì kêu: ?Nhị ca?, người thì gọi: ?Ngũ đệ?, cả hai nước mắt rưng rưng, không nói nên lời.
Phía bên kia nghênh tiếp Ân Tố Tố xem ra có vẻ rầm rộ hơn. Tám chiếc tù và bằng ốc biển cùng thổi u u, Lý đường chủ đứng trên cùng, Phong Trình hai đàn chủ đứng sau lưng Lý đường chủ, sau cùng là khoảng một trăm giáo chúng. Từ bè lên thuyền có bắc ván cầu, lại thêm bảy tám tên giáo chúng thủy thủ dùng sào dài móc chặt chiếc bè lại. Ân Tố Tố dắt tay Vô Kỵ theo ván gỗ đi lên thuyền.
Giáo chủ Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính chia Thiên Ưng giáo ra thành nội tam đường, ngoại ngũ đàn, cai quản tất cả giáo chúng. Nội tam đường gồm có Thiên Vi, Tử Vi, Thiên Thị, còn ngoại ngũ đàn có Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Võ, Chu Tước, Thần Xà năm đàn. Thiên Vi Đường đường chủ là Ân Dã Vương, con trai lớn của Ân Thiên Chính. Tử Vi Đường đường chủ là Ân Tố Tố, còn Thiên Thị Đường đường chủ là Lý Thiên Viên, sư đệ của Ân Thiên Chính.
Lý Thiên Viên thấy Ân Tố Tố áo quần lam lũ, chỗ thì bằng da, chỗ thì lông thú, tay lại dắt một đứa bé con, không khỏi ngạc nhiên, nhưng vẻ mặt đổi ngay thành vui mừng, cười nói:
– Tạ trời tạ đất, cháu đã về, mười năm qua cha cháu khắc khoải không biết bao nhiêu mà kể.
Ân Tố Tố vái lạy, nói:
– Sư thúc vẫn khỏe chứ?
Nàng quay qua Vô Kỵ nói:
– Mau khấu đầu trước sư thúc tổ đi con.
Vô Kỵ quì xuống khấu đầu, đôi mắt đen láy chăm chăm nhìn Lý Thiên Viên. Thằng nhỏ thấy trên thuyền có rất đông người, không khỏi lạ lùng. Ân Tố Tố đứng dậy, nói:
– Sư thúc, đây là con của điệt nữ, cháu tên Vô Kỵ.
Lý Thiên Viên kinh ngạc, nhưng lập tức cười ha hả, nói:
– Tốt lắm, tốt lắm, cha cháu chắc sướng điên người, không những con gái trở về, lại còn mang theo một đứa cháu ngoại tuấn tú thế này.
Ân Tố Tố thấy trên sàn thuyền hai bên đều có mấy tử thi, các nơi máu me vương vãi, hạ giọng hỏi:
– Đối phương là ai? Vì sao động võ.
Lý Thiên Viên nói:
– Là người của phái Võ Đương và phái Côn Lôn.
Ân Tố Tố đã nghe trượng phu gọi ?Du sư ca? rồi nhảy lên thuyền phía bên kia, cùng một người ôm nhau, nên đã biết đối phương có phái Võ Đương trong đó, bây giờ nghe Lý Thiên Viên trình bày, liền nói:
– Tốt nhất là đừng động thủ, hóa giải được thì nên hóa giải.
Lý Thiên Viên đáp:
– Ừ.
Ông ta tuy là sư thúc, nhưng trong Thiên Ưng giáo, Thiên Thị Đường là chót hết trong ba nội đường, xếp sau Tử Vi Đường. Nếu luận theo sư môn, Lý Thiên Viên là vai trên, nhưng khi giải quyết giáo vụ thì quyền vị của Ân Tố Tố lại cao hơn sư thúc.
Bỗng nghe Trương Thúy Sơn từ thuyền phía bên kia gọi:
– Tố Tố, Vô Kỵ, qua bên này để chào sư ca của ta.
Ân Tố Tố liền dắt tay Vô Kỵ, đi qua bên thuyền kia. Lý Thiên Viên và Trình, Phong hai đàn chủ sợ có điều gì thất thố, lập tức nối gót.
Qua đến thuyền bên kia, thấy trên sàn thuyền có bảy tám người, một người cao gầy chừng bốn mươi đứng nắm tay Trương Thúy Sơn, thần thái cực kỳ thân mật. Trương Thúy Sơn nói:
– Tố Tố, vị này là người mà anh hay nhắc đến, Du nhị sư ca. Nhị ca, đây là vợ của em và đây là cháu Vô Kỵ.
Du Liên Châu và Lý Thiên Viên nghe thấy, hai người đều giật mình kinh ngạc. Thiên Ưng giáo và phái Võ Đương hai bên đang ác đấu, nào ngờ mỗi bên lại có một nhân vật trọng yếu kết thành vợ chồng, không chỉ là vợ chồng, lại còn có một đứa con.
Du Liên Châu biết rằng nguyên ủy bên trong có nhiều khúc mắc, không thể bỗng chốc mà nói cho rõ được, nên trước hết đưa Trương Thúy Sơn giới thiệu với những người khác trên thuyền. Đạo nhân vừa lùn vừa mập, đội mũ vàng là Tây Hoa Tử của phái Côn Lôn, còn người đàn bà trung niên là sư muội của Tây Hoa Tử, Thiểm Điện Thủ Vệ Tứ Nương, trên giang hồ sau lưng vẫn gọi lén là Thiểm Điện Nương Nương. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đã từng nghe qua tên hai người rồi. Những người khác cũng đều là hảo thủ của phái Côn Lôn, nhưng không nổi danh như Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương. Gã Tây Hoa Tử tuy tuổi tác không còn trẻ, nhưng không chút nào hàm dưỡng, vừa mở miệng là hỏi ngay:
– Trương ngũ hiệp, tên ác tặc Tạ Tốn nay ở đâu? Ngũ hiệp có biết không?
Trương Thúy Sơn chưa về đến Trung Thổ, đang còn trên biển cả mênh mang, đã gặp phải hai điều khó khăn: thứ nhất bản môn đang cùng Thiên Ưng giáo động thủ; thứ hai vừa gặp ai cũng hỏi tung tích Tạ Tốn ở đâu. Chàng nhất thời không biết phải trả lời thế nào cho phải, quay sang Du Liên Châu hỏi:
– Nhị ca, nguyên do chuyện này dầu đuôi như thế nào?
Tây Hoa Tử thấy Trương Thúy Sơn không trả lời câu hỏi của mình, tính hung hăng nóng nảy nổi lên, lớn tiếng nói:
– Ngươi không nghe ta nói gì sao? Tên ác tặc Tạ Tốn ở chỗ nào?
Y nơi phái Côn Lôn vai vế thật cao, võ công lại giỏi, xưa nay đã quen hống hách. Phong đàn chủ của Thần Xà Đàn phía Thiên Ưng giáo là người âm hiểm, khi động thủ, có hai tên đệ tử thủ hạ bị chết dưới kiếm của Tây Hoa Tử, nên rất căm ghét y, lúc này liền lạnh lùng cười khẩy:
– Trương ngũ hiệp là ái tế của bản giáo giáo chủ, ngươi ăn nói nên nể nang một chút.
Tây Hoa Tử nổi giận quát lên:
– Yêu nữ của tà giáo, làm sao sánh duyên với đệ tử danh môn chính phái được? Vụ hôn phối này, bên trong hẳn có gì tráo trở.
Phong đàn chủ cười nhạt nói:
– Ân giáo chủ của bọn ta đã có cháu ngoại rồi, ngươi nói năng nhăng cuội cái gì nữa?
Tây Hoa Tử tức giận nói:
– Con yêu nữ ?
Vệ Tứ Nương đã nhìn thấy dụng tâm của Phong đàn chủ, biết y muốn chọc cho hai phái Côn Lôn, Võ Đương hiềm khích, lại vừa lấy lòng Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố, biết Tây Hoa Tử càng nói càng phun ra những lời khó nghe, nên nói:
– Sư huynh, việc gì phải đôi co những lời vô vị với họ, tất cả chúng ta nên nghe Du nhị hiệp phân bày.
Du Liên Châu nhìn Trương Thúy Sơn, rồi nhìn Ân Tố Tố, trong lòng có biết bao nhiêu câu hỏi, nên nói:
– Tất cả chúng ta nên vào thuyền để bàn chuyện lâu dài, những anh em chết hay bị thương của cả hai bên, nên chữa trị trước.
Bấy giờ Thiên Ưng giáo là khách, mà quyền vị tối cao là Tử Vi Đường đường chủ Ân Tố Tố. Nàng dắt tay Vô Kỵ đi đầu tiên, kế đó là Lý Thiên Viên. Khi Phong đàn chủ bước lên khoang thuyền, bỗng thấy có một làn gió nhẹ đánh vào ngang lưng, y là người kinh lịch phong phú, biết ngay là Tây Hoa Tử đánh lén, nhưng không đưa tay đỡ, chỉ nhào về phía trước, kêu lên:
– Ối chà, đánh người hả?
Việc đó khiến cho chiêu ?Tam Âm Thủ? của Tây Hoa Tử bị hụt ra ngoài, nhưng vì Phong đàn chủ kêu lên, mọi người đều quay lại nhìn hai người. Vệ Tứ Nương trừng mắt nhìn sư huynh, khuôn mặt tía của Tây Hoa Tử giờ đây có ẩn sắc hồng. Ai cũng biết rằng khi đã lên trên thuyền này, cả bọn Phong đàn chủ đều là khách, cái trò thâu tập của Tây Hoa Tử, thật quả mất đi cái thân phận cao thủ trong danh môn chính phái.
Hai bên phân chủ khách ngồi xuống. Ân Tố Tố là thủ tịch của phe khách, Vô Kỵ đứng bên cạnh mẹ. Phe chủ thì Du Liên Châu đứng đầu, chàng chỉ một cái ghế bên dưới Vệ Tứ Nương nói:
– Ngũ đệ, em ngồi ở đây.
Trương Thúy Sơn đáp: ?Vâng? theo lời ngồi xuống. Như thế hai vợ chồng Trương Ân thành ra hai bên chủ khách, vào thế đối nghịch với nhau.
Trong mười năm qua, Du Đại Nham bị thương không ra ngoài được, Trương Thúy Sơn thất tung, sống chết không ai biết, còn lại Võ Đương ngũ hiệp danh tiếng nổi hơn nhiều. Tống Viễn Kiều, Du Liên Châu tuy chỉ là đệ tử đời thứ hai trong phái Võ Đương nhưng trong võ lâm, nghiễm nhiên ngang hàng với những cao tăng của phái Thiếu Lâm. Trên giang hồ đối với Võ Đương ngũ hiệp hết sức kính trọng, vì thế Tây Hoa Tử, Vệ Tứ Nương phải nhường chàng vai thủ tịch.
Du Liên Châu trong bụng tính thầm: ?Ngũ đệ mất tích mười năm, hóa ra đã cùng với con gái của giáo chủ Thiên Ưng giáo kết thành vợ chồng, nếu bây giờ trước mặt mọi người tra hỏi, thể nào y cũng có những điều khó nói?. Chàng bèn lớn tiếng nói:
– Chúng ta bao gồm Thiếu Lâm, Côn Lôn, Nga Mi, Không Động, Võ Đương tất cả năm môn phái, cùng Thần Quyền, Ngũ Phượng Đao chín môn, Hải Sa, Cự Kình bảy bang, tổng cộng hai mươi mốt môn phái bang hội, vì việc truy tầm Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, Thiên Ưng giáo Ân cô nương, luôn cả sư đệ Trương Thúy Sơn của tệ phái nên không may có sự hiểu lầm với Thiên Ưng giáo, hai bên đều có người chết, mười năm qua võ lâm chẳng được yên ?
Nói tới đây, chàng ngừng lại một chút, rồi tiếp:
– Thật may Ân cô nương và Trương ngũ đệ đột nhiên ra mặt, biết bao chuyện nghi nan trong quá khứ chưa giải được, chắc sẽ minh bạch. Thế nhưng mười năm qua, mọi việc quá nhiều đầu dây mối nhợ, không thể nào một lúc mà nói cho rõ hết. Cứ như ý kiến tại hạ, tất cả chúng ta nên quay về đại lục, nhờ Ân cô nương bẩm minh giáo chủ, tệ sư đệ cũng về núi Võ Đương trình với gia sư, sau đó hai bên sẽ cùng chọn nơi hội họp, phân biện đâu là phải đâu là trái, chỗ nào ngay chỗ nào cong, nếu từ đó có thể biến thù thành bạn, thì thật là tốt đẹp ?
Tây Hoa Tử đột nhiên xen vào:
– Tên ác tặc Tạ Tốn ở đâu? Chúng ta muốn tìm tên ác tặc Tạ Tốn ?
Trương Thúy Sơn nghe nói vì việc tìm kiếm ba người mình mà hai mươi hai môn phái trong võ lâm trung nguyên phải đại động can qua, mười năm đánh nhau, chết chóc hẳn đã nhiều lắm, trong lòng thật áy náy. Tai chàng nghe Tây Hoa Tử luôn mồm hỏi chỗ ở của Tạ Tốn, khiến lại càng khó xử. Nếu nói thẳng ra, sẽ không biết bao nhiêu cao thủ võ lâm đi đến Băng Hỏa đảo kiếm Tạ Tốn báo thù, còn nếu không nói, thì làm sao có thể dấu được? Chàng còn đang nghĩ ngợi, Ân Tố Tố đột nhiên nói:
– – Kẻ vô ác bất tác, giết người như ngóe Tạ Tốn kia, chín năm trước đã chết rồi.
Du Liên Châu, Tây Hoa Tử, Vệ Tứ Nương cả bọn đồng thanh kinh ngạc kêu lên:
– Tạ Tốn chết rồi ư?
Ân Tố Tố nói:
– Ngay hôm tôi sinh ra thằng bé này, ác tặc Tạ Tốn nổi cơn điên, định giết Ngũ ca và tôi, đột nhiên nghe thấy tiếng khóc của hài tử, tâm bệnh nổi lên, tên ác tặc Tạ Tốn lập tức chết liền.
Bấy giờ Trương Thúy Sơn mới minh bạch, khi Ân Tố Tố nói tới ?tên ác tặc Tạ Tốn đã chết?, cũng không phải là nói láo, vì từ khi Tạ Tốn nghe tiếng khóc chào đời của Vô Kỵ, thiên lương đã trỗi dậy, bệnh điên không còn, bỏ đường ác quay về đường thiện. Khi y ép ba người rời đảo rõ ràng có tấm lòng ?xả kỷ vi nhân?, hành vi đại nhân dại nghĩa như thế nên có nói ?tên ác tặc không việc ác nào không làm, giết người như ngóe Tạ Tốn kia? quả đã chết từ chín năm trước, mà ?con người tốt Tạ Tốn? cũng từ chín năm trước đã tái sinh.
Tây Hoa Tử nhăn mũi hừ một tiếng, y cho rằng Ân Tố Tố là yêu nữ của tà giáo, nói ra không thể nào tin được, gay gắt nói:
– Trương ngũ hiệp, tên ác tặc Tạ Tốn đó có chết thật không?
Trương Thúy Sơn thản nhiên đáp:
– Đúng thế, tên ác tặc làm điều sai trái Tạ Tốn đó đã chết chín năm trước rồi.
Vô Kỵ đứng bên cạnh thấy mọi người chửi rủa ác tặc Tạ Tốn, cả cha mẹ nó cũng nói y chết rồi. Thằng bé tuy thông minh, nhưng làm sao hiểu nổi những khúc mắc trên chốn giang hồ. Tạ Tốn đối với nó ân sâu nghĩa nặng, chăm lo cho nó nào có khác gì cha mẹ ruột đâu, nên cảm thấy đau lòng, nhịn không nổi khóc òa lên:
– Nghĩa phụ không phải là ác tặc, nghĩa phụ chưa chết, nghĩa phụ chưa chết.
Mấy câu đó khiến cho mọi người trên thuyền ai cũng ngạc nhiên. Ân Tố Tố giận điên người, tát trái cho Vô Kỵ một cái, quát lên:
– Câm mồm.
Vô Kỵ mếu máo nói:
– Mẹ ơi, sao mẹ lại nói là nghĩa phụ chết rồi? Nghĩa phụ rõ ràng vẫn còn sống đấy chứ?
Từ nhỏ tới giờ Vô Kỵ chỉ sống với cha mẹ và nghĩa phụ ba người, những mưu mô cơ trí của người đời nó chưa từng biết đến, nếu như một đứa trẻ lớn lên trong chốn giang hồ, chỉ thông minh bằng nửa nó thôi, cũng biết người đời nói dối như cơm bữa, sẽ không gây ra cái đại họa mới rồi. Ân Tố Tố mắng con:
– Người lớn nói chuyện, trẻ con không được lắm lời. Người ta nói đây là ác tặc Tạ Tốn, đâu có phải nói nghĩa phụ của con đâu.
Vô Kỵ hoang mang không hiểu, nhưng không dám hỏi thêm.
Tây Hoa Tử cười nhạt, hỏi Vô Kỵ:
– Này em bé, Tạ Tốn là nghĩa phụ của em, phải không? Ông ta bây giờ ở đâu?
Vô Kỵ nhìn mặt cha mẹ, biết rằng những điều họ nói thật là trọng yếu, nghe Tây Hoa Tử hỏi, liền lắc đầu, nói:
– Tôi không nói.
Thằng bé nói ba tiếng ?tôi không nói? lại càng minh xác điều Tạ Tốn chưa chết. Tây Hoa Tử trừng mắt nhìn Trương Thúy Sơn, nói:
– Trương ngũ hiệp, vị Ân cô nương của Thiên Ưng giáo này có thực là vợ ngũ hiệp không?
Trương Thúy Sơn không ngờ y đột nhiên lại hỏi một câu như thế, lớn tiếng đáp:
– Phải, nàng chính là người vợ vụng dại của tôi.
Tây Hoa Tử gay gắt nói:
– Phái Côn Lôn chúng tôi có hai đệ tử, bị tay Trương phu nhân làm hại, biến thành sống dở chết dở, cái món nợ đó bây giờ tính sao đây?
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cùng kinh ngạc. Ân Tố Tố nói ngay:
– Nói năng láo lếu.
Trương Thúy Sơn nói:
– Việc đó chắc có chuyện hiểu lầm, vợ chồng chúng tôi xa Trung Thổ đã mười năm, làm sao có thể hủy thương đệ tử của quí phái?
Tây Hoa Tử nói:
– Mười năm trước thì sao? Cao Tắc Thành và Tưởng Đào hai người bị hại, tính ra cũng đã mười năm rồi.
Ân Tố Tố hỏi lại:
– Cao Tắc Thành và Tưởng Đào?
Tây Hoa Tử đáp:
– Trương phu nhân còn nhớ được hai người đó ư? Chỉ sợ bà giết người nhiều quá, nhớ không xuể nữa chứ.
Ân Tố Tố hỏi lại:
– Hai người đó ra sao? Cớ gì lại nhất định vu cho tôi hại họ?
Tây Hoa Tử ngửng mặt lên trời cười ha hả, nói:
– Tôi vu oan cho bà ư? Tôi vu oan cho bà ư? Ha ha, Cao Tưởng hai người tuy đã mất trí, nhưng vẫn còn nhớ được một việc, nói lên được tên của một người, nên mới biết được kẻ đã hại y chính là ?Ân ? Tố ? Tố?.
Y dằn mạnh từng tiếng Ân Tố Tố, trong cách nói chứa đầy oán hận, hai mắt trợn tròn, nhìn nàng như muốn nuốt sống ăn tươi, tưởng như định rút kiếm đâm mấy nhát mới hả giận.
Phong đàn chủ đột nhiên xen vào:
– Khuê danh của bản giáo đường chủ Tử Vi Đường, đâu phải để những người xuất gia như lão đạo tự tiện gọi ra đâu. Đến thanh qui giới luật không biết giữ, vậy mà xưng là võ lâm tiền bối ư? Trình hiền đệ, ngươi xem những việc vô sỉ trên đời có việc nào như thế không nhỉ?
Trình đàn chủ nối lời:
– Chưa từng thấy. Trong danh môn chính phái lại có những bọn cuồng đồ như thế, thật nực cười ôi là nực cười.
