Nguyễn Bính – Người đồng hành cô độc

0
493

Đúng là ông luôn hiện lên trong chúng ta, bên chúng ta, cùng tỉ tê chia sẻ nỗi niềm trong một đêm mưa, một ánh lửa chài, trong dáng sông bóng núi. Có ông bên những người tha phương. Có ông bên những người Việt đang yêu từ những năm 1939 cho đến tận hôm nay.

Thơ Nguyễn Bính hay như thế, nhưng một thời được cho là “lãng mạn tiêu cực”, “tiểu tư sản” không được in và phổ biến. Mãi đến khi đất nước thống nhất, thơ Nguyễn Bính được xuất bản, nhiều bạn trẻ mới được đọc. Nhưng trong sổ tay anh Ngô Tấn Ninh, người anh trai yêu thơ của tôi ở làng biển Thượng Luật những năm 60 của thế kỷ trước vẫn chép đầy thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính… Anh tôi giấu cuốn sổ thơ ấy kỹ lắm.

Tôi lớn lên, sổ tay thơ cũng chép đầy thơ Nguyễn Bính – những “Lỡ bước sang ngang”, “Cô lái đò”, “Cô hái mơ”, “Tương tư”, “Chân quê”, “Người hàng xóm”, “Giời mưa ở Huế”, “Hành phương Nam” v.v… Không hiểu mình thành chàng trai trước hay thuộc thơ tình Nguyễn Bính trước! Thật biết ơn ông anh trai si thơ!

Con gái Hà Nội, con gái tỉnh Nam xưa thuộc Kiều và thuộc cả tập thơ “Lỡ bước sang ngang”. Nhà thơ của chúng ta đồng hành với ông thợ cắt tóc, với cô lái đò, các cô gái ngoại ô bơi thúng hái rau bên sông Tô Lịch cho đến các bà các cô trong phòng khuê nhung lụa. Nhà văn Chu Văn kể câu chuyện về Nguyễn Bính và cô lái đò bên bến sông Châu tên Thoa thật cảm động. Nguyễn Bính hàng ngày đi chợ vẫn nhờ đò cô đưa sang. Cô lái không lấy tiền. Và hình như thi sĩ cũng có tặng cô thơ, nên cô rất quí ông. Khi nghe tin Nguyễn Bính mất, cô Thoa đã nấc lên nghẹn ngào, gục mặt lên mái chèo”. Ước chết thay cho thi sĩ!”. Thế mới biết thơ thật diệu kỳ. Qua thơ, nhà thơ đến với mọi người như một người cật ruột, tin tưởng, gửi gắm.

Có lẽ vì có nhiều người đọc, nhiều người thuộc nên Nguyễn Bính là trường hợp nhà thơ hiện đại duy nhất thơ có nhiều dị bản. Khi Nguyễn còn sống, đã có nhiều bài thơ bị in nối dài thêm khổ, thêm câu. Trong Tuyển tập Nguyễn Bính (NXB Văn học, 1986), chỉ riêng 60 bài thơ tuyển từ các tập thơ trước 1945, đã có 24 trường hợp có các đoạn thơ, câu thơ, chữ thơ có các bản in khác nhau, ấy là thơ đã tự nối dài cuộc đời, tự hóa thân để đồng hành được với nhiều tâm trạng. Có một Nguyễn Bính si tình – lại có một Nguyễn Bính thi sĩ của cuộc kháng chiến. Bài hát “Tiểu đoàn 307” phổ thơ Nguyễn Bính từ Nam Bộ chống Pháp đã cùng hành quân với các binh đoàn trong cả nước cho tới những ngày chống Mỹ thắng lợi với giọng hát liêu trai của ca sĩ Quốc Hương.
Đồng hành thân thiết với nhiều thế hệ, nhưng Nguyễn Bính lại là một người cô đơn, cô độc. Ông cô độc cả về cảnh ngộ và tâm trạng thi sĩ, là một lữ khách giang hồ lên Bắc vào Nam. Chỉ trong vòng 15 năm, từ 1939 đến 1954, theo địa danh ghi dưới các bài thơ Nguyễn Bính đã “lăn lóc có dư mười mấy tỉnh” Bắc Giang, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Vinh, Huế, Sài Gòn, lục tỉnh miền Đông. Ông đi và sống được nhờ lưng vốn thơ với tâm tình độc giả mến mộ. Rồi ở trọ một mình, xê dịch một mình. Hồi vô Sài Gòn năm 1939, ông có lúc phải, mà cả ngã giá bán từng câu thơ đăng báo để kiếm sống.