Phong đàn chủ không thèm liếc mắt nhìn y, nói:
– Trình hiền đệ, những người mới học được chút kiếm pháp mèo cào đâu đó, hành sự ăn nói đã lên mặt, ngươi bảo hạng đó là hạng nào?
Trình đàn chủ nói:
– Phái Côn Lôn từ khi Linh Bảo đạo trưởng lìa trần rồi, đời sau càng kém đời trước, chẳng ra trò trống gì.
Linh Bảo đạo trưởng là sư tổ[4] của Tây Hoa Tử, võ công đức vọng, trong võ lâm ai ai cũng khâm phục. Tây Hoa Tử nghe câu đó giận tím cả mặt, nhưng không dám cãi lại, nếu nói rằng Trình đàn chủ nói sai, có khác nào nói rằng mình còn giỏi hơn cả sư tổ danh chấn thiên hạ xưa kia. Y lạng người bước ra ngoài khoang thuyền, soẹt một tiếng, trường kiếm cầm tay, kêu lớn:
– Tên ác tặc của tà giáo kia, có giỏi thì ra đây thử sức.
Phong đàn chủ và Trình đàn chủ khích cho Tây Hoa Tử nổi giận, bản ý chỉ muốn giải vây cho Ân Tố Tố, nghĩ thầm Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đã là vợ chồng, Thiên Ưng giáo và phái Võ Đương bây giờ quan hệ khác hẳn ngày trước, nếu như Du Liên Châu và Trương Thúy Sơn không tiện ra tay, thì ít ra cũng không giúp bên nào, Thiên Ưng giáo đối phó với mấy người của phái Côn Lôn có thể thắng được dễ dàng.
Vệ Tứ Nương mày nhướng lên, y thị cũng đã nhìn thấy chuyện đó, nếu chỉ có sáu bảy người của mình và sư ca, không cách nào có thể đối địch được với bao nhiêu là cao thủ của Thiên Ưng giáo, huống chi Trương Thúy Sơn tình nghĩa vợ chồng thâm trọng, rất có thể ra tay tương trợ đối phương nên nói:
– – Sư ca, người ta qua đến thuyền bên mình là khách, chúng ta nên nghe Du nhị hiệp chỉ dạy là hơn.
Y thị dùng ngôn ngữ đẩy cho Du Liên Châu, nghĩ thầm thanh vọng địa vị của chàng, quyết không thể nào xử sự thiên vị được. Nào ngờ Tây Hoa Tử tính phổi bò, kêu lớn:
– Phái Võ Đương và Thiên Ưng giáo đã kết thân gia rồi, cùng giòng dính bẩn với nhau, y còn làm sao có thể ăn nói cho công chính được nữa?
Du Liên Châu là người thâm trầm, hỉ nộ không lộ ra ngoài mặt, nghe Tây Hoa Tử nói chỉ ngồi yên không trả lời. Vệ Tứ Nương vội nói:
– Sư ca, sao sư ca lại nói năng không giữ lời như vậy? Không nói gì phái Võ Đương cùng với phái Côn Lôn chúng ta đồng khí liên chi, uyên nguyên thật sâu đậm, mười năm nay liên thủ chống địch, hết sức bền chặt, Du nhị hiệp lại là một hảo hán tử thiết diện vô tư, anh danh nổi khắp giang hồ, thiên hạ có ai không khâm phục? Võ Đương ngũ hiệp xử sự có đâu lại thiên vị bao giờ?
Tây Hoa Tử hừ một tiếng, nói:
– Cái đó chưa chắc.
Vệ Tứ Nương trong bụng mắng thầm sư ca mê muội, nhưng không thể nói huỵch toẹt ý nghĩ của mình, lớn tiếng nói:
– Sư ca, nếu sư ca để đắc tội với Võ Đương ngũ hiệp, sư phụ và chưởng môn sư thúc hỏi tới, thì tiểu muội không chịu đâu đấy nhé.
Y thị nói ra chỉ nhắc Võ Đương ngũ hiệp, không coi Trương Thúy Sơn ở trong đó. Tây Hoa Tử nghe thị nhắc tới sư phụ và chưởng môn sư thúc ra, không còn dám cãi nữa.
Du Liên Châu thủng thẳng nói:
– Việc này liên quan đến các đại môn phái, các đại bang hội trong võ lâm, tại hạ vô đức vô năng, làm sao dám chủ trương? Tuy nhiên việc này cũng đã mười năm nay, có thêm nửa năm, một năm nữa cũng không là bao nhiêu. Tại hạ phải cùng với Trương sư đệ quay về núi Võ Đương, bẩm cho ân sư và đại sư ca rõ, để in ân sư chỉ thị.
Tây Hoa Tử cười nhạt nói:
– Cái chiêu ?Như Phong Tự Bế? của Du nhị hiệp dùng để thoái thác, quả thực cao minh.
Du Liên Châu không phải là người dễ nổi nóng, nhưng Tây Hoa Tử nói đến chiêu ?Như Phong Tự Bế?, chính là công phu nổi danh thiên hạ chuyên về thủ ngự của phái Võ Đương, lại do chính ân sư Trương Tam Phong sáng tác, y nhạo báng võ công phái Võ Đương có khác nào làm nhục đến sư phụ. Tuy nhiên chàng dằn được ngay, nghĩ thầm: ?Việc này xử lý mà thất thố, sẽ dẫn đến một trường hạo kiếp khó mà giải quyết trong võ lâm. Tên đạo sĩ lỗ mãng này nói năng quấy quá, đâu đáng để mình phải đôi co làm chi?.
Tây Hoa Tử thấy chàng nghe mấy câu sau, liếc mắt nhìn y một cái, thần quang lấp loáng, như điện chớp, bất giác trong lòng sợ hãi: ?Sư phụ và chưởng môn sư thúc là hai cao thủ đứng đầu của môn phái, nhãn thần xem ra cũng không mạnh bằng của người này?.
Tinh quang trong mắt Du Liên Châu lập tức thu liễm, chàng lặng lẽ nói:
– Tây Hoa đạo huynh nếu như có cao kiến gì, tại hạ xin rửa tai lắng nghe.
Tây Hoa Tử mới rồi bị mắt chàng trừng mắt nhìn qua, trong lòng còn sợ, quay sang nói:
– Sư muội,? ngươi nghĩ sao? Không lẽ chuyện Cao Tưởng hai người mình đành sõng tay bỏ qua?
Vệ Tứ Nương chưa kịp trả lời, bỗng thấy ở hướng nam có tiếng tù và báo hiệu, u u không dứt. Một tên đệ tử của phái Côn Lôn chạy vào khoang thuyền nói:
– Hai phái Không Động và phái Nga Mi đã đến tiếp ứng.
Tây Hoa Tử và Vệ Tứ Nương mừng quá, Vệ Tứ Nương nói:
– Du nhị hiệp nên nghe cao kiến của hai phái Không Động và Nga Mi luôn thể.
Du Liên Châu đáp:
– Tốt lắm.
Lý Thiên Viên và Phong đàn chủ, Trình đàn chủ ba người nhìn nhau, mặt hơi biến sắc. Trương Thúy Sơn lại thêm một nỗi lo: ?Phái Nga Mi thì không có gì, nhưng phái Không Động đối với đại ca kết thù rất sâu. Y đả thương Không Động ngũ lão, đoạt được Thất Thương Quyền Kinh, bọn họ thể nào chẳng chăm chăm đi kiếm nơi chỗ đại ca đang ở?.
Ân Tố Tố cũng suy nghĩ như thế, lại tính nếu như Vô Kỵ không lắm mồm, sự tình sẽ dễ giải quyết hơn nhiều. Thế nhưng nghĩ lại Vô Kỵ từ bé chưa bao giờ từng nghe nói dối, đối với Tạ Tốn tình sâu nghĩa nặng, bỗng nghe nghĩa phụ chết rồi, dĩ nhiên phải khóc la, không thể trách nó được. Nàng nhìn mặt thấy vết tát còn hằn dấu tay sưng đỏ, không khỏi thương thằng bé, kéo con vào lòng. Vô Kỵ vẫn chưa yên tâm, ghé vào tai mẹ hỏi nhỏ:
– Mẹ, nghĩa phụ chưa chết, phải không mẹ?
Ân Tố Tố cũng ghé miệng vào tai con, nói thầm:
– Chưa chết. Mẹ đánh lừa họ đó. Những người này đều độc ác, xấu xa, bọn họ muốn hại nghĩa phụ con đó.
Vô Kỵ chợt hiểu ra hằn học nhìn từng người, nghĩ thầm:? Hóa ra bọn ngươi đều xấu xa ác độc, định hại nghĩa phụ ta?.
Từ hôm đó, Trương Vô Kỵ bước chân vào chốn giang hồ, mới biết trên đời lòng người hiểm ác. Nó đưa tay rờ má, cái tát của mẹ nó vẫn còn đau rát. Nó biết rằng không phải mẹ nó đánh, mà chính là những kẻ độc ác xấu xa kia gây nên. Từ bé đến giờ nó sống trong vòng tay bảo bọc nuông chiều của cha mẹ và nghĩa phụ, đâu có biết rằng trên đời này còn có những kẻ địch tâm địa độc ác. Tuy Tạ Tốn đã nói về chuyện Thành Côn, nhưng mới chỉ là tai nghe, đến lúc này mới mắt thấy những người mà nó coi là kẻ địch.
[1] Bể khổ không có chỗ cùng, quay đầu lại thì đến bờ được.
[2] Áo của nhà sư chắp nhiều mảnh lại mà thành gọi là nạp (hay nột). Đây là tiếng nhún mình của nhà sư.
[3] Mặt trời mặt trăng chiếu sáng, chim ưng giuơng cánh, lửa thánh bừng bừng, cứu độ cho thế nhân [4] tức là thầy của thầy mình
Hết tập 8

*******************************************************************************************************************

TẬP 9:
THẤT HIỆP TỤ HỘI LẠC VỊ ƯƠNG
Anh em nay được buổi tao phùng, Tụ họp trong vui đã chứa buồn.
Vừa hết sinh ly nay tử biệt, Để lại trong ai mối hận lòng.
Một lúc sau, có sáu bảy người của hai phái Không Động và phái Nga Mi lên thuyền, chào hỏi Du Liên Châu, Tây Hoa Tử, Vệ Tứ Nương. Đứng đầu phái Không Động là một ông già gầy gò rắn rỏi mặc cát y[1], còn đứng đầu phái Nga Mi là một ni cô trung niên. Những người đó không khỏi ngạc nhiên khi thấy bọn Lý Thiên Viên của Thiên Ưng giáo cũng ở trên thuyền.
Tây Hoa Tử lớn tiếng nói:
– Đường tam gia, Tĩnh Hư sư thái, phái Võ Đương đã bắt tay với Thiên Ưng giáo rồi. Kỳ này bọn mình hố to.
Người gầy gò nhỏ thó mặc áo gai kia tên là Đường Văn Lượng là một trong ngũ lão của phái Không Động, còn trung niên ni cô Tĩnh Hư sư thái là đại đệ tử đời thứ tư của phái Nga Mi, đều là những hảo thủ có chút danh vọng trong võ lâm. Hai người nghe Tây Hoa Tử nói đều ngẩn người. Tĩnh Hư sư thái là người tinh tế, vốn đã biết tính tình bộp chộp của Tây Hoa Tử nên không nói gì, còn Đường Văn Lượng lập tức trợn tròn đôi mắt, nhìn trừng trừng vào Du Liên Châu hỏi:
– Du nhị hiệp, lời nói đó có đúng không?
Du Liên Châu chưa kịp trả lời, Tây Hoa Tử đã chen vào:
– Bọn phái Võ Đương đã kết thành thân gia với Thiên Ưng giáo, Trương Thúy Sơn đã thành con rể của Ân Thiên Chính ?
Đường Văn Lượng lạ lùng hỏi:
– Trương ngũ hiệp thất tung mười năm nay đã biết được ở đâu rồi ư?
Du Liên Châu chỉ Trương Thúy Sơn nói:
– Đây là ngũ sư đệ của tôi Trương Thúy Sơn, còn vị này là tiền bối cao nhân của phái Không Động, Đường tam gia Đường Văn Lượng, hai người làm quen đi nào.
Tây Hoa Tử lại nói:
– Vợ chồng Trương Thúy Sơn biết chỗ ở của Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn, nhưng quanh co không chịu nói, lại còn giả mù sa mưa, bảo là Tạ Tốn chết rồi.
Đường Văn Lượng vừa nghe tới ?Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn?, vừa sợ vừa tức, quát lên:
– Y ở đâu?
Trương Thúy Sơn nói:
– Việc này tại hạ phải bẩm trước cho gia sư rõ, xin thứ lỗi không thể trình bày bây giờ.
Đường Văn Lượng mắt như muốn đổ lửa, quát lên:
– Tên ác tặc Tạ Tốn ở chỗ nào? Y giết cháu ta, họ Đường này quyết không đội trời chung với y, y ở đâu? Ngươi có nói không thì bảo?
Mấy câu sau cùng giọng y thật gay gắt, không còn chút nể nang gì. Ân Tố Tố lạnh lùng đáp:
– Các hạ có lắm cũng chỉ là người của phái Không Động lớn hơn vài tuổi, với tư cách đó, làm gì mà có thể bức bách được Trương ngũ gia? Ngươi là võ lâm chí tôn chăng? Hay ngươi là Trương chân nhân, chưởng môn phái Võ Đương?
Đường Văn Lượng giận quá, mười ngón tay vung ra, đang toan xông vào Ân Tố Tố, nhưng thấy nàng chỉ là một thiếu phụ ẻo lả, còn mình là nhân vật thành danh, võ lâm tiền bối, không tiện động thủ với nàng, cố dằn cơn nóng, quay qua Trương Thúy Sơn nói:
– Ai đây?
Trương Thúy Sơn nói:
– Đó là tiện nội.
Tây Hoa Tử nói chen vào:
– Đấy chính là thiên kim của Ân đại giáo chủ Thiên Ưng giáo. Hừ, tà giáo yêu nữ, có tốt lành gì.
Bạch Mi Ưng Vương Ân Thiên Chính võ công tinh thâm, đương thế những người đã từng động thủ với ông ta, chưa có ai chống đỡ nổi mười chiêu. Đường Văn Lượng vừa nghe người đàn bà này là con gái của Ân Thiên Chính, không khỏi kiêng dè, chỉ nói:
– Được, được lắm.
Tĩnh Hư sư thái từ khi lên thuyền đến giờ, chỉ lặng yên bình tĩnh không thốt một lời, lúc này mới nói:
– Việc này nguyên ủy đầu đuôi ra sao, mong Du nhị hiệp cho biết.
Du Liên Châu đáp:
– Chuyện này dây mơ rễ má thật nhiều, đến nay đã kéo dài mười năm, nhất thời không thể nào mổ xẻ cho rõ ràng được. Thôi mình để ba tháng sau, tệ phái sẽ thiết yến tại Hoàng Hạc Lâu tỉnh Võ Xương, mời tất cả các môn phái bang hội có liên quan đến dự tiệc, lúc đó trái phải ngay cong, mình nêu ra trước tất cả mọi người. Ý các vị ra sao?
Tĩnh Hư sư thái gật đầu, nói:
– Như thế hay lắm.
Đường Văn Lượng nói:
– Trái phải ngay cong, ba tháng nữa mình luận cũng vừa, nhưng tên ác tặc Tạ Tốn trốn ở đâu, mong Trương ngũ hiệp nói trước cho biết.
Trương Thúy Sơn lắc đầu đáp:
– Lúc này chưa tiện nói ra.
Đường Văn Lượng tuy rất bất mãn nhưng nghĩ bụng nếu phái Võ Đương liên thủ với Thiên Ưng giáo, thì không thể nào làm gì được, nhưng công đạo là ở lòng người, để xem ba tháng sau họ sẽ nói năng thế nào với anh hùng thiên hạ. Thành thử y không nói thêm, đứng ngay dậy chắp hai tay, nói:
– Thế thì ba tháng sau mình gặp lại, cáo từ.
Tây Hoa Tử nói:
– Đường tam gia, mấy người chúng tôi đi nhờ thuyền các hạ trở về, liệu có được chăng?
Đường Văn Lượng đáp:
– Được chứ, có gì mà không được?
Tây Hoa Tử quay sang Vệ Tứ Nương nói:
– Sư muội, mình đi thôi.
Y vốn đi cùng thuyền với Du Liên Châu đến đây, bây giờ làm thế, hiển nhiên coi phái Võ Đương là thù địch. Du Liên Châu vẻ mặt thản nhiên, ân cần niềm nở tiễn họ ra đến đầu thuyền, nói:
– Chúng tôi về núi bẩm rõ cho sư tôn rồi sẽ gửi thiếp mời dự anh hùng yến đến quí vị.
Ân Tố Tố đột nhiên nói:
– Tây Hoa đạo trưởng, tôi có một việc muốn thỉnh giáo.
Tây Hoa Tử ngạc nhiên quay đầu lại, hỏi:
– Chuyện gì?
Ân Tố Tố nói:
– Đạo trưởng không ngớt miệng nói tôi là tà giáo yêu nữ, nhưng không biết tà ở chỗ nào, yêu ở chỗ nào?
Tây Hoa Tử sững sờ, nói:
– Tà ma ngoại đạo, hồ mị yêu dâm, thì là như thế, ta việc gì phải nói nhiều? Nếu không tại sao đường đường một vị Trương ngũ hiệp của phái Võ Đương lại bị mê hoặc? Ha ha, ha ha.
Nói xong liên tiếp cười khẩy. Ân Tố Tố nói:
– Tốt lắm, đa tạ đã chỉ điểm.
Tây Hoa Tử thấy mấy câu của mình đã khiến cho nàng ngú ngớ không đáp lại được, thật ngoài dự liệu, thấy nàng không nói gì thêm, liền lên cầu ván đi qua thuyền của phái Không Động.
Hai chiếc thuyền đều là loại lớn ba cột buồm dùng đi biển, tuy đậu tại một chỗ nhưng cách nhau phải đến hơn hai trượng, cầu ván bắc ngang thật dài. Tây Hoa Tử đối đáp với Ân Tố Tố mấy câu, nên thành người sau cùng, những người khác đã qua thuyền kia cả rồi. Y đi vừa đến giữa tấm ván, thấy đằng sau hơi có tiếng gió, tiếp theo một tiếng soẹt nhỏ. Y tuy tính tình nóng nảy, nhưng võ công cũng khá cao, đi lại trên giang hồ cũng nhiều, vừa nghe tiếng gió, biết sau lưng có người ám toán, lập tức quay người lại, rút trường kiếm ra cầm trên tay. Ngay lúc đó, y thấy dưới chân hẫng xuống, chiếc cầu ván đứt ra làm đôi. Y vội vàng tung mình nhảy lên nhưng giữa hai chiếc thuyền trống không, chẳng có gì để bám vào, bên dưới là biển sâu, nhảy lên rồi không thể nhảy thêm lần nữa, nghe tùm một tiếng, rơi ngay xuống nước.
Y vốn không biết bơi, lập tức ục ục uống ngay mấy ngụm nước mặn, hai tay múa may quờ quạng, đột nhiên nắm được một sợi dây thừng, mừng quá, vội vàng giữ chặt, thấy có người đang kéo y ra khỏi mặt nước. Tây Hoa Tử nhìn lên, thấy đầu dây bên kia chẳng ai xa lạ mà chính là Trình đàn chủ của Thiên Ưng giáo, đang nhìn y miệng cười tủm tỉm.
Thì ra Ân Tố Tố giận y ngôn ngữ vô lễ, bí mật dặn dò Phong Trình hai đàn chủ, sắp đặt mưu kế. Phong đàn chủ có tài sử dụng ba mươi sáu ngọn phi đao nổi danh trong giới giang hồ, ra tay vừa nhanh vừa chính xác, mỗi ngọn phi đao đều do thợ khéo rèn bằng thép ròng, mỏng như lá liễu, sắc bén dị thường, đối thủ nếu đưa binh khí ra đỡ phi đao của y, đều bị chặt đứt. Lúc này y dùng phi đao chặt cầu ván, chỉ nghe soẹt một tiếng nhỏ là đứt liền. Trình đàn chủ đứng bên chuẩn bị sẵn dây thừng, đợi Tây Hoa Tử uống mấy ngụm nước rồi mới tung giây kéo y lên.
Bọn Vệ Tứ Nương, Đường Văn Lượng thấy Tây Hoa Tử rơi xuống biển, tuy cũng đoán là đối phương giở trò, nhưng Phong đàn chủ xuất thủ quá nhanh, mọi người lại chỉ nhìn về phía trước, nên không ai biết tại sao cầu ván đứt đôi, đợi đến lúc mọi người hô hoán cứu cấp, Trình đàn chủ đã kéo được y lên khỏi mặt nước.
Tây Hoa Tử cố dằn cơn giận, định bụng vừa lên đến thuyền, là ra tay tấn công đối phương ngay. Nào ngờ Trình đàn chủ chỉ kéo y lên khỏi mặt nước độ chừng một thước, rồi không kéo nữa, kêu lên:
– Đạo trưởng, tuyệt đối chớ nên động đậy, tại hạ sức yếu, nến cử động, e rằng kéo không nổi sẽ tuột tay đấy nhé.
Tây Hoa Tử nghĩ thầm nếu y giả ngây giả dại, cho mình rơi xuống biển lần nữa, thì thật mất thú, nên đành nắm chặt dây thừng, không dám leo lên. Trình đàn chủ kêu lên:
– Cẩn thận này.
Tay y vẩy một cái, vung chiếc thừng vút lên trên không thành một nửa vòng tròn. Cánh tay của y khỏe thật, chỉ giựt một cái, kéo vút Tây Hoa Tử về sau bẩy tám trượng, lại vung một cái ném về trước, tống y lên thẳng thuyền bên kia.
Tây Hoa Tử buông dây ra, hai chân rơi phịch xuống sàn. Trường kiếm của y bị mất khi rơi xuống biển, lúc này tức giận muốn phát điên, nghe bên thuyền của Thiên Ưng giáo tiếng hoan hô và tiếng cười nhạo báng cùng nổi lên, lập tức chạy đến rút thanh bội kiếm của Vệ Tứ Nương, toan nhảy qua thí mạng. Nhưng lúc đó hai chiếc thuyền cách nhau đã xa, khó lòng nhảy qua nổi, chỉ còn nước dậm chân, chỉ tay mắng chửi, nhưng không làm được.
Ân Tố Tố đùa giỡn Tây Hoa Tử, Du Liên Châu đều nhìn thấy hết, nghĩ thầm người con gái này quả thực tà môn, không phải là mối lương duyên cho ngũ đệ, nên nói:
– Ân Lý hai vị đường chủ, xin cảm phiền về bẩm lại với Ân giáo chủ, ba tháng sau gặp lại ở Võ Xương Hoàng Hạc Lâu, nếu lão nhân gia không coi là nhẹ, xin mời giá lâm. Hôm nay chúng mình từ biệt nơi đây. Ngũ đệ, chú theo ngu huynh về gặp ân sư chứ?
Trương Thúy Sơn nói:
– Vâng.
Ân Tố Tố thấy mấy lời của Du Liên Châu có ý muốn vợ chồng xa nhau, lập tức ngửng lên nhìn trời, lại cúi xuống nhìn sàn thuyền. Trương Thúy Sơn biết nàng có ý muốn nhắc lại lời thề ?thiên thượng địa hạ, vĩnh bất phân ly?, nên nói:
– Nhị ca, tiểu đệ muốn đưa vợ con về khấu kiến ân sư trước, để khi nào được lão nhân gia cho phép, sẽ qua bái kiến nhạc phụ, nhị ca nghĩ có được không?
Du Liên Châu hơi trù trừ, nghĩ thầm nếu cương quyết bắt vợ chồng phân ly, cha con xa cách, quả thật chàng không lòng nào thốt ra, nên gật đầu nói:
– Thế cũng được.
Ân Tố Tố mừng quá, nói với Lý Thiên Viên:
– Sư thúc, xin sư thúc về bẩm lại với cha cháu, nói rằng đứa con gái bất hiếu này may mắn thoát chết, ít ngày nữa sẽ trở về tổng đà, bái kiến lão nhân gia.
Lý Thiên Viên nói:
– Tốt lắm, ta ở tổng đà cung kính đón chờ đại giá của hai vị.
Liền đứng lên, cùng Du Liên Châu chào từ biệt.
Ân Tố Tố hỏi:
– Cha cháu có khỏe không?
Lý Thiên Viên đáp:
– Khỏe lắm, khỏe lắm. Xem ra tinh thần còn kiện vượng hơn xưa nữa.
Ân Tố Tố lại hỏi:
– Còn anh cháu có khỏe không?
Lý Thiên Viên đáp:
– Khỏe lắm. Lệnh huynh mấy năm nay võ công tiến bộ vượt bực, khiến cho sư thúc đuổi theo không kịp, thật đáng xấu hổ biết bao.
Ân Tố Tố mỉm cười nói:
– Sư thúc lại nói đùa với bọn vãn bối rồi.
Lý Thiên Viên nghiêm mặt nói:
– Ta không có nói đùa đâu. Ngay cả gia gia ngươi cũng còn khen là màu lam từ màu xanh mà ra, thì cháu thử xem có lợi hại không?
Ân Tố Tố cười nói:
– Ối chao, sư thúc trước mặt người ngoài, mèo khen mèo dài đuôi, tự mình bốc mình lên, chẳng sợ Du nhị hiệp cười hay sao.
Lý Thiên Viên cười nói:
– Trương ngũ hiệp đã là rể quí của chúng ta, Du nhị hiệp đâu có còn là người ngoài nữa.
Nói xong ôm quyền cung kính chào, quay mình xuống thuyền. Du Liên Châu nghe mấy câu đó trong lòng không vui chút nào, hơi nhíu mày, nhưng không nói gì. Trương Thúy Sơn đợi người Thiên Ưng giáo đi hết, liền hỏi:
– Nhị ca, thương thế của tam ca bây giờ ra sao? Anh ấy ? có bớt chút nào không?
Du Liên Châu hừm một tiếng, hồi lâu không đáp. Trương Thúy Sơn trong lòng bồn chồn, mắt chăm chăm nhìn sư ca, trong lòng nổi lên một ý không may, chỉ sợ nghe thấy một tiếng ?chết?. Du Liên Châu chậm rãi nói:
– Tam đệ không chết, thế nhưng so với chết cũng chẳng khác bao nhiêu. Y tàn phế suốt đời, chân tay không di động được. Du Đại Nham Du tam hiệp, ha ha, trên giang hồ nay không còn cái tên đó nữa.
Trương Thúy Sơn nghe nói tam ca không chết, trong lòng mừng rỡ, nhưng nghĩ đến một vị sư ca anh phong hiệp cốt mà phải chịu cảnh như vậy, nhịn không nổi phải ứa nước mắt, nghẹn ngào hỏi:
– Cừu nhân hại anh ấy là ai? Đã tìm ra được chưa?
Du Liên Châu không trả lời, quay mặt lại, đột nhiên đôi mắt sáng như điện chiếu thẳng vào mặt Ân Tố Tố, nghiêm nghị hỏi:
– Ân cô nương, cô có biết kẻ hại Du tam đệ của ta là ai không?
Ân Tố Tố tự nhiên hơi run rẩy, nói:
– Nghe nói gân cốt chân tay của Du tam hiệp, bị người ta dùng Kim Cương Chỉ Lực của phái Thiếu Lâm đánh đứt.
Du Liên Châu đáp:
– Đúng thế. Cô không biết là ai ư?
Ân Tố Tố lắc đầu:
– Em không biết.
Du Liên Châu không lý đến nàng nữa, nói:
– Ngũ đệ, phái Thiếu Lâm nói là ngươi giết tất cả lớn bé Long Môn tiêu cục ở phủ Lâm An, lại giết cả mấy tăng nhân Thiếu Lâm, việc đó thật hay giả?
Trương Thúy Sơn nói:
– Cái đó ?
Ân Tố Tố nói xen vào:
– Việc đó không liên quan gì đến ngũ ca, tất cả đều do em giết đấy.
Du Liên Châu nhìn nàng, trong ánh mắt lộ vẻ hết sức thống hận, nhưng chỉ chớp mắt lại tiêu đi, khuôn mặt trở lại vẻ bình hòa, nói:
– Ta cũng biết ngũ đệ không bao giờ giết người bừa bãi như thế. Phái Thiếu Lâm cũng vì chuyện đó đã ba lần cử người lên núi Võ Đương lý luận, nhưng vì ngũ đệ đột nhiên mất tích, trên võ lâm ai ai cũng biết, nên không người đối chứng. Bên mình thì nói phái Thiếu Lâm hại tam đệ, bên phái Thiếu Lâm thì nói ngũ đệ giết của họ mấy chục người. Cũng may là chưởng môn trụ trì phái Thiếu Lâm là Không Văn đại sư lão thành trì trọng, tôn kính ân sư, hết sức ước thúc môn hạ đệ tử, không cho sinh sự nên mười năm nay không gây ra đại họa.
Ân Tố Tố nói:
– Khi em còn trẻ hành sự chẳng biết khinh trọng tốt xấu gì cả, bây giờ nghĩ lại thật là hối hận. Thế nhưng người đã chết rồi, bây giờ mình cứ chối biến không nhận đến cùng, thế là xong.
Du Liên Châu trên mặt lộ vẻ lạ lùng, liếc nhìn Trương Thúy Sơn một cái, nghĩ thầm sao hạng người con gái thế này sư đệ mình lại lấy làm vợ được. Ân Tố Tố thấy chàng đối xử với mình lạnh nhạt, mở miệng ra chỉ nói ?Ân cô nương? chứ không gọi ?đệ phụ?, trong bụng đã bực thầm, nên nói:
– Ai làm nấy chịu. Việc này em sẽ không để cho phái Võ Đương phải liên lụy đâu, cứ để cho phái Thiếu Lâm đến kiếm Thiên Ưng giáo là xong.
Du Liên Châu lớn tiếng:
– Trên chốn giang hồ, mọi việc không thể bỏ qua chữ ?lý?. Không nói gì phái Thiếu Lâm hiện nay là phái lớn nhất trong võ lâm, dù cho có là kẻ mẹ góa con côi vô quyền vô dũng, chúng ta cũng phải lấy ?lý? ra mà xử chứ không thể nói chuyện cậy mạnh hiếp yếu, lấy thịt đè người.
Nếu như mười năm trước, những lời giáo huấn nghiêm chính của Du Liên Châu chắc chắn sẽ khiến Ân Tố Tố thẹn quá hóa khùng, rút kiếm ra gây chuyện ngay, thế nhưng lúc này nàng thấy Trương Thúy Sơn cung cung kính kính đáp: ?Nhị ca dạy chí phải? nên nghĩ thầm: ?Nếu như ta không nghe những lời nhân nghĩa đạo đức kia, mà mở miệng cãi lại, chỉ làm cho Trương lang càng khó xử thêm, thôi mình nên nhường nhịn là hơn?. Nàng bèn dắt tay Vô Kỵ, đi ra bên ngoài, nói:
– Vô Kỵ, để mẹ đưa con ra coi chiếc thuyền lớn này, trước nay con chưa thấy thuyền bao giờ, phải không?
Trương Thúy Sơn đợi vợ và con đi ra ngoài rồi, mới nói:
– Nhị ca, trong mười năm qua, em ?
Du Liên Châu xua tay, nói:
– Ngũ đệ, anh em mình bụng dạ liền nhau, tình như ruột thịt, dù có chuyện gì lớn lao đến đâu, nhị ca cũng quyết cùng chú sống chết có nhau. Chuyện vợ chồng chú, đừng nói với anh vội, về đến núi rồi, đợi xem sư phụ định như thế nào. Nếu như sư phụ trách phạt, tất cả bảy anh em mình cùng quì xuống van xin, con chú cũng đã lớn rồi, lẽ nào sư phụ lại bắt chồng vợ cha con mỗi người một ngả?
Trương Thúy Sơn mừng quá, nói:
– Đa tạ nhị ca.
Du Liên Châu bên ngoài cứng rắn nhưng trong dạ rất nhiệt tình, trong bảy người của phái Võ Đương chàng ít đùa cợt nhất, những sư đệ đối với chàng hết sức kính sợ, còn hơn cả đại sư ca Tống Viễn Kiều nhiều. Thực ra chàng là người đối với anh em rất tình sâu nghĩa nặng, khi Trương Thúy Sơn đột nhiên mất tích, trong bụng chàng đau đớn muốn phát điên, ngoài mặt vẫn làm như vô sự, hôm nay huynh đệ trùng phùng, thực là bình sinh chưa có gì vui bằng, thế nhưng vẫn phải giữ vẻ nghiêm nghị, dạy cho Ân Tố Tố một chập, đến bây giờ chỉ còn sư huynh đệ hai người, lúc ấy mới lộ chân tình.
Chuyện chàng lo ngại nhất là việc Ân Tố Tố giết quá nhiều đệ tử phái Thiếu Lâm, việc đó không thể nào giải quyết cho êm thắm được, nhưng trong bụng đã định sẵn, thà mình tính mệnh không còn cũng quyết bảo vệ gia đình sư đệ an toàn.
Trương Thúy Sơn lại hỏi:
– Nhị ca, bên mình cùng Thiên Ưng giáo xảy ra tranh chấp, phải chăng cũng vì việc vợ chồng tiểu đệ? Việc này khiến cho lòng đệ không yên chút nào.
Du Liên Châu không trả lời, hỏi lại:
– Việc trên Vương Bàn Sơn đảo đầu đuôi ra sao?
Trương Thúy Sơn liền thuật lại mình đến Lâm An đang đêm tiến vào Long Môn tiêu cục như thế nào, làm sao gặp được Ân Tố Tố, rồi cùng nhau đi dự dương đao lập uy của Thiên Ưng giáo trên Vương Bàn Sơn đảo, sau đó Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn ra tay tàn sát, đoạt được đao Đồ Long, bắt ép hai người phải lên thuyền ra biển.
Du Liên Châu nghe hết câu chuyện, rồi hỏi kỹ lại vụ hai người của phái Côn Lôn là Cao Tắc Thành và Tưởng Đào, ngẫm nghĩ một hồi, mới nói:
– Hóa ra là vì thế. Nếu như hiền đệ không quay về, không biết những ẩn tình bên trong biết đến ngày nào mới tỏ lộ ra được.
Trương Thúy Sơn nói:
– Đúng vậy, nghĩa huynh của đệ ? ồ, nhị ca, Tạ Tốn thực ra không phải là người hung ác đến mức không thể cải hóa, y như thế, chẳng qua vì đời gặp một thảm sự mà thành, bây giờ em đã cùng y kết nghĩa kim lan.
Du Liên Châu gật đầu, nghĩ thầm: ?Đây cũng lại là một chuyện trói chân trói tay mình nữa?. Trương Thúy Sơn nói tiếp:
– Uy lực tiếng rống của nghĩa huynh tiểu đệ, khiến cho tất cả mọi người trên Vương Bàn Sơn đảo thần trí thất thường, y nói những người đó tuy không chết, nhưng đều biến thành điên dại, để cho chuyện y đoạt được đao Đồ Long không tiết lậu ra ngoài.
Du Liên Châu đáp:
– Gã Tạ Tốn kia tuy hành sự tàn ác nhưng phải nói y quả là một kỳ nam tử, có điều y trăm điều tính vẫn sót một điều, quên đi một người.
Trương Thúy Sơn hỏi:
– Ai thế?
Du Liên Châu đáp:
– Bạch Qui Thọ.
Trương Thúy Sơn hỏi:
– Đàn chủ Huyền Võ Đàn của Thiên Ưng giáo ư?
Du Liên Châu đáp:
– Chính hắn. Cứ như lời của hiền đệ, trong số quần hào có mặt ngày hôm đó tại Vương Bàn Sơn đảo, thì Bạch Qui Thọ nội công thâm hậu hơn cả nhưng bị Tạ Tốn bắn rượu đánh chết giấc. Về sau khi Tạ Tốn thi triển Sư Tử Hống, nếu như Bạch Qui Thọ còn bình thường thì cũng chịu không nổi tiếng hú đó ?
Trương Thúy Sơn vỗ đùi, nói:
– Đúng rồi, lúc đó Bạch Qui Thọ còn nằm trên mặt đất chưa tỉnh nên không nghe tiếng hú, khiến cho về sau thần trí vẫn còn tỉnh táo. Nghĩa huynh của đệ tuy tính toán khít khao, nhưng lại không nghĩ ra chuyện đó.
Du Liên Châu thở dài một tiếng, nói:
– Từ trên đảo Vương Bàn Sơn trở về mà không mất trí, chỉ có một mình Bạch Qui Thọ mà thôi. Phái Côn Lôn tuy có nội công độc đáo, nhưng Cao Tưởng hai người nội lực thô thiển, từ đó thành phế nhân si si ngốc ngốc. Hỏi hai người ai đã hại họ thành như thế, Tưởng Đào chỉ biết lắc đầu, còn Cao Tắc Thành từ trước đến sau chỉ nói được tên một người là Ân Tố Tố.
Chàng ngừng lại một lát, nói tiếp:
– Bây giờ ta đã rõ rồi, hóa ra trong lòng y khắc sâu hình bóng đệ muội không quên. Hừm, lần sau Tây Hoa Tử còn ăn nói hỗn láo, để ta cho y biết tay. Đệ tử phái Côn Lôn nhà y hành sự bất cẩn, sao còn đi trách cứ người khác.
Trương Thúy Sơn nói:
– Nếu Bạch Qui Thọ không mất trí, y hẳn phải hiểu rõ nguyên ủy thế nào.
Du Liên Châu đáp:
– Thế nhưng y lại không nói ra, ngũ đệ có biết tại sao không?
Trương Thúy Sơn suy nghĩ, biết ngay nguyên do, nói:
– Phải rồi, Thiên Ưng giáo muốn một mình đi đoạt lại thanh đao Đồ Long nên không chịu thổ lộ cái tin tức chỉ có họ biết, nên trước sau vẫn nói là họ không biết gì.
Du Liên Châu nói:
– Thì hiện nay võ lâm chia ra phe nhóm tranh chấp cũng từ đó mà ra. Phái Côn Lôn nói là Ân Tố Tố hại hai người Cao Tưởng, anh em chúng ta cũng nói hiền đệ bị Thiên Ưng giáo hạ độc thủ.
Trương Thúy Sơn nói:
– Thế việc tiểu đệ đến hội Vương Bàn Sơn cũng do Bạch Qui Thọ nói ra ư?
Du Liên Châu nói:
– Không đâu, y không nói gì cả. Ta cùng tứ đệ, lục đệ cùng đến đảo Vương Bàn Sơn tra xét, thấy ngươi dùng thiết bút tại vách núi viết hai mươi bốn chữ đại tự nên biết rằng hiền đệ cũng tham dự đại hội ?Dương Đao Lập Uy? của Thiên Ưng giáo. Ba người chúng ta tìm không ra tung tích gì của ngũ đệ trên đảo, nên đến tìm Bạch Qui Thọ tra hỏi, y nói năng hỗn hào, nên hai bên động thủ, bị ta đánh cho một chưởng. Chẳng bao lâu sau người phái Côn Lôn cũng tìm đến, nhưng thua to, bị Thiên Ưng giáo giết mấy hai người. Mười năm qua thù oán hai bên mỗi ngày một sâu.
Trương Thúy Sơn rất là ân hận, nói:
– Chỉ vì chuyện vợ chồng tiểu đệ, khiến cho bao nhiêu người vô tội các môn phái gặp nạn, làm sao lòng em an được? Tiểu đệ về bẩm rõ sư tôn xong, sẽ đến các môn phái giải thích những hiểu lầm, chịu người ta trách cứ.
Du Liên Châu thở dài một tiếng nói:
– Cái đó do trời xui đất khiến chứ không thể trách chú được. Hôm đó sư phụ sai ta và thất đệ đi đến Lâm An, bảo hộ Long Môn tiêu cục, nhưng khi vừa đến Giang Tây, gặp phải một chuyện đại bất bình, hai người bọn ta không thể nào không ra tay, khiến cho bị trễ mất mấy ngày, cứu được mươi người vô tội, khi đến Lâm An, vụ án Long Môn tiêu cục đã xảy ra rồi.
Nói cho đúng ra, nếu chỉ vì việc của hai vợ chồng ngũ đệ, thì cũng chỉ có Côn Lôn, Võ Đương và Thiên Ưng giáo có chuyện rắc rối thôi, thế nhưng vì Thiên Ưng giáo muốn cướp thanh đao Đồ Long nên trước sau không nói gì đến cái tên Tạ Tốn cả. Thành thử cả bang Cự Kình, phái Hải Sa, Thần Quyền môn các môn phái bang hội vì món nợ máu của bang chủ, chưởng môn cũng đều đổ riệt cho Thiên Ưng giáo. Thiên Ưng giáo vì thế trở thành mục tiêu chung của các giới giang hồ.
Trương Thúy Sơn nói:
– Chẳng biết thanh đao Đồ Long kia có cái gì ghê gớm mà nhạc phụ của em phải thay người khác chịu cái tai nạn này?
Du Liên Châu đáp:
– Ta chưa từng gặp mặt lệnh nhạc phụ bao giờ, nhưng ông ta thống lãnh Thiên Ưng giáo độc kháng quần hùng, khí khái đó, phách lực đó, dù có phải đối địch với ông ta, nhưng ai ai cũng phải khâm phục.
Trương Thúy Sơn nói:
– Thế còn phái Thiếu Lâm, Nga Mi, Không Động có tham dự đại hội Vương Bàn Sơn đảo đâu, sao cũng kết oán cừu với Thiên Ưng giáo?
Du Liên Châu nói:
– Chuyện đó thì lại vì nghĩa huynh của chú là Tạ Tốn mà ra. Thiên Ưng giáo vì muốn chiếm thanh đao Đồ Long, hai ba lần đưa thuyền ra biển đi khắp các đảo ngoài khơi để tìm tung tích của Tạ Tốn. Thế nhưng bao giấy làm sao chứa được đốm lửa, dù cho Bạch Qui Thọ có giữ mồm giữ miệng tới đâu, cái tin đó cũng bị tiết lộ ra ngoài. Nghĩa huynh của ngũ đệ trước đây mạo danh Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn, trên khắp Giang Nam, Giang Bắc gây ra hơn ba mươi vụ đại án, những người thành danh trong các môn phái chết dưới tay y không biết bao nhiêu mà kể, không biết chuyện đó chú đã biết chưa?
Trương Thúy Sơn lặng lẽ gật đầu, hạ giọng nói:
– Mọi người rồi cũng biết là chính anh ta làm.
Du Liên Châu nói:
– Tại mỗi vụ án, y đều viết trên tường một hàng chữ lớn ?Kẻ giết người là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn?. Khi đó anh em ta theo lệnh sư phụ, từng xuống núi tra xét, lúc đó quả thực chẳng biết hung thủ là ai, còn Thành Côn trước sau không lộ diện. Thế nhưng khi Thiên Ưng giáo đi tìm tung tích Tạ Tốn bị tiết lộ ra rồi, những người trí mưu trong các môn phái đều nghĩ ngay ra, Tạ Tốn vốn là đệ tử truyền nhân duy nhất của Thành Côn, sau này không biết vì duyên cớ gì bất hòa, trở mặt thành thù nghịch, nên kẻ mạo danh Thành Côn giết người kia, không ai khác hơn là Tạ Tốn. Chú thử nghĩ xem Tạ Tốn giết biết bao nhiêu người, liên hệ lớn lao biết là chừng nào? Chỉ riêng phái Thiếu Lâm thì Không Kiến đại sư chết dưới quyền của y thì đã bao nhiêu người muốn kiếm giết y cho thỏa nguyện?
Trương Thúy Sơn thần sắc thê thảm, nói:
– Nghĩa huynh của em tuy đã hối điều quấy mà quay sang làm diều lành, nhưng hai bàn tay đã nhuốm máu của biết bao nhiêu người rồi ? than ôi, nhị ca, lòng em rối như tơ vò, chẳng biết phải làm sao bây giờ.
Du Liên Châu nói:
– Anh em chúng ta thì vì ngũ đệ mà đi tìm Thiên Ưng giáo, phái Côn Lôn thì vì Cao Tưởng hai người mà tìm Thiên Ưng giáo, Cự Kình bang vì bang chủ chết thảm mà tìm Thiên Ưng giáo, ngoài phái Thiếu Lâm lại còn bao nhiêu nhân vật bạch đạo, hắc đạo, vì muốn biết tung tích của Tạ Tốn nên cũng đi tìm Thiên Ưng giáo. Trong những năm qua, hai bên đại chiến đã năm lần, tiểu chiến thì không biết bao nhiêu. Tuy mỗi lần đánh lớn, Thiên Ưng giáo đều bị vào thế lép, nhưng nhạc phụ của chú bị quần hùng vây đánh thế mà vẫn đứng vững không đổ, quả thực là một người kiệt xuất. Nói cho đúng, các danh môn chính phái như Võ Đương, Thiếu Lâm, Nga Mi vì sự tình chưa rõ ràng, trong đó còn rất nhiều việc chưa giải thích được, xem ra Thiên Ưng giáo không phải là đầu mối mọi tội lỗi, nên khi ra tay vẫn không hết sức, còn các môn phái khác thì nhất quyết sống mái mất còn. Lần này chúng ta nghe tin Thiên Thị Đường Lý đường chủ của Thiên Ưng giáo dong thuyền ra khơi đi tìm Tạ Tốn, nên bí mật đuổi theo, mong tìm ra được chút đầu dây mối nhợ. Nào ngờ Lý đường chủ thấy tình hình bất ổn, không chịu để cho bọn ta đi theo sau, thế là phái Côn Lôn ra tay động thủ với họ. Nếu như vợ chồng chú không kịp thời đi bè tới nơi, hai bên chắc sẽ thiệt hại rất nhiều hảo thủ.
Trương Thúy Sơn lặng yên, nhìn kỹ sư ca, thấy chàng hai bên tóc mai đã lấm tấm bạc, trên trán đã thêm nhiều nếp nhăn, nói:
– Nhị ca, mười năm qua, anh chắc khó nhọc rất nhiều. Em may mắn còn sống về được đây, may mắn được gặp lại sư ca, em … em …
Du Liên Châu thấy chàng mắt đỏ hoe, nói:
– Võ Đương thất hiệp trùng phùng gặp gỡ, quả thật là một chuyện hết sức vui mừng. Từ khi tam đệ bị thương, chú lại mất tích, trên giang hồ đã đổi tên anh em mình thành Võ Đương ngũ hiệp, ha ha, hôm nay thì thất hiệp lại trùng chấn thanh uy ?
Chợt nghĩ lại Du Đại Nham chân tay tàn phế, tuy bảy người vẫn còn đủ, nhưng muốn tất cả anh em cùng nhau hành hiệp giang hồ như xưa không còn được nữa, lòng chàng không khỏi quặn đau.
?Thuyền đi tiếp về phương nam thêm mấy mươi ngày thì đến cửa sông Trường Giang, cả bọn đổi qua thuyền đi sông ngược dòng lên. Vợ chồng Trương Thúy Sơn thay đổi y phục, trông chẳng khác gì một đôi ngọc bích đặt trên dao đài[2], phong tư chẳng khác ngày xưa. Vô Kỵ cũng thay quần áo mới, tóc buộc dải lụa đỏ thành hai cái bím, trông thật tươi tắn dễ thương.
Du Liên Châu chuyên tâm vào việc học võ, không vợ con, đối với Vô Kỵ thương yêu bội phần, nhưng vì bẩm tính nghiêm trang, trầm mặc ít nói, mặt mày lúc nào cũng lạnh lùng. Vô Kỵ biết rằng vị sư bá mặt lạnh như tiền này rất mực thương yêu mình nên mỗi lúc rảnh rang, lại sà vào hỏi sư bá chuyện này chuyện nọ. Thằng bé sinh ra nơi hoang đảo, trên lục địa chưa từng nhìn qua bao giờ nên cái gì cũng mới lạ. Du Liên Châu không lấy đó làm phiền, thường ngồi ôm thằng bé ở đầu thuyền, ngắm cảnh hai bên sông. Vô Kỵ hỏi chàng mười câu, tám câu, chàng mới vắn tắt đáp lại một câu.
Hôm ấy đến chân núi Đồng Quan, huyện Đồng Lăng, tỉnh An Huy, trời cũng đã xế chiều, chiếc thuyền đậu lại một tiểu thị trấn. Người lái đò lên bờ mua rượu thịt, Du Liên Châu với vợ chồng Trương Thúy Sơn ngồi trên thuyền pha trà nói chuyện.
Vô Kỵ đi loanh quanh ở đầu thuyền thấy trên bến có một người ăn mày già đang ngồi đùa chơi với rắn, trên cổ quấn một con rắn xanh, còn trong tay là một con rắn lớn màu đen có chấm trắng. Con rắng đen đó luồn qua lách lại, lúc thì vòng lên đầu, thoắt cái lại chui xuống lưng, thật là linh động. Vô Kỵ ở trên Băng Hỏa đảo chưa từng nhìn thấy rắn bao giờ, xem biểu diễn thật là thích thú. Người ăn mày thấy nó liền mỉm cười, vẫy tay một cái, con rắn đen liền nhảy lên, lộn một vòng, rơi xuống quấn luôn vào ngực y mấy vòng. Vô Kỵ thấy lạ, mắt chăm chăm nhìn. Người khất cái vẫy thằng bé, đưa tay ra hiệu, ý muốn nếu nó lên bờ chơi còn nhiều trò khác biểu diễn cho nó xem.
Vô Kỵ lập tức theo ván cầu đi lên, người ăn mày lấy trong lưng ra một cái bao vải, mở ra, cười nói:
– Trong này có mấy thứ hay lắm, lại đây mà xem.
Vô Kỵ hỏi:
– Cái gì thế?
Người ăn mày đáp:
– Cái này hay lắm, nhìn xem thì biết.
Vô Kỵ thò đầu vào trong bao nhìn, chỉ thấy tối mò không có gì cả. Cậu bé tiến đến gần hơn, định xem cho rõ, hai tay lão ăn mày đột nhiên lật một cái, chụp luôn cái bao lên đầu đứa trẻ. Vô Kỵ ?A? lên một tiếng, mồm đã bị gã ăn mày bịt chặt, rồi thân hình lập tức bị nhấc bổng lên.
Tiếng kêu của thằng bé từ trong bao vọng ra, tuy rất khẽ, nhưng Du Liên Châu và Trương Thúy Sơn đã nghe thấy. Hai người tuy ở trong thuyền, cách rất xa, nhưng cũng biết tiếng kêu có gì không ổn, nên cùng chạy ra đầu thuyền thấy Vô Kỵ đã bị lão ăn mày bắt cóc rồi.
Hai người vừa toan phi thân lên bờ, gã khất cái liền hung hăng quát lên:
– Muốn thằng bé sống thì đừng có động thủ.
Nói xong y xé rách áo trên lưng thằng bé, để ngay con rắn đen lên chỗ da thịt đứa trẻ. lúc đó Ân Tố Tố cũng đã chạy ra đến ngoài, thấy đứa con yêu bị bắt, vừa hốt hoảng vừa nóng ruột, toan phát xạ ngân châm. Du Liên Châu đưa tay ngăn lại, quát lên:
– Không được đâu.
Chàng nhận ra con rắn đen này tên là ?Tất Lý Tinh?, là một độc xà nổi tiếng, thân càng đen, độc tính càng ghê gớm. Con rắn thân hình đen bóng, những đốm trắng lại lấp lánh, há to mồm nhe bốn chiếc răng nhọn, nhắm ngay chỗ thịt trắng mềm của Vô Kỵ trên lưng. Con rắn chỉ ngoặp một cái, khoảnh khắc là Vô Kỵ sẽ chết ngay, dẫu có đánh chết gã ăn mày lấy được thuốc giải, thì cũng không cứu kịp. Du Liên Châu không động thanh sắc, nói:
– Tôn giá tại sao lại gây chuyện cho đứa trẻ, chẳng hay có ý định gì?
Người ăn mày già đáp:
– Nhị hiệp sai người kéo neo nhổ thuyền, đậu cách bờ năm sáu trượng, lúc đó tại hạ mới nói chuyện.
Du Liên Châu biết y sợ mình bất ngờ nhảy lên bờ, tuy rằng thuyền đã ra ngoài rồi việc cứu người càng khó khăn hơn, nhưng Vô Kỵ đang bị y hiếp chế, đành phải nghe lời rồi tính sau. Chàng cầm dây buộc neo giựt nhẹ một cái, chiếc neo năm sáu chục cân theo tay mà từ dưới nước bay vọt lên.
Gã ăn mày thấy Du Liên Châu chỉ lắc nhẹ một cái, chiếc neo sắt đã nhảy lên, công lực tinh thuần trên đời ít thấy, mặt bỗng biến sắc. Trương Thúy Sơn cầm chiếc sào dài, chống lên bờ, chiếc thuyền từ từ đi ra giữa sông. Gã ăn mày kêu lên:
– Đi xa thêm chút nữa.
Trương Thúy Sơn bực mình hỏi lại:
– Thế này còn chưa đủ năm sáu trượng hay sao?
Gã ăn mày mỉm cười:
– Du nhị hiệp kéo chiếc neo lợi hại như thế, dù có năm sáu trượng, tại hạ vẫn chưa yên tâm.
Trương Thúy Sơn chỉ còn có nước đẩy thuyền đi xa thêm hơn một trượng nữa. Du Liên Châu ôm quyền hỏi:
– Thỉnh giáo tôn tính đại danh.
Tên ăn mày đáp:
– Tại hạ là kẻ vô danh tiểu tốt trong Cái Bang, không dám nói tiện danh ra để làm bẩn tai Du nhị hiệp.
Du Liên Châu thấy y đeo trên lưng sáu cái túi vải, nghĩ thầm đây là đệ tử sáu túi của Cái Bang, vai vế cũng không kém, nhưng sao lại ra tay ti tiện như thế? Huống chi Cái Bang xưa nay hành sự nhân nghĩa, bang chủ của họ là Sử Hỏa Long là một hán tử oai hùng, trên chốn giang hồ rất nổi danh, việc này quả là kỳ lạ.
Ân Tố Tố bỗng quát lên:
– Vu Sơn Bang ở Đông Xuyên đầu nhập Cái Bang rồi sao? Ta xem trong Cái Bang không có các hạ đâu.
Gã ăn mày chỉ hừ một tiếng nhưng không trả lời. Ân Tố Tố lại nói:
– Hạ Lão Tam, ngươi định làm trò quỉ gì? Nếu chỉ đụng đến một cái lông con ta, ta sẽ chặt Mai Thạch Kiên nhà các ngươi ra thành mười bảy, mười tám miếng.
Người khất cái giật mình, nói:
– Ân cô nương quả nhiên mắt tinh thật, nhận ra Hạ Lão Tam này. Chính tại hạ nhận lệnh của Mai bang chủ đến đây nghênh đón công tử.
Ân Tố Tố giận dữ nói:
– Mau bỏ con rắn độc ra. Cái bang Vu Sơn nhỏ bé của ngươi thật là lớn mật, dám gây sự với Thiên Ưng giáo.
Hạ Lão Tam nói:
– Chỉ xin Ân cô nương nói một câu, Hạ Lão Tam này sẽ lập tức trả công tử về, Mai bang chủ sẽ đích thân đến tận cửa tạ tội.
Ân Tố Tố hỏi:
– Câu gì?
Hạ Lão Tam đáp:
– Công tử độc nhất của Mai bang chủ chết dưới tay Tạ Tốn, Ân cô nương chắc đã nghe rồi. Mai bang chủ cầu khẩn Trương ngũ hiệp và Ân cô nương … ấy chết, tiểu nhân lỡ lời, phải gọi là Trương phu nhân mới phải, cầu khẩn hai vị ra ân, cho biết tung tích của Tạ Tốn, toàn thể tệ bang từ trên xuống dưới, đều cảm cái đại đức đó.
Ân Tố Tố nhướng lông mày, nói:
– Bọn ta không biết.
Hạ Lão Tam nói:
– Vậy xin hai vị nghe ngóng dò hỏi dùm. Chúng tôi sẽ hầu hạ công tử chu đáo, đợi khi nào hai vị có tin của Tạ Tốn đến cho hay, Mai bang chủ sẽ đích thân đưa công tử về.
Ân Tố Tố thấy mấy chiếc răng con rắn bất quá chỉ cách da thịt con mình chừng vài tấc, trong lòng khích động, đã toan nói ra chuyện Băng Hỏa đảo, quay sang nhìn trượng phu, thấy mặt chồng đầy vẻ cương nghị. Nàng làm vợ Trương Thúy Sơn đã mười năm, biết chàng là người rất trọng nghĩa khí, nếu mình vì đứa con yêu mà tiết lộ nơi ở của Tạ Tốn, nhân đó nghĩa huynh chết ở tay người, e rằng tình nghĩa vợ chồng khó mà toàn vẹn, nên cố nhịn không dám nói.
Trương Thúy Sơn lớn tiếng nói:
– Được rồi, ngươi đem con ta đi đâu thì đem. Đại trượng phu lẽ nào bán rẻ bạn bè? Ngươi coi Võ Đương thất hiệp nhẹ thể quá.
Hạ Lão Tam ngạc nhiên, y vẫn nghĩ nếu bắt được Vô Kỵ, vợ chồng Trương Thúy Sơn không thể nào không thổ lộ tung tích Tạ Tốn, nào ngờ Trương Thúy Sơn đáp lại bằng những lời chém đinh chặt sắt, nhất thời chưa biết tính sao, nói:
– Du nhị hiệp, tội của tên ác tặc Tạ Tốn to bằng non, phái Võ Đương chủ trì công đạo, người trong võ lâm ai nấy đều kính ngưỡng, xin nhị hiệp khuyên hai vị một lời.
Du Liên Châu đáp:
– Việc này xử trí thế nào, sư huynh đệ tại hạ định về núi Võ Đương, bẩm rõ cho ân sư biết, để xin lão nhân gia dạy bảo. Đại hội anh hùng ở Hoàng Hạc Lâu tại Võ Xương, xin mời quí bang Mai bang chủ và các hạ cùng đến dự, lúc đó trái phải ngay cong mọi người sẽ biết. Xin hãy thả thằng bé ra đi.
Chàng ở cách bờ sông phải đến sáu, bảy trượng, nói mấy câu đó tuyệt nhiên không đề khí, không cao giọng, nhưng Hạ Lão Tam nghe thấy từng câu, từng chữ đều rõ ràng, chẳng khác nào hai người đang ngồi bên nhau nói chuyện. Y trong lòng kính phục lắm, nghĩ thầm: ?Võ Đương thất hiệp uy chấn thiên hạ, quả nhiên danh bất hư truyền. Lần này bọn mình đành dốc túi đánh một chuyến, chứ bang Vu Sơn nhỏ bé làm sao chọi lại được với phái Võ Đương và Thiên Ưng giáo? Thế nhưng cái thù giết con của Mai bang chủ lẽ nào không báo”?
Bèn khom lưng nói:
– Nếu đã thế, tiểu nhân chỉ còn có nước đắc tội, đưa Trương công tử cùng về Đông Xuyên.
Bất thần, Ân Tố Tố đưa tay đánh mạnh vào lưng một thủy thủ đang ngồi trên mạn thuyền, tiếp theo giơ chân đá một tên thủy thủ khác. Hai thuyền phu kêu lên oai oái, chỉ nghe tũm tũm hai tiếng đều lộn cổ xuống sông, nước văng tung tóe. Ân Tố Tố lại kêu lên:
– Ối chao, ôi chao, ngũ ca, sao chàng đánh em?
Nói rồi đứng giữa thuyền vừa kêu, vừa nhảy. Du Liên Châu và Trương Thúy Sơn ngạc nhiên, không hiểu sao nàng lại làm như thế. Hạ Lão Tam trố mắt nhìn chuyện đột biến, ngẩn ngơ lạ lùng vô cùng. Du Liên Châu chỉ chớp mắt đã hiểu ngay, mắt thấy Hạ Lão Tam trợn mắt há mồm, lập tức rút trường kiếm, vận kình ném tới. Chỉ nghe soẹt một tiếng, thanh kiếm bay vụt ra, chém đứt đầu con độc xà ?Tất Lý Tinh?, ngay cả bốn ngón tay của Hạ Lão Tam đang nắm con rắn cũng đứt lìa rơi xuống.
Ngay khi trường kiếm của Du Liên Châu rút ra khỏi vỏ, Trương Thúy Sơn đã chộp một sợi dây buộc buồm đang lơ lửng, hai chân đạp xuống thuyền một cái, người chàng bay vèo qua. Chàng chỉ chậm hơn thanh kiếm của Du Liên Châu một chút xíu, còn trên không chân chưa chạm đất đã phóng mình tới, tay phải ôm lấy Vô Kỵ, tay trái tung ra một chưởng, đánh Hạ Lão Tam lăn đi mấy vòng.
Hạ Lão Tam nằm dãy dụa trên mặt đất không đứng lên nổi. Hai tên thủy thủ cố bơi vào bờ, không hiểu sao Ân Tố Tố bỗng dưng nổi giận nên không dám trở về thuyền. Ân Tố Tố cười khanh khách nói:
– Xin mời hai vị đại ca lên thuyền đi, vừa rồi tôi đắc tội, xin tặng cho mỗi người một lạng bạc để quí vị đi uống rượu.
Chiếc thuyền đi ngược dòng, lại thêm trái gió nên thật chậm. Trương Thúy Sơn xa cách sư phụ và các anh em đồng môn đã mười năm, nóng lòng gặp lại, nên khi đến An Khánh chàng muốn bỏ thuyền đi ngựa. Du Liên Châu nói:
– Ngũ đệ, bọn mình ngồi thuyền tốt hơn, tuy có chậm vài ngày, nhưng ngồi trên thuyền, ít bị rắc rối. Hôm nay trên chốn giang hồ không biết bao nhiêu người muốn biết chỗ ở của nghĩa huynh hiền đệ.
Ân Tố Tố đáp:
– Chúng em đi chung với nhị bá, không lẽ còn có người nào dám cản trở đại giá của Du nhị hiệp?
Du Liên Châu đáp:
– Cả bảy anh em chúng ta liên thủ, hoặc giả không ai dám ngăn trở, chứ chỉ có ta và ngũ đệ hai người, làm sao địch lại bao nhiêu là cao thủ cùng kéo đến? Vả lại chuyện này mình chỉ mong được mọi người bãi chiến, đâu có mong gì kết thêm oán cừu.
Trương Thúy Sơn gật đầu đáp:
– Nhị ca nói đúng lắm.
Thuyền đi được mấy ngày thì đến Võ Huyệt là biên giới tỉnh Hồ Bắc. Chiều hôm đó đến Phú Trì Khẩu, người lái thuyền đậu lại, chuẩn bị nghỉ đêm. Du Liên Châu bỗng nghe thấy trên bờ có tiếng ngựa hí, ngó ra ngoài khoang, thấy hai con ngựa đang quay đầu, chạy về hướng thị trấn. Tuy chỉ thấy sau lưng người ngồi trên ngựa, nhưng thân pháp nhanh nhẹn, hiển nhiên là người biết võ nghệ.
Chàng quay lại nói với Trương Thúy Sơn:
– Ở nơi đây e rằng lại gặp chuyện thị phi, bọn mình đi suốt đêm là hơn.
Trương Thúy Sơn nói:
– Vâng.
Trong lòng chàng hết sức cảm kích. Võ Đương thất hiệp từ khi hạ sơn hành đạo đến nay, võ nghệ cao cường, hành sự ngay thẳng, chỉ có người ngoài nghe tiếng trốn tránh chứ chưa từng phải kiêng mặt ai bao giờ. Mấy năm gần đây uy danh Du Liên Châu thật là vang dội, đến như các chưởng môn danh môn chính phái như Côn Lôn, Không Động cũng không bằng, vậy mà lần này mới thấy bóng dáng sau lưng của hai kẻ vô danh tiểu tốt, đã không muốn ở lại Phú Trì Khẩu, cũng chỉ vì lo lắng cho ba người của gia đình sư đệ mà thôi.
Du Liên Châu gọi người chủ thuyền, thưởng cho y ba lạng bạc, ra lệnh cho y đi suốt đêm. Người lái đò tuy đã mỏi mệt, nhưng ba lạng bạc bằng tiền kiếm được trong mấy tháng, nên hết sức vui mừng, lập tức nhổ neo đi ngay.
Đêm hôm đó trăng thanh gió mát, Vô Kỵ đã đi ngủ rồi, Du Liên Châu cùng hai vơ chồng Trương Thúy Sơn ngồi ở đầu thuyền uống rượu thưởng trăng, nhìn ra mặt sông mênh mông, trong lòng thật khoan khoái.
Trương Thúy Sơn nói:
– Đại thọ trăm tuổi của ân sư thoáng cái đã đến nơi, tiểu đệ may mắn được về dự một thịnh sự hiếm có của võ lâm, quả thực ông trời đãi mình cũng không bạc.
Ân Tố Tố tiếp lời:
– Tiếc rằng mình vội quá, bọn mình không kịp đi tìm một lễ vật thật vừa ý để kính biếu lão nhân gia.
Du Liên Châu đáp:
– Đệ muội, cô có biết ân sư của ta yêu ai nhất trong bảy người học trò không?
Ân Tố Tố cười:
– Đệ tử đắc ý nhất của lão nhân gia hẳn phải là nhị bá rồi.
Du Liên Châu cười đáp:
– Câu của cô quả không phải thực lòng, bụng nghĩ một đằng mà mồm thì nói một nẻo. Trong bảy người sư huynh đệ của ta, sư phụ ngày đêm mong nhớ, chính là ông chồng anh tuấn của đệ muội đó.
Ân Tố Tố tuy trong lòng thật mừng, nhưng vẫn lắc đầu:
– Em không tin.
Du Liên Châu đáp:
– Bảy anh em ta ai cũng có sở trường. Đại sư ca thâm thông dịch lý, giản dị thanh cao, tam sư đệ tinh minh chu đáo, sư phụ giao việc gì không bao giờ để lỡ, tứ sư đệ mưu trí hơn người, lục sư đệ kiếm thuật tinh thông, thất sư đệ mấy năm gần đây chuyên luyện ngoại môn võ công, về sau sẽ nội ngoại kiêm tu, cương nhu hợp nhất, ngoài y ra không còn ai ?
Ân Tố Tố chen vào:
– Còn bản thân nhị bá thì sao?
Du Liên Châu đáp:
– Ta tư chất ngu lỗ, không có sở trường gì cả, miễn cưỡng mà nói thì ta là người phải cố công nhiều nhất luyện tập bản môn võ công thầy truyền dạy cho.
Ân Tố Tố vỗ tay cười:
– Thì ra nhị bá là người giỏi nhất trong Võ Đương thất hiệp, nhưng vì khiêm tốn nên không nói ra đấy thôi.
Trương Thúy Sơn nói:
– Anh em chúng ta trong bảy người, đúng ra nhị sư ca võ công cao nhất. Mười năm không gặp nhau, tiểu đệ bây giờ đuổi không sao kịp được. Than ôi, không được ân sư dạy dỗ mười năm, tiểu đệ bây giờ đứng chót trong các anh em rồi.
Lời nói không khỏi có ý cảm thán. Du Liên Châu nói:
– Thế nhưng trong bảy anh em mình, văn võ toàn tài thì chỉ có một người thôi. Đệ muội, để ta nói cho cô nghe một chuyện bí mật. Năm năm trước, trong kỳ tiệc thọ ân sư chín mươi lăm tuổi, khi anh em đến chúc thọ, ân sư bỗng dưng không vui, nói: ?Trong bảy người đệ tử của ta, ngộ tính cao nhất, văn võ song toàn, chỉ có mình Thúy Sơn thôi. Ta vẫn định bụng sẽ cho y kế thừa y bát[3], ôi, tiếc rằng y phúc bạc, trong năm năm qua chết sống không biết ra sao, e rằng dữ nhiều lành ít?. Xem đấy, có phải sư phụ thương yêu ngũ đệ nhất hay không?
Ân Tố Tố mặt tươi như hoa, trong lòng vui sướng khôn cùng, còn Trương Thúy Sơn trong lòng hết sức cảm kích, nước mắt rưng rưng. Du Liên Châu nói:
– Bây giờ ngũ đệ bình yên trở về, thọ lễ dâng lên ân sư không có gì to lớn hơn thế nữa.
Vừa nói tới đây, bỗng thấy trên bờ sông có tiếng vó ngựa vọng tới. Tiếng vó ngựa từ đông sang tây, trong đêm vắng nghe rõ ràng có bốn kỵ sĩ. Ba người đưa mắt nhìn nhau, nghĩ thầm những con ngựa này suốt đêm chạy vội như thế, ắt có liên quan gì đến mình. Ba người không muốn chuyện rắc rối, nhưng đâu phải là kẻ nhát gan, thành thử không ai đề cập đến.
Du Liên Châu nói:
– Kỳ này khi ta hạ sơn, sư phụ cũng vừa bế quan tĩnh tu. Mong rằng lúc mình lên núi, lão nhân gia đã khai quan rồi.
Ân Tố Tố nói:
– Cha của tiểu muội trước đây có nói với em rằng, trong đời chỉ khâm phục có hai người thôi, một người là Dương giáo chủ của Minh Giáo, ông ta đã qua đời rồi, người kia là tôn sư Trương chân nhân. Ngay cả bốn đại cao tăng của phái Thiếu Lâm ?Kiến Văn Trí Tính?, cha em cũng không có gì bội phục cả. Trương chân nhân năm nay đã tròn trăm tuổi, tu trì thâm hậu đời nay không ai sánh kịp. Bây giờ lại còn bế quan, chắc là để tu luyện thuật trường sinh bất lão chăng?
Du Liên Châu đáp:
– Không phải, ân sư muốn suy nghĩ về võ công.
Ân Tố Tố hơi kinh ngạc, hỏi:
– Võ công của lão nhân gia đã cao siêu không biết đâu mà lường rồi, còn nghiên cứu thêm gì nữa? Không lẽ trên đời còn có người nào là địch thủ của người nữa ư?
Du Liên Châu nói:
– Từ năm ân sư chín mươi lăm tuổi trở đi, năm nào cũng bế quan chín tháng. Lão nhân gia nói rằng, võ công của phái Võ Đương, chủ yếu là từ bộ Cửu Dương Chân Kinh. Thế nhưng năm xưa khi ân sư được Giác Viễn tổ sư truyền thụ, tuổi còn quá nhỏ, lại không biết chút võ công nào. Giác Viễn tổ sư cũng không có ý dạy, chỉ nhiệm ý đọc cho ân sư nghe, thành ra võ công bản môn vẫn còn có khuyết điểm. Bộ Cửu Dương Chân Kinh này nghe Giác Viễn tổ sư nói là do Đạt Ma tổ sư truyền lại, nhưng ân sư nói là người càng suy nghĩ, càng thấy chuyện đó không phải là thật.
Một là những điều bí áo trong chân kinh so với võ công của phái Thiếu Lâm khác nhau xa, xem ra gần với Đạo gia võ học của Trung Nguyên hơn; hai là bộ Cửu Dương Chân Kinh này không viết bằng chữ Phạn, mà bằng tiếng Trung Quốc, viết xen kẽ trong các hàng chữ Phạn trong cuốn kinh Lăng Già. Thử nghĩ Đạt Ma tổ sư tuy diệu ngộ Thiền lý, võ học uyên thâm, nhưng ông ta từ Thiên Trúc qua, chưa chắc đã tinh thông văn tự Trung Quốc. Một bộ võ kinh quan trọng đến như thế, sao không viết trên giấy thành sách, mà lại viết giữa hai hàng chữ của một bộ kinh?
Trương Thúy Sơn gật đầu xem là đúng, hỏi thêm:
– Vậy ân sư suy nghĩ về đạo lý trong này như thế nào?
Du Liên Châu đáp:
– Ân sư cũng nghĩ không ra, người cho rằng có lẽ do một vị cao tăng Thiếu Lâm đời sau sáng tác, nhưng giả thác tên của Đạt Ma tổ sư. Ân sư vẫn nghĩ nếu như sự hiểu biết về cuốn Cửu Dương Chân Kinh này không hoàn toàn, thì sao mình không tự sáng chế ra? Mỗi năm sư phụ bế quan suy nghĩ, cốt để mở ra một phái võ học mới, khác hẳn với võ công các môn phái đang truyền hiện thời.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố nghe xong, cả hai đều chắc lưỡi ca ngợi. Du Liên Châu nói tiếp:
– Năm xưa khi nghe Giác Viễn tổ sư truyền thụ Cửu Dương Chân Kinh chỉ có ba người, một là ân sư, một người nữa là Vô Sắc đại sư của phái Thiếu Lâm, còn một người đàn bà, chính là tổ sư khai sáng ra phái Nga Mi Quách Tương Quách nữ hiệp.
Ân Tố Tố nói:
– Tiểu muội từng nghe gia gia em nói rằng, Quách nữ hiệp là một người thân thế rất lớn, cha của bà ấy là Quách Tĩnh, Quách đại hiệp, mẹ của bà ấy là bang chủ Cái Bang Hoàng Dung, khi thành Tương Dương thất hãm, hai ông bà Quách đại hiệp đều tuẫn nạn.
Du Liên Châu đáp:
– Đúng vậy. Ân sư chúng tôi trước đây từng có duyên gặp được hai ông bà một lần trên đỉnh Hoa Sơn, mỗi khi nhắc đến nhân phong hiệp cốt của hai vị, tấm lòng vì nước vì dân, sư phụ thường khuyên anh em chúng tôi phải noi gương vợ chồng Quách đại hiệp.
Chàng lặng người hồi lâu, nói tiếp:
– Năm xưa ba người được truyền Cửu Dương Chân Kinh, ngộ tính mỗi người một khác, căn bản cũng lại càng cách biệt. Nếu xét về võ công thì Vô Sắc đại sư cao hơn cả, Quách nữ hiệp là con gái của Quách đại hiệp và Hoàng bang chủ, sở học rộng nhất, còn ân sư lúc đó hoàn toàn không có căn cơ gì, nhưng cũng chính vì thế, sở học lại tinh thuần hơn hết. Trong ba phái Thiếu Lâm, Võ Đương, Nga Mi thì một phái được chữ ?cao?, một phái được chữ ?bác?, còn một phái được chữ ?thuần?. Ba phái mỗi đằng đều có sở trường, nhưng cũng phải nói là cũng có sở đoản.
Ân Tố Tố nói:
– Thế thì vị Giác Viễn tổ sư võ công chắc ghê gớm lắm, trăm năm không có được một người, phải không?
Du Liên Châu đáp:
– Không phải, Giác Viễn tổ sư không biết võ công. Ông ta ở trong chùa Thiếu Lâm giữ Tàng Kinh Các, chỉ thích sách thành mê, không kinh nào không đọc, không kinh nào không thuộc lòng. Ông ta vô tình đọc được Cửu Dương Chân Kinh, cũng chẳng khác gì tụng kinh Kim Cương, kinh Pháp Hoa vậy thôi. Ông nhớ trong bụng, nhưng những điều võ học bác đại tinh thâm trong đó, tuy cũng lãnh ngộ nhưng chỉ luyện nội công, còn võ thuật hoàn toàn không biết gì cả.
Chàng bèn kể lại chuyện Cửu Dương Chân Kinh thất lạc ra sao, và những chuyện chưa hề ai nói tới kể cho Ân Tố Tố nghe. Chuyện đó Trương Thúy Sơn đã từng nghe sư phụ nói qua rồi, nhưng Ân Tố Tố lần đầu được nghe, rất hứng thú, nói:
– Hóa ra đời trước của phái Nga Mi cùng với phái Võ Đương có liên quan sâu đậm đến thế. Sao vị Quách Tương Quách nữ hiệp không lấy Trương chân nhân nhỉ?
Du Liên Châu đáp:
– Ân sư và Quách nữ hiệp chia tay dưới chân núi Thiếu Thất rồi, về sau không gặp lại nữa. Ân sư nói, Quách nữ hiệp trong lòng in sâu một bóng hình, chính là Thần Điêu đại hiệp Dương Quá, người ngoài thành Tương Dương dùng đá ném chết Đại Hãn Mông Cổ. Quách nữ hiệp đi khắp thiên hạ nhưng tìm không ra Dương đại hiệp, đến năm bốn mươi tuổi bỗng nhiên đại triệt đại ngộ, xuất gia làm ni cô, về sau khái sáng phái Nga Mi.
Ân Tố Tố kêu ?A? một tiếng, thương thầm cho Quách Tương, đưa mắt nhìn Trương Thúy Sơn. Trương Thúy Sơn lúc ấy cũng liếc nhìn Ân Tố Tố, bốn mắt gặp nhau, đều nghĩ thầm: ?Hai người mình trên trời dưới đất, mãi mãi không xa nhau, so với vị Quách nữ hiệp khai sáng phái Nga Mi kia, thật may mắn hơn nhiều?.
Du Liên Châu bình thường trầm mặc ít nói, có khi mấy ngày không nói một câu, nhưng từ khi gặp lại Trương Thúy Sơn sau nhiều năm xa cách, vui vẻ khác thường, cách ăn nói trở lại sắc sảo. Chàng ở gần Ân Tố Tố mươi ngày, biết nàng bản tính không phải là người xấu, chỉ có điều gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, từ thuở còn thơ đã tai nghe mắt thấy toàn chuyện tà ác, cho nên thiện ác không phân, nhiễm cái tính thích giết người. Từ khi nàng làm vợ Trương Thúy Sơn mười năm nay, khí chất đã biến hẳn, nên những ác cảm khi mới gặp cũng dần dần tiêu trừ, thấy nàng tính tình chân thật, so với bọn danh môn chính phái tự cao tự đại gàn dở còn có phần thẳng thắn hơn.
Lúc ấy bỗng nghe thấy tiếng chân ngựa vang lên từ hướng đông truyền tới, chẳng mấy chốc đã vượt ngang hông thuyền đi về hướng tây. Trương Thúy Sơn làm như không nghe thấy, nói:
– Nhị ca, nếu như sư phụ mời các cao thủ của hai phái Thiếu Lâm, Nga Mi cùng nghiên cứu, lấy sở trường của người bổ túc cho sở đoản, cả ba phái võ công sẽ cùng đại tiến.
Du Liên Châu vỗ đùi một cái, nói:
– Đúng đấy, sư phụ nói chú ngày sau sẽ thừa thụ y bát môn hộ, quả thực không sai chút nào.
Trương Thúy Sơn nói:
– Ân sư chỉ vì tiểu đệ không có ở bên cạnh, cho nên lúc nào cũng nhớ mong. Kẽ lãng tử đi xa không về, trong lòng người mẹ hiền, lại coi hơn đứa con hiếu hạnh ở ngay bên cạnh. Thực sự tiểu đệ tài năng lúc này, dĩ nhiên so với đại ca, nhị ca, tứ ca không bằng đã đành, mà ngay cả lục đệ, thất đệ so với tiểu đệ cũng còn hơn nhiều.
Du Liên Châu lắc đầu:
– Không hẳn thế. Nếu lúc này lấy võ công mà luận, dĩ nhiên chú không bằng anh. Thế nhưng truyền nhân y bát của ân sư, là người mang trọng nhiệm làm sáng danh võ học. Ân sư thường nói rằng, thiên hạ lớn lao như thế, chuyện vinh hay nhục của phái Võ Đương nào có đáng gì? Thế nhưng nếu tinh cứu áo bí của võ học, tuyển chọn truyền nhân cho kỹ càng, trước là để võ công của hạng người chính nhân quân tử kẻ tà ác không theo kịp được, kế đến là kết hợp nghĩa sĩ trong thiên hạ, khu trừ Thát Lỗ, lấy lại giang sơn, đó mới là làm tròn cái bổn phận của kẻ học võ chúng ta. Vì thế y bát truyền nhân của ân sư, trước là tâm thuật, sau là ngộ tính. Nói đến tâm thuật, anh em ta bảy người không khác nhau bao nhiêu, nhưng ngộ tính thì em là cao hơn hết.
Trương Thúy Sơn xua tay nói:
– Cái đó bởi vì ân sư nghĩ đến tiểu đệ, nên nhất thời hứng đến mà nói thế. Nếu quả thực ân sư có ý đó chăng nữa, tiểu đệ cũng vạn vạn không dám nhận.
Du Liên Châu mỉm cười, nói:
– Đệ muội, cô vào bảo vệ cháu Vô Kỵ, đừng để nó kinh hoảng, bên ngoài này đã có ta và ngũ đệ lo liệu.
Ân Tố Tố đưa mắt nhìn quanh, thấy bốn bề tĩnh mịch tuyệt nhiên không có gì khác lạ, nghĩ thầm không biết nhị ca có hoa mắt không. Bỗng dưng Du Liên Châu lớn tiếng nói:
– Du nhị và Trương ngũ của núi Võ Đương đi ngang qua quí địa, xin thứ tội lễ thứ không chu toàn. Vị bằng hữu nào đó nếu có hứng, xin mời lên thuyền uống một chén rượu được chăng?
Câu nói của chàng vừa dứt, thấy trong đám lau lách có tiếng mái giầm khua, sáu chiếc thuyền nhỏ tiến ra thành hình chữ nhất, chặn ngang mặt sông. Từ một chiếc thuyền có tiếng rít, bắn ra một mũi hưởng tiễn[4], trong những bụi cây thấp bờ sông phía nam tiến ra chừng mươi hán tử nai nịt gọn gàng, mặc toàn màu đen, tay cầm binh khí, trên mặt bịt khăn mỏng cũng màu đen, chỉ để lộ đôi mắt.
Ân Tố Tố trong lòng thật bội phục: ?Vị nhị bá này quả thực danh bất hư truyền, tài ba ghê gớm thật?. Nàng thấy địch nhân quá đông nên vội vàng vào trong khoang thì Vô Kỵ đã sợ hãi tỉnh dậy. Ân Tố Tố mặc quần áo cho con, hạ giọng nói:
– Cục cưng của mẹ ơi, đừng có sợ.
Du Liên Châu lại nói:
– Trước mặt là vị bằng hữu nào đó, Võ Đương Du nhị, Trương ngũ có lời hỏi thăm.
Thế nhưng sáu chiếc thuyền chỉ có người chèo phía sau, không thấy ai khác, cũng không ai trả lời.
Du Liên Châu đột nhiên tỉnh ngộ, kêu lên:
– Chẳng lành rồi.
Chàng lắc mình phóng ngay xuống nước. Du Liên Châu từ bé sống ở Giang Nam nên bơi lội rất giỏi, vừa xuống nước thấy bốn người tay cầm dùi sắt, đang lặn dưới nước bơi tới toan đục đáy thuyền, để bắt sống bốn người.
Chàng nép vào mạn thuyền, đợi họ bơi tới gần, hai tay tung ra điểm trúng huyệt đạo của hai người, tiếp theo giơ chân đá vào hông một người khác, điểm huyệt ?Chí Thất?. Người thứ tư kinh hoảng toan chạy, Du Liên Châu vung tay trái ra, nắm được cổ chân y, ném vọt lên trên thuyền. Ba người kia bị điểm huyệt nếu không cứu ngay ắt sẽ chết đuối nên chàng cầm từng người một ném lên xong mới trèo lên.
Người thứ tư kia bị ném lên sàn thuyền liền lăn một vòng, tung mình nhảy lên, giơ dùi đâm vào ngực Trương Thúy Sơn. Trương Thúy Sơn thấy y võ công tầm thường, không thèm né tránh, thò tay trái ra, nắm được cổ tay y, tiếp theo cùi chỏ thúc ra, đánh trúng ngay huyệt đạo trên ngực. Người đó chỉ kêu lên một tiếng rồi ngã lăn ra.
Du Liên Châu nói:
– Trên bờ hình như có mấy hảo thủ, mình coi như đã đủ lễ rồi, không cần phải nể nang gì nữa, cứ xông tới đi.
Trương Thúy Sơn gật đầu, ra lệnh cho lái đò cứ việc tiến lên, đi dần tới sáu chiếc thuyền kia. Du Liên Châu nhắc bốn người bị bắt lên, giải khai huyệt đạo rồi ném qua. Cũng thật lạ, bên kia những thuyền đó không ai lên tiếng, mà trên bờ mươi người áo đen cũng lặng thinh tưởng như họ đều câm cả. Bốn người thợ lặn liền chui vào khoang, không thấy ra ngoài nữa.
Thuyền đi song song với sáu chiếc thuyền nhỏ, đang toan vượt lên trước, bỗng từ bên trong một chiếc thuyền bên kia, người chèo thuyền đột nhiên vung tay hai cái, nghe bình bình hai tiếng, gỗ bay tứ tán, tay lái thuyền họ đang ngồi đã bị gãy nát, chiếc thuyền lập tức quay ngang. Thì ra tên lái đò nọ ném ra hai chiếc ngư pháo dùng để ném cá, nhưng những quả pháo này thật lớn, nhồi nhiều hỏa dược nên sức nổ rất mạnh.
Du Liên Châu bình thản như không, nhẹ nhàng nhảy sang thuyền đối phương. Chàng tài đã cao mà mật lại lớn, nên chỉ qua hai tay không. Tên chèo thuyền trên chiếc thuyền nhỏ kia cứ tiếp tục chèo về trước không để ý đến việc có người nhảy qua. Du Liên Châu quát lên:
– Kẻ nào ném ngư pháo đó?
Người chèo thuyền đó lặng thinh không trả lời. Du Liên Châu tiến vào khoang thuyền, thấy có hai người ngồi bình thản quay mặt vào nhau nhưng không tỏ vẻ gì muốn nghinh địch. Du Liên Châu nắm cổ hai người giơ lên quát hỏi:
– Các ngươi là bù nhìn à?
Hai người đó không trả lời. Chàng là loại cao thủ hạng nhất nên giữ thân phận không muốn dùng võ lực tra hỏi, nên lập tức quay ra ngoài thuyền, thấy Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đã ôm Vô Kỵ sang thuyền con. Du Liên Châu giựt lấy mái chèo, chèo ngược giòng đi lên. Chỉ mới chèo được vài cái, Ân Tố Tố kêu lên:
– Bọn giặc này tháo nước vào rồi.
Thấy khoang thuyền nước tuôn ào ào hóa ra họ đã tháo nút ở đáy thuyền cho nước chảy vào. Du Liên Châu nhảy lên chiếc thuyền thứ hai, thấy thuyền cũng đã ngập nước đến một nửa, bèn quay đầu lại nói:
– Ngũ đệ, thế này thì mình không thể nào không lên bờ, thôi đi lên vậy.
Sáu chiếc thuyền đó quả nhiên đã được sắp đặt sẵn, giống như một chiếc cầu để khách lên bờ. Ba người ôm Vô Kỵ cùng nhảy lên bờ.
Hơn mười hán tử áo đen bịt mặt đã xếp thành một hình vòng cung chờ sẵn, vây bốn người vào trong. Những người đó đa số cầm trường kiếm, nhưng cũng có một số cầm song đao, hoặc nhuyễn tiên, không ai cầm các loại binh khí nặng.
Du Liên Châu khoanh tay đứng yên, từ trái qua phải nhìn khắp một lượt, thần sắc thản nhiên, không nói năng gì cả. Trong đám người một hán tử áo đen bỗng giơ tay vẫy một cái, vòng người liền mở ra thành hai nhóm, mọi người hơi khom mình, binh khí trong tay chỉ xuống đất, ôm quyền hành lễ, nhường đường cho họ đi. Du Liên Châu trả lại một lễ, ngang nhiên đi qua. Bọn người đợi Du Liên Châu qua xong, bỗng nhiên lại đóng cái vòng lại, chặn đường ba người gia đình Trương Thúy Sơn, ánh sáng lấp lóe, những món binh khí lại dựng lên.
Trương Thúy Sơn cười ha hả, nói:
– Hóa ra các vị chỉ muốn giữ Trương mỗ lại nên bày thành trận thế, thật là coi trọng kẻ hèn này quá.
Hán tử đứng giữa hơi ngần ngừ, hạ kiếm xuống mở đường cho đi. Trương Thúy Sơn nói:
– Tố Tố, em đi trước.
Ân Tố Tố ôm Vô Kỵ đang toan tiến lên, bỗng nghe tiếng gió, năm thanh trường kiếm cùng nhắm thẳng vào Vô Kỵ. Ân Tố Tố giật mình, vội vàng lùi lại. Năm người đó lập tức tiến tới, mũi kiếm không ngừng rung động, trước sau vẫn cách thân hình Vô Kỵ chừng một thước.
Du Liên Châu hai chân nhún một cái, nhảy qua đầu mọi người trở lại trong vòng hai tay đập luôn bốn cái, mỗi cái vỗ trúng cổ tay một người áo đen, bốn thanh kiếm đang chỉ vào Vô Kỵ lập tức bay vọt lên trời. Bốn cái vỗ đó thật nhanh, hất bốn thanh kiếm văng đi, tay trái chàng lập tức lật một vòng nắm luôn cổ tay người thứ năm, ngón tay trỏ thuận thế điểm luôn vào huyệt đạo ở cổ tay người đó, nhưng thấy tay y mềm mại nhẵn nhụi, hình như là tay đàn bà, nên vội bỏ ra. Người đó cổ tay tê chồn, nghe keng một tiếng, kiếm rơi xuống đất.
Năm người bị mất kiếm lập tức lùi lại. Dưới ánh trăng thấp thoáng, lại có hai thanh kiếm khác đâm tới, nhưng thấy đâm ngang, lưỡi kiếm quay sang hai bên tả hữu, hai người cùng sử chiêu Đại Mạc Bình Sa, nhưng không sử kình, dường như không có ý đả thương người.
Du Liên Châu nghĩ thầm: ?Côn Lôn kiếm pháp, thì ra họ thuộc phái Côn Lôn?. Đợi kiếm đến cách ngực chừng ba tấc, đột nhiên chàng hóp ngực lại, hai tay khua một vòng, hai ngón tay trỏ đồng thời búng vào lưỡi kiếm.
Cái búng đó chàng sử dụng Võ Đương tâm pháp, đúng ra trường kiếm đối phương phải tuột ra khỏi tay mới phải, nào ngờ ngón tay và thanh kiếm đụng nhau, thấy từ thanh kiếm có một luồng nhu kình, hóa giải một nửa lực đạo của chàng, nên kiếm không rơi xuống. Thế nhưng hai người đó vẫn chịu không nổi, lục tục lui về sau ba bước. Một người đứng không vững, ngã phịch xuống đất, còn người kia kêu lên “Ối chao” một tiếng, ọc ra một ngụm máu tươi.
Từ khi gặp họ đem sáu chiếc thuyền ra chặn đến giờ họ chưa lên tiếng, lúc này kêu lên ?Ôi chao?, tiếng nói thanh thoát, nghe như tiếng đàn bà. Người áo đen đứng giữa lập tức giơ tay vẫy một cái, cả bọn quay mình bỏ chạy, chỉ giây lát biến mất vào trong các bụi cây thấp chung quanh. Những người đó quá nửa thân hình yểu điệu, hiển nhiên đàn bà mặc giả đàn ông. Du Liên Châu lớn tiếng nói:
– Du nhị, Trương ngũ gửi lời hỏi thăm Thiết Cầm tiên sinh, xin tha cho tội vô lễ.
Những người áo đen đó không trả lời, nghe văng vẳng có người cười khẩy một tiếng, đúng là giọng phụ nữ. Ân Tố Tố để Vô Kỵ xuống đất, nắm chặt tay con, nói:
– Những người này quá nửa là đàn bà. Nhị bá, bọn họ là người của phái Côn Lôn đấy ư?
Du Liên Châu đáp:
– Không đâu, phái Nga Mi đấy.
Trương Thúy Sơn lạ lùng hỏi:
– Phái Nga Mi ư? Vậy sao sư ca lại nói là ?hỏi thăm Thiết Cầm tiên sinh??
Du Liên Châu thở dài đáp:
– Bọn họ trước sau không nói một lời, mặt lại bịt khăn đen, chính là vì không muốn mình biết chân diện mục của họ. Năm thanh kiếm nhắm vào Vô Kỵ, chính là Hàn Mai Kiếm Trận của phái Côn Lôn. Hai người đâm vào ta, cũng sử dụng chiêu Đại Mạc Bình Sa của phái Côn Lôn. Bọn họ đã mạo xưng phái Côn Lôn, mình cũng giả vờ như không biết, nên hỏi thăm chưởng môn phái Côn Lôn Thiết Cầm tiên sinh Hà Thái Xung.
Ân Tố Tố hỏi:
– Vậy sao nhị bá biết họ là người của phái Nga Mi? Nhận ra được người nào trong bọn chăng?
Du Liên Châu đáp:
– Không đâu. Những người đó công lực không lấy gì làm thâm hậu, chắc phải là hạng đồ tôn của chưởng môn phái Nga Mi Diệt Tuyệt sư thái, hoặc là những tiểu đệ tử của bà ta, làm sao ta nhận ra được. Thế nhưng nhu kình hóa giải chỉ lực khi ta búng vào thanh kiếm, chính là Nga Mi tâm pháp. Học vài chiêu trận thức của môn phái khác không khó khăn gì, nhưng một khi sử dụng nội kình, chân tướng không thể nào che dấu được.
Trương Thúy Sơn gật đầu:
– Nhị ca dụng chỉ kích kiếm, nếu như họ buông kiếm ra thì tốt, bị thương nhẹ thôi. Nội công phái Nga Mi rất hay, nhưng có điều là nếu công lực chưa đủ mà vận lên sử dụng, gặp phải cao thủ, không khỏi không bị hại ghê gớm. Nếu nhị ca thực sự coi họ là kẻ địch, hai cô ả đó đã chết lăn ra rồi. Có điều phái Nga Mi đối với mình trước nay vẫn có chiều nể nang.
Du Liên Châu đáp:
– Ân sư khi còn trẻ đã từng được tổ sư sáng phái của Nga Mi là Quách Tương, Quách nữ hiệp đối đãi tử tế, thành thử lão nhân gia vẫn thường căn dặn kỹ càng không được đắc tội với môn hạ đệ tử của phái Nga Mi, để bảo tồn cái tình hương lửa khi xưa. Khi ta búng tay vào kiếm thấy nội kình của đối phương có điều không ổn, rút về không kịp nữa rồi, thành ra làm cho hai người bị thương. Tuy đó chỉ là vô tâm thất thố thôi, nhưng cũng vi phạm lời căn dặn của ân sư.
Ân Tố Tố nói:
– Cũng may là sau cùng nhị bá nói là xin lỗi Thiết Cầm tiên sinh nên không thực sự đắc tội với phái Nga Mi.
Lúc đó chiếc thuyền họ đi đã theo dòng trôi xuống hạ lưu rồi, không còn thấy đâu nữa. Sáu chiếc thuyền nhỏ cũng chìm mất, những người chèo thuyền ướt như chuột lột lóp ngóp bò lên bờ. Ân Tố Tố hỏi:
– Những người này cũng thuộc phái Nga Mi ư?
Du Liên Châu hạ giọng nói nhỏ:
– Đa số thuộc Lương Thuyền bang ở Sào Hồ.
Ân Tố Tố nhìn năm thanh kiếm lấp loáng ánh trăng nằm dưới đất, đang toan cúi xuống nhặt lên xem. Du Liên Châu nói:
– Đừng đụng tới binh khí của họ, nếu như trên kiếm có khắc tên người, sau này mình không thể nào giả vờ không biết được. Thôi mình đi.
Ân Tố Tố lúc này kính phục vị nhị bá bá này không để đâu cho hết nên đáp lời:
– Vâng.
Nắm tay Vô Kỵ đi lên con đường lớn cạnh bờ sông.
Đi qua một hàng cây thấp, thấy tại đằng trước cách mấy trượng dưới một cây liễu lớn có buộc ba con ngựa. Vô Kỵ mừng rỡ kêu lên:
– Có ngựa kìa, có ngựa kìa.
Thằng nhỏ ở trên Băng Hỏa đảo chưa từng thấy ngựa bao giờ, về đến Trung Thổ muốn được cưỡi ngựa nhưng chỉ đi bằng thuyền nên chưa có dịp.
Bốn người đến gần cây liễu thấy thân cây có gài một tờ giấy. Trương Thúy Sơn lấy xuống xem thấy viết:
– Kính tặng ba con ngựa để tạ tội làm hỏng thuyền.
Hàng chữ đó bằng than, viết vội nên hơi tháu, nét chữ mềm mại, rõ ràng là do đàn bà. Ân Tố Tố cười:
– Các cô phái Nga Mi dùng bút than vẽ lông mày để viết thư cho các đại hiệp của phái Võ Đương.
Du Liên Châu nói:
– Các cô này cũng lễ phép quá sức.
Nói xong chàng cởi giây buộc ngựa, ba người chia nhau cưỡi. Vô Kỵ ngồi trong lòng mẹ, rất lấy làm thích thú. Trương Thúy Sơn nói:
– Hình tích của mình nay đã lộ rồi, đi thuyền hay cưỡi ngựa cũng thế thôi.
Du Liên Châu đáp:
– Đúng thế. Trên đường thể nào mình cũng gặp người làm phiền, nếu như bất đắc dĩ phải giao đấu, mình cũng không nên mạnh tay.
Chàng vô tình làm bị thương hai đệ tử của phái Nga Mi, trong lòng áy náy không yên. Ân Tố Tố thấy hối hận, nghĩ thầm: ?Nhị bá chỉ mới ra tay hơi nặng một tí, bản ý không phải là đả thương người, chỉ cốt ép đối phương phải buông kiếm, họ vì gượng lại nên bị thương. So với ta năm xưa cố ý giết biết bao nhiêu đệ tử của phái Thiếu Lâm, chẳng cần biết nặng nhẹ là gì, thật không thể nào nói vào đâu được. Một thân làm tội, một thân chịu, về sau mình không thể để cho nhị bá phải phiền phức?. Nàng bèn nói:
– Nhị bá, những người này cũng chỉ vì vợ chồng em mà đến, còn đối với anh thật là cung kính. Nếu trên đường đi còn gặp ai cản trở, hãy để cho đệ muội đánh đuổi họ cũng được, nếu không xong, lúc ấy mới nhờ đến nhị bá ra tay tương viện.
Du Liên Châu nói:
– Cô nói thế có khác gì người ngoài. Chúng ta huynh đệ đồng sinh cộng tử, còn phân biệt anh tôi cái gì?
Ân Tố Tố không tiện nói thêm, hỏi lại:
– Bọn họ biết rõ nhị bá đi cùng với vợ chồng em, sao lại chỉ phái mấy đệ tử nhỏ tuổi đến ngăn đường?
Du Liên Châu đáp:
– Có lẽ vì việc gấp gáp, không kịp điều động cao thủ.
Trương Thúy Sơn thấy hành vi của các cô gái phái Nga Mi, áng chừng họ muốn biết tung tích Tạ Tốn, nói:
– Thì ra nghĩa huynh cũng có gây thù chuốc oán với phái Nga Mi, tiểu đệ ở Băng Hỏa đảo không nghe nói tới.
Du Liên Châu thở dài:
– Phái Nga Mi môn qui rất nghiêm, trong môn phái đại đa số là nữ đệ tử, Diệt Tuyệt sư thái trước nay không cho nữ đệ tử tùy tiện hành tẩu giang hồ. Kỳ này phái Nga Mi lại đến gây khó khăn cho Thiên Ưng giáo, bọn ta lúc đầu cũng hơi lấy làm lạ, mãi đến gần đây mới hiểu nguyên do. Thì ra Kim Qua Chùy Phương Bình Phương lão anh hùng ở Lan Phong, Hà Nam một hôm đột nhiên bị hại, trên tường có hàng chữ ?Giết người là Hỗn Nguyên Tích Lịch Thủ Thành Côn? viết bằng máu.
Ân Tố Tố hỏi lại:
– Vậy Phương Bình là người của phái Nga Mi ư?
Du Liên Châu đáp:
– Không. Diệt Tuyệt sư thái khi chưa xuất gia vốn họ Phương. Phương lão anh hùng chính là anh ruột của bà ta.
Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố đồng thời cùng ?A? một tiếng.
Vô Kỵ đột nhiên hỏi:
– Nhị bá, thế Phương lão anh hùng là người tốt hay là người xấu?
Du Liên Châu đáp:
– Nghe nói Phương lão anh hùng chỉ làm vườn, đọc sách, xưa nay không giao thiệp với ai, dĩ nhiên không phải là người xấu.
Vô Kỵ nói:
– Ồ, nghĩa phụ giết người bừa bãi như thế, thật không đúng chút nào.
Du Liên Châu mừng lắm, vươn cánh tay dài, nhắc thằng bé từ trong lòng mẹ qua ôm nó, xoa đầu nói:
– Hài tử, cháu biết không nên giết người bừa bãi, nhị bá rất vui lòng. Người chết rồi không sống lại được, ngay cả những người tội nghiệt thâm trọng, cùng hung cực ác, cũng không nên tùy tiện giết, mà nên để cho họ một đường hối cải.
Vô Kỵ nói:
– Nhị bá, cháu cầu xin bác một điều.
Du Liên Châu hỏi:
– Điều gì?
Vô Kỵ nói:
– Nếu họ tìm thấy nghĩa phụ, bác bảo họ đừng giết cha nuôi của cháu. Nghĩa phụ mắt mù rồi, không đánh lại họ đâu.
Du Liên Châu trầm ngâm một hồi, nói:
– Việc đó bác không đáp ứng được. Chỉ có điều bác sẽ nhất quyết không giết cha nuôi của cháu thôi.
Vô Kỵ thừ người không nói, mắt rươm rướm ướt.
Khi trời sáng, bốn người đến một thị trấn, tại khách điếm ngủ đến nửa ngày, đến quá trưa mới lên đường. Có khi Ân Tố Tố và trượng phu cưỡi chung một ngựa, để cho Vô Kỵ một mình cầm cương cho thích. Vô Kỵ dẫu sao cũng là trẻ con, cưỡi ngựa một hồi, quên ngay cái chuyện lo lắng cho Tạ Tốn.
Đường đi không xảy ra chuyện gì, hôm sau đã đến Hán Khẩu. Trưa hôm đó họ gần đến An Lục bỗng thấy trên đường có hơn chục người khách thương chạy xuống, thấy bọn Du Liên Châu bốn người, vội vàng xua tay, kêu lớn:
– Mau quay đầu, mau quay đầu, đằng trước có binh đội Thát Đát đang giết người cướp của.
Một người nói với Ân Tố Tố:
– Đàn bà con gái như cô đừng có lớn mật, gặp bọn Thát Đát không phải chuyện đùa đâu.
Du Liên Châu hỏi:
– Có bao nhiêu Thát tử?
Một người đáp:
– Chừng chục đứa, hung ác ghê gớm lắm.
Nói xong lại chạy thục mạng về hướng đông. Võ Đương thất hiệp trước nay căm ghét thậm tệ bọn Nguyên binh tàn hại dân lành. Trương Tam Phong bình thời giáo huấn đệ tử rất nghiêm, không ai được tùy tiện động thủ với người khác. Thế nhưng nếu gặp quan quân làm điều tàn ác thì được ra tay không phải dung tình. Thành thử Võ Đương thất hiệp nếu gặp đại đội Nguyên binh đánh phải né tránh, nhưng nếu gặp ít kẻ hành hung, lập tức trừ khử. Du Trương hai người nghe nói chỉ có chừng một chục quân Nguyên, nghĩ thầm đúng là dịp tốt trừ hại cho dân, lập tức giục ngựa chạy về phía trước.
Đi được chừng ba dặm, quả nhiên nghe thấy tiếng kêu thảm thiết. Ngựa của Trương Thúy Sơn đi đầu, thấy hơn một chục quân Nguyên tay cầm cương đao, trường mâu, đang lùa mấy chục người dân lại để tàn sát, máu chảy vung vãi đầy mặt đất, có bảy tám người đầu một nơi, thân một nẻo. Một tên quân Nguyên cầm một đứa trẻ chừng ba bốn tuổi, giơ chân đá mạnh khiến đứa trẻ tung vọt lên không. Đứa bé ở trên trời kêu la, khi rơi xuống lại gặp một tên khác đá lên, chẳng khác gì người ta đá chuyền banh qua lại. Chỉ qua mấy lần, đứa trẻ không còn kêu khóc gì nữa, hẳn đã chết rồi. Trương Thúy Sơn nổi giận, từ trên lưng ngựa nhảy vọt xuống, chân chưa chạm đất, nghe một tiếng bình, đã đấm trúng ngực một tên Nguyên binh đang đá đứa trẻ. Tên đó kêu ối một tiếng ngã lăn ra. Một tên nguyên binh khác giơ cây giáo dài đâm luôn vào lưng Trương Thúy Sơn.
Vô Kỵ sợ hãi kêu lên:
– Gia gia coi chừng.
Trương Thúy Sơn quay đầu lại, cười đáp:
– Con coi cha đánh bọn Thát tử.
Thấy trường mâu còn cách ngực chừng nửa thước, tay trái chàng khua một cái, chộp được cán thương, tiếp theo đâm mạnh về trước, cán mâu liền đâm vào ngực tên Nguyên binh. Tên đó kêu lên một tiếng lăn quay ra xem chừng không sống được nữa.
Bọn quân Nguyên thấy Trương Thúy Sơn dũng mãnh như thế, kêu lên một tiếng, bốn phía vây chàng lại. Ân Tố Tố cũng nhảy xuống ngựa, cướp lấy một thanh đao dài chém chết luôn hai đứa. Bọn quân Nguyên xem chừng không xong, bỏ chạy tứ tán. Thế nhưng bọn này hung ác thành tính, trong khi chạy trốn, vẫn còn vung đao loạn sát những người dân. Du Liên Châu nổi giận, kêu lên:
– Không để cho bọn chúng chạy thoát.
Chàng lao vụt ra hướng tây, chặn bốn tên quân Nguyên. Trương Thúy Sơn và Ân Tố Tố cũng chia ra chặn bọn còn lại. Ba người biết rằng bọn quân Nguyên tuy hung ác thật nhưng võ công chỉ bình thường, Vô Kỵ so với bọn chúng còn cao hơn nhiều nên không cần phân tâm lo lắng.
Vô Kỵ cũng nhảy xuống ngựa, thấy nhị bá và phụ thân nhảy nhót như bay, vỗ tay kêu lên:
– Hay quá, hay quá.
Đột nhiên, tên quân Nguyên bị Trương Thúy Sơn dùng cán mâu đâm bất tỉnh hồi nãy bất ngờ nhỏm dậy, giơ tay ôm lấy Vô Kỵ, xoay mình nhảy lên lưng ngựa, giựt cương chạy đi. Du Liên Châu và vợ chồng Trương Thúy Sơn kinh hãi, cùng kêu lên đuổi theo. Du Liên Châu chỉ nhún mình hai cái đã đến đằng sau con ngựa, tay trái đánh ra một chưởng, thân hình cũng chồm theo nhắm đúng hậu tâm tên Nguyên binh. Tên đó không quay đầu, đánh ngược lại một chưởng. Chỉ nghe bộp một tiếng, hai chưởng đụng nhau. Du Liên Châu thấy chưởng lực đối phương như bài sơn đảo hải, một luồng nội lực cực kỳ âm hàn truyền thẳng qua, lập tức toàn thân lạnh buốt thấu xương, thân hình lảo đảo mấy cái, loạng choạng lùi về sau ba bước.
Con ngựa tên Nguyên binh đó đang cỡi cũng không chịu nổi phản chấn của chưởng Du Liên Châu, hai chân trước khuỵu xuống. Tên quân Nguyên ôm Vô Kỵ thuận thế phóng luôn về phía trước, tiếp theo thi triển khinh công, chỉ chớp mắt đã chạy hơn một chục trượng. Trương Thúy Sơn nhảy lên, thấy nhị ca mặt trắng bệch, bị thương không phải nhẹ, vội vàng đỡ dậy.
Ân Tố Tố lòng thương con, không kể sống chết một mạch đuổi theo. Thế nhưng gã Nguyên binh đó khinh thân công phu cực cao, càng đuổi càng xa, về sau chỉ còn thấy một chấm nhỏ, quay qua một khúc rẽ không còn nhìn thấy đâu nữa. Ân Tố Tố vẫn không nản chí, tiếp tục đuổi. Nàng quên rằng tên quân Nguyên đó một chưởng đả thương Du Liên Châu, dẫu có đuổi kịp cũng không phải là địch thủ của y, trong lòng chỉ có một ý nghĩ: ?Dù có phải chết cũng nhất quyết cướp lại Vô Kỵ?.
Du Liên Châu thều thào nói:
– Mau gọi đệ muội trở lại, để ? để rồi ? mình tính sau.
Trương Thúy Sơn giơ cây giáo dài, đâm chết hai tên Nguyên binh ở trước mặt, hỏi lại:
– Sư ca bị thương ra sao?
Du Liên Châu đáp:
– Không sao đâu. Mau ? mau gọi đệ muội về lại gấp.
Trương Thúy Sơn sợ bọn quân Nguyên vẫn còn hảo thủ trong đó, mình vừa đi khỏi, sẽ quay lại hạ sát Du Liên Châu, nên đuổi theo bốn bề, từng đứa một giết hết, sau đó mới lấy một con ngựa, nhảy lên đuổi về hướng tây.
Đuổi được mấy dặm, thấy Ân Tố Tố chạy như người điên, nhưng bước chân loạng choạng, hiển nhiên đã mỏi mệt lắm rồi. Trương Thúy Sơn cúi xuống ôm nàng đặt lên trên yên. Ân Tố Tố chỉ tay về phía trước, khóc nói:
– Không thấy đâu nữa, đuổi theo không kịp, đuổi theo không kịp.
Nói rồi hai mắt trợn ngược bất tỉnh. Trương Thúy Sơn trong lòng khắc khoải an nguy của Du Liên Châu, nghĩ thầm: ?Trước hết mình nên lo cho nhị ca, sau đó hãy tính tới chuyện Vô Kỵ?. Chàng quay đầu ngựa, chạy về, thấy Du Liên Châu đang ngồi đả tọa, nhắm mắt điều quân khí tức.
Một lát sau Ân Tố Tố tỉnh lại, kêu lên:
– Vô Kỵ, Vô Kỵ.
Sắc mặt trắng bệch của Du Liên Châu cũng từ từ hồng trở lại, chàng mở mắt ra, nói nhỏ:
– Chưởng lực quả thật lợi hại.
Trương Thúy Sơn thấy sư huynh mở miệng nói, biết rằng tính mệnh không đến nỗi nào mới thấy yên tâm, nhưng không dám nói chuyện. Du Liên Châu từ từ đứng lên, hỏi khẽ:
– Không thấy tung tích gì sao?
Ân Tố Tố khóc đáp:
– Nhị bá, làm ? làm thế nào bây giờ đây?
Du Liên Châu đáp:
– Cô yên tâm, Vô Kỵ không sao đâu. Tên này võ công cao ghê gớm, nhất định không làm hại trẻ con đâu.
Ân Tố Tố đáp:
– Nhưng mà ? nhưng mà y bắt cóc mất Vô Kỵ rồi.
Du Liên Châu gật đầu, tay trái đưa ra vịn vào vai Trương Thúy Sơn, nhắm mắt suy nghĩ. Một lát sau, chàng mở mắt nói:
– Ta không nghĩ ra y thuộc môn phái nào, mình lên núi hỏi sư phụ xem sao.
Ân Tố Tố nôn nóng, nói:
– Nhị bá, mình phải tìm cách nào, đoạt lại Vô Kỵ trước đã. Tên đó ở môn phái nào sau này mình hỏi cũng được.
Du Liên Châu lặng lẽ lắc đầu. Trương Thúy Sơn nói:
– Tố Tố, trước mắt nhị ca đang bị trọng thương, tên đó võ công cao cường như thế, mình có kiếm được y thì cũng chẳng làm gì được đâu.
Ân Tố Tố vẫn bồn chồn nói:
– Không lẽ ? không lẽ mình mặc kệ nó sao?
Trương Thúy Sơn đáp:
– Mình không cần phải đi tìm y, y tất sẽ đi kiếm mình.
Ân Tố Tố vốn rất thông minh, chỉ vì đưa con yêu bị bắt nên kinh hoảng, đầu óc bối rối, bây giờ chợt nghĩ ra lập tức minh bạch. Tên Nguyên binh đó võ công cao cường như thế, đến Du Liên Châu còn bị chưởng lực của y chấn thương, tất nhiên y chỉ giả trang. Y đánh Du Liên Châu rồi nếu muốn lấy mạng hai vợ chồng không phải chuyện khó, nhưng lại chỉ bắt cóc Vô Kỵ, dụng ý chỉ để tra hỏi chỗ ở của Tạ Tốn. Khi Trương Thúy Sơn thuận tay thúc một cán mâu vào ngực, y giả vờ bất tỉnh, ba người đâu có lưu tâm tướng mạo thân hình ra sao, lúc này nghĩ lại, tên đó dường như để râu xồm, không khác gì những tên binh sĩ Thát Đát tầm thường. Trương Thúy Sơn bồng sư huynh để lên lưng ngựa, tự tay cầm cương, ba người cưỡi ngựa chầm chậm mà đi. Đến An Lục họ tìm một khách điếm nhỏ nghỉ ngơi. Trương Thúy Sơn gọi chủ quán mang đồ ăn đến, đóng cửa lại không ra, e gặp Nguyên binh gây thêm rắc rối. Ba người trên đường giết hơn một chục tên lính, tin chắc vài ngày sau đại đội Nguyên binh sẽ kéo đến tàn sát cướp bóc trả thù, dân chúng vùng này sẽ phải chịu không biết bao tai ương. Thế nhưng mỗi khi gặp chuyện bất bình, chàng không thể nào thõng tay không ngó đến. Quả thực cái nhục mất nước thì trên khắp cõi thần châu, người người đều chịu chung kiếp nạn.
Du Liên Châu tiềm vận nội lực, dẫn đi khắp các huyệt đạo trên thân thể để trị thương, Trương Thúy Sơn ngồi một bên canh chừng. Ân Tố Tố ngồi dựa vào ghế, nhưng nào có ngủ được. Đến nửa đêm, Du Liên Châu đứng dậy, đi chầm chậm trong phòng ba vòng cho rãn gân cốt, nói:
– Ngũ đệ, trong cả đời ta, trừ ân sư ra, chưa từng gặp một cao thủ nào như thế.
Ân Tố Tố trong lòng vẫn khắc khoải nhớ con, nói:
– Y bắt cóc Vô Kỵ chắc là để tra hỏi nơi ở của nghĩa huynh, không biết Vô Kỵ có nói không.
Trương Thúy Sơn hiên ngang đáp:
– Nếu như Vô Kỵ nói ra thì nó đâu có còn là con chúng ta nữa?
Ân Tố Tố nói:
– Đúng thế, chắc nó không chịu nói đâu.
Đột nhiên nàng òa lên khóc. Trương Thúy Sơn vội hỏi:
– Cái gì thế?
Ân Tố Tố nghẹn ngào nói:
– Vô Kỵ không nói, tên ác tặc ? tên ác tặc thể nào cũng đánh nó ? không chừng y còn dùng độc hình.
Du Liên Châu thở dài một tiếng. Trương Thúy Sơn đáp:
– Ngọc bất trác, bất thành khí[5]. Để cho thằng bé trải qua gian nan khốn khổ, không hẳn là không có chỗ hay.
Chàng tuy nói thế nhưng nghĩ tới không biết lúc này thằng bé đang bị người ta dày vò hành hạ, chịu đựng khổ sở, rên rỉ kêu la, chàng không khỏi vừa buồn rầu vừa tức tối. Chàng lại tự hỏi hay là lúc này nó đang bình an nằm ngủ? Nếu nó đem chỗ ở của Tạ Tốn nói ra thì là kẻ vong ân phụ nghĩa, so với bị độc hình còn tệ hại hơn nhiều. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Thà rằng để nó chết ngay còn hơn là làm kẻ tiểu nhân bất nghĩa?.
Chàng nhìn vợ, thấy mắt nàng đầy vẻ sầu khổ đáng thương, bỗng giật mình nghĩ thầm: ?Nếu như tên ác tặc đó đem Vô Kỵ tới đây lấy tính mệnh uy hiếp, Tố Tố sẽ bị khuất phục không chừng?. Bèn hỏi:
– Nhị ca, anh có khỏe chưa?
Sư huynh đệ từ nhỏ đồng môn học nghệ, dù một lời nói, một ánh mắt, họ đều có thể tâm ý tương thông. Du Liên Châu nhìn thần sắc hai vợ chồng đã hiểu rõ dụng ý của Trương Thúy Sơn, nên nói:
– Khỏe rồi, mình lên đường qua đêm đi thôi.
Ba người chọn những con đường vắng vẻ quanh co, lợi dụng đêm tối mà đi. Họ sợ nhất không phải là kẻ kia có thể đuổi kịp sát hại mà chính là sợ y dùng những thủ đoạn tàn khốc đày đọa Vô Kỵ ngay trước mắt mình.
Cứ như thế, ngày nghỉ, đêm đi, trên đường quả nhiên vô sự. Thế nhưng Ân Tố Tố lòng nhớ nhung con, lại đi ban đêm trong núi non, nhiễm phải gió sương, nên bất ngờ ngã bệnh. Trương Thúy Sơn thuê hai cỗ xe lừa, để Du Liên Châu và Ân Tố Tố hai người đi, còn mình cưỡi ngựa hộ tống bên cạnh. Hôm đó ba người qua Tương Dương đến nghỉ tại một nhà trọ ở Thái Bình Điếm.
Trương Thúy Sơn lo liệu cho sư huynh xong, đang định về phòng mình để nghỉ, bỗng dưng có một hán tử đẩy then cửa lên, tiến vào phòng. Người này mặc áo chẽn màu xanh, tay cầm roi ngựa, ăn mặc trông như một phu xe. Y nhìn Du Trương hai người, cười khẩy một tiếng, rồi quay mình đi ra. Trương Thúy Sơn biết y không có ý tốt, giận thái độ vô lễ, thấy y vừa mở cửa đi ra, tay trái chàng liền chộp lấy cái then cửa, ám vận nội kình ném ra ngoài, nghe cạch một tiếng đánh trúng lưng y.
Người đó lảo đảo, ngã nhào về phía trước, gượng đứng dậy chửi:
– Tiểu tặc phái Võ Đương kia, chết đến đít còn giở thói hung hăng.
Miệng nói nhưng chân vẫn tiếp tục chạy ra ngoài, chân đi lảo đảo, xem ra trúng cái then cửa thụ thương không nhẹ. Du Liên Châu thấy việc xảy ra như thế, không nói một lời. Đến chiều tối, Trương Thúy Sơn nói:
– Nhị ca, mình lên đường được chưa?
Du Liên Châu nói:
– Không, đêm nay không đi, đến sáng mai cũng chưa muộn.
Trương Thúy Sơn suy nghĩ một giây, hiểu ngay ý của sư huynh, hào khí bừng bừng nổi lên, nói:
– Đúng thế, nơi đây cách bản sơn chỉ hai ngày đường, anh em mình vẫn còn dè dặt, chẳng hóa ra làm mất uy phong của sư môn hay sao? Ngay dưới chân núi Võ Đương mà mình vẫn còn phải đêm đi ngày nghỉ để tránh người thì còn thể thống gì nữa?
Du Liên Châu mỉm cười đáp:
– Vả lại hành tàng đã lộ rồi, để xem đệ tử phái Võ Đương đối phó với cái chết ra sao.
Hai người đi qua phòng của Trương Thúy Sơn, song song ngồi trên giường ấp[6], nhắm mắt đả tọa. Đêm hôm đó, ngoài song cửa, trên mái nhà, có bảy tám người đi qua đi lại canh chừng, nhưng không dám tiến vào phòng gây sự. Ân Tố Tố mơ mơ màng màng ngủ thiếp đi. Du Trương hai người không thèm để ý đến bọn người đó.
Hôm sau họ dùng điểm tâm xong mới lên đường. Du Liên Châu ngồi trong xe lừa, bảo xa phu mở hết rèm xe bốn bên để quan sát cho rõ. Đi khỏi Thái Bình Điếm chừng vài dặm, có ba người cưỡi ngựa từ phía đông đuổi đến, đi lẽo đẽo sau xe lừa, cách chừng mươi trượng, không tiến lên mà cũng không bỏ cách xa thêm. Đi thêm vài dặm nữa, đã thấy trước mặt có bốn người cưỡi ngựa đứng chờ bên đường, đợi bọn Du Liên Châu đi qua, bốn người đó lại đi theo sau. Vài dặm nữa lại có thêm bốn người ngựa khác gia nhập, tổng cộng thành mười một người.
Người đánh xe kinh hoảng nói với Trương Thúy Sơn:
– Khách quan, bọn người này cản đường có vẻ bất chính, chắc là ăn cướp rồi, mình phải cẩn thận.
Trương Thúy Sơn gật đầu.
Đến khoảng giữa trưa lại có thêm sáu người nữa. Những người đó ăn mặc không giống nhau, có người rất diêm dúa sang trọng, có người lại giống như phu xe, chạy cờ nhưng người nào cũng mang theo binh khí. Cả đoàn người không ai nói một tiếng nên không nghe được khẩu âm, nhưng đa số thân thể bé nhỏ, sắc da xạm đen, xem chừng từ phương nam đến. Đến quá trưa, họ đã lên đến hai mươi mốt người, có mấy kẻ lớn mật giục ngựa chạy lên, chỉ cách xe lừa chừng ba trượng thì không tiến nữa. Du Liên Châu ngồi trong xe nhắm mắt dưỡng thần, không thèm để mắt nhìn họ lấy một lần.
Chiều đến, từ trước mặt có hai con ngựa chạy đến. Người đi trước là một ông già râu dài, hai tay không. Người thứ hai là một thiếu phụ ăn mặc sang trọng, tay trái cầm song đao. Hai con ngựa đó đứng chặn ngay giữa đường, không cho xe đi qua.
Trương Thúy Sơn cố dằn cơn giận, ngồi trên ngựa ôm quyền thi lễ hỏi:
– Du nhị và Trương ngũ của phái Võ Đương chào hai vị, xin hỏi tôn tính đại danh của lão gia tử là gì?
Lão già đó nhếch mép nói:
– Kim Mao Sư Vương Tạ Tốn ở đâu? Chỉ cần ngươi nói ra thì ta không làm khó dễ đệ tử phái Võ Đương.
Trương Thúy Sơn nói:
– Việc này tại ha không làm chủ được, phải nhờ sư tôn định đoạt.
Ông già nói tiếp:
– Du nhị bị thương, Trương ngũ đơn độc. Ngươi có một mình làm sao địch lại bọn ta bây nhiêu người.
Nói xong y thò tay vào trong lưng lấy ra một đôi phán quan bút, đầu bút đúc hình đầu rắn. Trương Thúy Sơn có ngoại hiệu là Ngân Câu Thiết Hoạch, tay phải sử dụng phán quan bút, nên trong võ lâm dùng phán quan bút để điểm huyệt chàng đều biết rõ, nay nhìn thấy xà đầu song bút này, trong lòng rung động. Trước đây chàng đã từng nghe sư phụ nói qua, nước Cao Ly có một phái sử dụng phán quan bút, đầu bút đúc hình rắn, chiêu số và phương pháp điểm huyệt khác hẳn Trung Thổ, đại khái là theo cách âm nhu tàn độc của loài rắn, chiêu số linh động, tên gọi là phái Thanh Long. Cao thủ xuất danh của phái đó họ Tuyền, còn tên là gì chính sư phụ cũng không biết. Chàng ôm quyền hỏi:
– Tiền bối có phải thuộc phái Thanh Long ở Cao Ly không? Không biết xưng hô với Tuyền lão gia tử thế nào?
Lão già đó hơi kinh ngạc, nghĩ thầm: ?Xem ngươi chừng ba mươi tuổi, nhưng sao kiến thức rộng đến thế, biết được lai lịch của ta?. Lão già đó chính là chưởng môn phái Thanh Long bên Cao Ly tên là Tuyền Kiến Nam, được bang chủ Tam Giang Bang ở Lĩnh Nam đem hậu lễ mời sang. Y mới đến Trung Thổ, chưa từng ra tay bao giờ, nào ngờ vừa ra mặt đã bị Trương Thúy Sơn nhận ra. Y giơ đôi bút khua một cái, nói:
– Lão phu chính là Tuyền Kiến Nam đây.
Trương Thúy Sơn nói:
– Phái Thanh Long ở Cao Ly trước nay không qua lại gì với võ lâm Trung Thổ, không biết phái Võ Đương đắc tội gì với Tuyền lão anh hùng, xin cho biết rõ.
Tuyền Kiến Nam lại nhếch mép, nói:
– Lão phu với các hạ không thù không oán, người Cao Ly chúng tôi cũng biết Trung Thổ có phái Võ Đương, Võ Đương thất hiệp đều là người tốt hành hiệp trượng nghĩa. Lão phu chỉ hỏi các hạ một câu: Kim Mao Sư Vương trốn ở đâu?
Tuy câu đó không phải là vô lễ nhưng cách nói rõ ràng uy hiếp, lại múa đôi phán quan bút, ra lệnh cho bọn người kéo tới vây quanh xe lừa, rõ ràng ý nói nếu không cho biết chỗ ở của Tạ Tốn họ sẽ ra tay động võ. Trương Thúy Sơn nói:
– Nếu như tại hạ không nói thì sao?
Tuyền Kiến Nam nói:
– Trương ngũ hiệp võ nghệ cao cường, bọn ta tuy đông người nhưng cũng chưa chắc cầm giữ được ngươi. Thế nhưng Du nhị hiệp bị thương nặng, tôn phu nhân lại bị bệnh, bọn ta được dịp bằng vàng, nhân người ta gặp nguy nan ra tay giữ hai người lại. Còn Trương ngũ hiệp cứ việc đi không sao.
Y nói tiếng Trung Hoa dùng chữ đã không đúng, giọng lại cứng nhắc thật là khó nghe. Trương Thúy Sơn nghe y đem bốn chữ vô liêm sỉ ?thừa nhân chi nguy? chính miệng nói ra, bèn nói:
– Được rồi, thế thì tại hạ xin lãnh giáo võ học cao chiêu của Cao Ly. Thế nhưng nếu Tuyền lão anh hùng chịu nhường tại hạ một chiêu, nửa thức thì sao?
Tuyền Kiến Nam cười đáp:
– Nếu như ta thua thì tất cả mọi người sẽ cùng xông lên, chứ bọn ta không theo cách thức một chọi một. Nếu phái Võ Đương đông hơn, các ngươi cứ việc lấy thịt đè người. Hồi xưa Tùy Dượng Đế, Đường Thái Tông, Đường Cao Tông bên Trung Quốc sang xâm chiếm lần nào cũng đem mấy chục vạn người đánh vài vạn quân của Cao Ly thì sao? Xưa nay đánh nhau bên nào nhiều là bên ấy thắng.
Trương Thúy Sơn biết rằng việc ngày hôm nay có nói nhiều cũng vô ích, chỉ có cách bắt được y làm con tin mới mong ép thủ hạ của y không dám tiến lên xâm phạm đến nhị ca và Tố Tố. Nghĩ thế chàng nhún mình, nhẹ nhàng nhảy xuống ngựa, chân trái vừa chấm đất, tay trái đã cầm hổ đầu câu bạc vụn, tay phải cầm phán quan bút thép ròng, nói:
– Các hạ là khách, xin mời ra tay trước.
Phán quan bút của chàng mười năm trước đã rơi xuống biển mất rồi, bút hôm nay mới mua ở tại một tiệm bán binh khí, tuy dài ngắn phân lượng không hoàn toàn vừa tay nhưng đành dùng tạm.
Tuyền Kiến Nam cũng nhảy xuống ngựa, gõ hai chiếc bút vào nhau nghe keng một tiếng, tay phải điểm hờ ra, bút bên trái vẫn còn giữ thế, thân hình chuyển sang bên cạnh Trương Thúy Sơn. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Hôm nay ta vì an nguy của nghĩa huynh mà chiến đấu, Tố Tố là vợ ta hai người như một, nàng cũng có tình kim lan với nghĩa huynh, dù có vì y mà chết cũng không sao. Có điều nhị ca cùng nghĩa huynh vốn không quen biết, nếu vì y mà nhị ca phải chịu nhục thì không thể nào chịu được?.
Chàng thấy đầu bút của Tuyền Kiến Nam điểm tới, giơ câu gạt ra, nhưng tay chỉ sử dụng hai thành kình lực. Câu bút chạm nhau, thân hình chàng hơi lảo đảo.
Tuyền Kiến Nam trong lòng mừng quá, nghĩ thầm: ?Bọn Tam Giang bang ca tụng Võ Đương thất hiệp lên tận trời xanh, nhưng hóa ra chỉ đến thế. Có lẽ võ lâm Trung Nguyên muốn giữ thể diện nên đem nhân sĩ bản quốc thổi phồng lên gấp mấy lần?. Nghĩ thế cây bút ở tay trái y liền phóng ra ba chiêu. Trương Thúy Sơn né trái lách phải, cố gắng đón đỡ, trả lại một câu một bút nhưng kình lực yếu ớt. Tuyền Kiến Nam tin chắc hôm nay sẽ đánh bại Trương ngũ hiệp của phái Võ Đương, có thể nói y đến Trung Thổ đánh một trận là nổi danh, nên hai ngọn bút phi vũ, mỗi chiêu đều nhằm những điểm yếu hại trên người Trương Thúy Sơn điểm tới.
Trương Thúy Sơn giữ môn hộ thật nghiêm mật, ngưng thần quan sát kỹ càng chiêu số đối phương. Chàng thấy chiêu số của y nhẹ nhàng, bút cũng có chút kình lực, nhưng những huyệt đạo y điểm thiên về hạ tam lộ ở sau lưng, so với các phái chuyên điểm huyệt nổi danh ở Trung Thổ khác xa. Đấu thêm một lúc, thấy phán quan bút bên trái của y đều nhằm vào các huyệt bên dưới huyệt Linh Đài, từ Linh Đài, Chí Dương, Cân Xúc, Trung Khu, Tích Trung, Huyền Khu, Mệnh Môn, Dương Quan, Yêu Du đến huyệt Trường Cường ở đốt xương cùng; còn phán quan bút bên phải y điểm các huyệt trên hông và chân, từ Ngũ Khu, Duy Đạo, Hoàn Khiêu, Phong Thị, Trung Độc đến tận huyệt Dương Lăng trên đùi. Trương Thúy Sơn hiểu ngay bút bên trái của y chuyên điểm các huyệt trên Đốc Mạch còn bút bên phải nhắm vào các huyệt trên Túc Thiếu Dương Đảm Kinh, trông thì có vẻ phức tạp, thực ra chỉ có bấy nhiêu. Chàng nghĩ thầm: ?Năm xưa sư phụ có nói rằng phái Thanh Long của Cao Ly chuyên về điểm huyệt một bên người, tuy có vẻ độc địa, nhưng không đáng sợ. Hôm nay gặp phải, quả đúng như thế?.
Chàng đã tìm ra chiêu thức đường lối của dối phương rồi, ngân câu thiết bút tuy múa may đỡ đưới gạt trên ra chiều ra vẻ, thực sự chỉ cốt bảo vệ các huyệt trên đốc mạch và túc thiếu dương đảm kinh mà thôi, còn các huyệt khác trên thân thể không cần để ý tới. Tuyền Kiến Nam càng đấu càng hăng, hò hét vang dội, uy phong lẫm lẫm. Trương Thúy Sơn nghĩ thầm: ?Chỉ có chút võ công như thế này mà cũng dám đến tận chân núi Võ Đương gây rối ư?. Đột nhiên câu bên tay trái chàng sử cái móc trong tự quyết chữ ?long?, nghe soẹt một tiếng, móc trúng ngay huyệt Phong Thị trên đùi phải của Tuyền Kiến Nam. Tuyền Kiến Nam kêu ?Ối? một tiếng, chân phải khuỵu xuống. Bút bên phải của Trương Thúy Sơn liên tiếp điểm ra nhanh như lửa xẹt, các huyệt Linh Đài thuận thế đổ xuống, sử nét cuối cùng của chữ ?phong?, chẳng khác gì trong thư pháp kéo xuống một nét sổ, từ Chí Dương, Tiết Xúc, Trung Khu, Tích Trung ? ngay cả đến Trường Cường, trên khắp các huyệt Đốc Mạch đều điểm cả.
Nét bút đó nhanh như sao băng, khí nuốt Ngưu Đẩu, Tuyền Kiến Nam nào còn nhúc nhích gì được. Nét bút đó điểm vào các huyệt mà chính y cả đời nghiên cứu, nghĩ thầm: ?Thôi rồi, thôi rồi. Đối phương tài ba tuyệt luân như thế, ta không cách nào một hơi điểm luôn một chục huyệt như vậy. Ta so với học trò y cũng còn kém xa?.
Trương Thúy Sơn đưa câu chặn vào yết hầu của Tuyền Kiến Nam, quát lên:
– Các vị mau mau lùi ra. Tại hạ mời Tuyền lão anh hùng đi tới chân núi Võ Đương, sẽ giải huyệt thả về.
Chàng nghĩ bụng bọn này chắc đều là hạ thuộc của Tuyền Kiến Nam, trong lòng úy kỵ, ắt phải tránh ra. Nào ngờ thiếu phụ ăn mặc đẹp đẽ kia giơ song đao, kêu lên:
– Tất cả dàn hàng tiến lên, vây cái xe lừa lại.
Trương Thúy Sơn quát lên:
– Kẻ nào tiến lên, ta sẽ giết y trước.
Thiếu phụ cười nhạt, quát:
– Tất cả tiến lên.
Y thị nhảy xuống ngựa, múa đao xông lên, không coi Tuyền Kiến Nam vào đâu. Thì ra thiếu phụ đó là một đà chủ của Tam Giang bang, lần này ra tay qui mô, quyết ý bắt giữ Du Liên Châu và Ân Tố Tố để bức vấn chỗ ở của Tạ Tốn. Tuyền Kiến Nam chỉ là khách của Tam Giang bang, nếu không đắc lực, có chết dưới tay địch cũng chẳng hề gì.
Trương Thúy Sơn kinh hoảng, xem ra có giết Tuyền Kiến Nam cũng không đến đâu, thấy sáu bảy tên xông đến xe của Ân Tố Tố, sáu bảy tên khác xông đến xe của Du Liên Châu, chỉ một số ít cùng thiếu phụ nọ đến tấn công mình. Chàng chưa biết tính sao, bỗng nhiên nghe Du Liên Châu quát lớn:
– Lục đệ, mau ra mặt trừng trị bọn này đi.
Trương Thúy Sơn ngạc nhiên: ?Nhị ca định dùng kế không thành chăng?. Chỉ nghe từ không trung một tiếng hú, có tiếng người nói:
– Tuân lệnh. Ngũ ca ơi, anh khỏe chứ, có nhớ tiểu đệ không?
Từ một cây hòe lớn ở xa mấy trượng nhảy xuống một người, vừa tiến về phía trước, vừa rung động trường kiếm, chính là lục hiệp Ân Lê Đình. Trương Thúy Sơn mừng không ngờ nổi, kêu lên:
– Lục đệ, chú khỏe không?
Từ phía Tam Giang bang có mấy người tách ra ngăn trở, chỉ nghe ối chà, ối chà, leng keng không dứt, người nào người nấy đều bị đâm trúng huyệt Thần Môn, rơi binh khí. Thần Môn huyệt nằm ngay giữa xương cổ tay, trúng kiếm rồi, tay không còn sử nổi chút nào lực đạo nữa. Ân Lê Đình vừa múa kiếm vừa xông tới, gặp địch thủ ngăn trở, chỉ rung động trường kiếm, nghe keng một tiếng là một món binh khí rơi xuống. Thiếu phụ quay đầu kêu lên:
– Ngươi là Võ Đương ?
Leng keng, leng keng hai tiếng, hai thanh đao rời tay rớt xuống. Trương Thúy Sơn mừng quá, nói:
– Thần Môn Thập Tam Kiếm của sư phụ đã nghĩ ra rồi.
Thì ra Thần Môn Thập Tam Kiếm bao gồm mười ba đường, chiêu số khác nhau, nhưng tất cả đều đâm trúng ngay huyệt Thần Môn ở cổ tay. Mười năm trước khi Trương Thúy Sơn rời núi Võ Đương, Trương Tam Phong đã có ý đó, từng bàn với các đệ tử mấy lần, nhưng còn nhiều chỗ khó khăn chưa vượt qua được. Lúc này Ân Lê Đình sử dụng, những tay hảo thủ của Tam Giang bang không ai đỡ nổi một chiêu. Trương Thúy Sơn hết sức cao hứng, thấy mỗi chiêu Ân Lê Đình tung ra đều hết sức tinh diệu, chỉ mới sử dụng năm sáu đường, Thần Môn Thập Tam Kiếm chưa đi hết một nửa, đã có hơn một chục bang chúng của Tam Giang bang bị rơi binh khí rồi.
Thiếu phụ kêu lên:
– Tát nước, tát nước, mạnh ai nấy đi.
Bang chúng có người thì lên ngựa đào tẩu, có kẻ không kịp thượng mã, chỉ kịp quay mình bỏ chạy. Trương Thúy Sơn giải khai huyệt đạo cho Tuyền Kiến Nam, nhặt đôi xà đầu phán quan bút cài vào lưng y. Tuyền Kiến Nam thẹn đỏ mặt, cắm cúi đi thẳng nhưng không cùng hướng với Tam Giang bang.
Ân Lê Đình tra kiếm vào vỏ, nắm chặt hai tay Trương Thúy Sơn, vui mừng nói:
– Ngũ ca, em nhớ anh biết bao nhiêu mà kể.
Trương Thúy Sơn cười đáp:
– Lục đệ, chú cao lớn quá rồi.
Khi hai người chia tay, Ân Lê Đình mới có mười tám tuổi, mười năm không gặp, từ một thiếu niên dong dỏng gầy gầy đã trở thành một thanh niên vạm vỡ. Trương Thúy Sơn nắm tay Ân Lê Đình đến gặp vợ, Ân Tố Tố đang bệnh nặng, chỉ gật đầu mỉm cười, hạ giọng gọi khẽ:
– Lục đệ.
Ân Lê Đình cười đáp:
– Ngũ tẩu cũng họ Ân, thật là hay lắm, không những là chị dâu, mà cũng là tỉ tỉ của tiểu đệ nữa.
Trương Thúy Sơn nói:
– Nhị ca giỏi thật. Chú ẩn trên ngọn cây cao, ta không biết gì cả, nhị ca đã trông thấy rồi.
Ân Lê Đình bèn kể nguyên do vì sao đến ứng viện. Thì ra tứ hiệp Trương Tùng Khê xuống núi mua sắm các vật dụng cho tiệc thọ bách tuế của sư phụ, thấy có hai tên trong giới giang hồ lén lén lút lút, xem chừng bất chính, trong lòng khởi nghi: ?Phái Võ Đương của ta uy chấn thiên hạ, không lẽ còn có kẻ lớn mật dám đến chân núi vuốt râu hùm??. Chàng bí mật theo dõi, nghe hai người nói chuyện, mới biết Trương Thúy Sơn từ hải ngoại về, đã gặp được nhị sư ca Du Liên Châu, cả Tam Giang bang và Ngũ Phượng đao cùng muốn chặn đường, truy hỏi tung tích của Tạ Tốn. Trương Tùng Khê mừng lắm, lật đật quay về, lúc đó trên núi chỉ còn một mình Ân Lê Đình mà thôi, hai người lập tức chia nhau cứu viện, cùng nghĩ thầm: ?Đã có Du nhị và Trương ngũ cùng ở một nơi, hai cái bang hội, môn phái nho nhỏ đó có kiếm chỉ thêm nhục chứ làm gì được hai người?. Thế nhưng họ cùng muốn gặp lại Trương Thúy Sơn, sớm khắc nào hay khắc nấy nên cùng đi xuống nghênh tiếp. Việc Du Liên Châu bị thương hai gã giang hồ kia đâu có đề cập đến, nên Trương Ân hai người nào có hay biết. Trương Tùng Khê đi đánh đuổi hai tay hảo thủ của Ngũ Phượng đao phái đến, còn bọn Tam Giang bang thì do Ân Lê Đình