Tiền thì ít nhưng “Vẫn dám tiêu hoang cho đến hết / Ngày mai ra sao rồi hãy hay… (Hành phương Nam). Tiền không có những vẫn trọng thơ hơn tiền, coi khinh bọn định giá văn chương. Theo lời kể của ông Hoàng Tấn (dẫn theo Hà Đình Nguyên – Báo Thanh Niên), ông chủ bút tờ Dân Báo đặt Nguyễn Bính một bài thơ để đăng trên số đặc biêt Tết Giáp Thân (1944). Ông chủ bắt Nguyễn Bính phải sửa đi sửa lại hai câu cuối đến ba lần. Khi báo in ra, Nguyễn Bính đến đòi nhuận bút. Ông chủ báo đưa 10 đồng, Nguyễn Bính chê ít, không nhận.

Nguyễn Bính
Nguyễn Bính

Ông chủ báo nói :”Với các văn sĩ nổi tiếng khác, tôi trả cao lắm cũng chỉ 5 đồng…” Nguyễn Bính lập tức ném xấp tiền xuống đất rồi ra về. Ngay chiều hôm đó, tòa soạn phải cử người đến xin lỗi và đưa cho Nguyễn Bính 50 đồng! Túng tiền, Nguyễn Bính còn bò ra năm ngày chép tay tập thơ Lỡ bước sang ngang với chữ ký của mình để “bán đấu giá”… Kiếp giang hồ, nhiều khi nhà thơ bơ vơ nơi sông khách :

Quê người đứng ngắm mây lưu lạc
Bến cũ nằm nghe sóng lỡ làng
Có lúc đơn chiếc đến tê dại trên sân ga:
Chân bước hững hờ theo bóng lẻ
Một mình làm cả cuộc phân ly

Nguyễn Bính yêu nhiều, yêu si mê, đã hiến cho tình yêu nhiều bài thơ đặc sắc, nhưng ông mãi mãi là người cô đơn trong tình yêu. Nhà văn Tô Hoài kể rằng, ngày trước, Nguyễn Bính đi đâu cũng kè kè cái hộp sắt tây. Loại hộp bánh bích quy, nhưng không đựng bánh mà đựng toàn thư tình, thơ tình. Nguyễn Bính thỉnh thoảng lại mở ra đọc, ngắm rồi lại vuốt lại, xếp lại, đêm ngủ thì gối cái hộp trên đầu. Thì ra những bức thư, là thư tình cũ của các cô nương luôn thề non hẹn biển, có lúc dọa cắt tóc đi tu hay uống thuốc phiện, dấm thanh cho chết (!), nhưng chẳng ai chịu “ăn đời ở kiếp” với nhà thơ nghèo khó!

Nguyễn Bính cắp cái hộp đựng tình yêu cũ ấy đi từ Bắc vào Nam như là một bảo vật! Ông đi cô độc giữa cái mê hồn trận cay đắng ấy, để rồi chạm đến là ngân thành thơ. Một thứ thơ nồng nàn mà se xiết phận người! Ông như người sinh ra cho những duyên kiếp lỡ làng, ông là sự dấn thân cho thơ, cho cái đạo thơ!

Trong hồi ký ” Cát bụi chân ai”, Tô Hoài kể rằng, thời kỳ Nguyễn Bính làm báo Trăm Hoa ở Hà Nội (1956 ) có một người con gái đã đến với ông. Họ có với nhau một mụn con đặt tên là Hiền. Rồi hai người xa nhau. Cô gái mang cậu con trai đến trả cho Nguyễn Bính! Ngày ngày nhà thơ ẵm vác cậu bé một bên vai, như mèo tha con. Một tối kia, Nguyễn Bính say rượu bế con thẫn thờ ra phố.

Rồi không hiểu sao, trong vô thức nhà thơ lại trao con cho một người đàn ông xa lạ đang đi tới. Trở về, cơn say vật Nguyễn Bính thiếp đi. Quá nửa đêm quờ tay không thấy con, lật đật chạy đi kêu cứu bạn bè, mặt mày tái nhợt. Mọi người đổ đi tìm khắp thành phố, đi báo nhờ Công an tìm… Nhưng, đứa con ấy ba chục năm ròng vẫn không tìm thấy… Ôi, cuộc đời nhà thơ sao mà đau khổ, thương tâm thế !

Nguyễn Bính – Người đồng hành cô độc tuyệt vời của chúng ta sinh năm 1918, nếu còn sống, năm nay vào tuổi 90. Ông mất sáng 30 Tết Bính Ngọ, tức ngày cuối cùng của năm Ất Tỵ (20/1/1966). Con người tài tử, từng giang hồ mưa gió bốn phương ấy lại thổ huyết chết vì một luồng gió độc trong vườn tại quê nhà. Lạ thật! Cuối năm 2007, trong đợt về thăm thành phố Nam Định, tôi đã cùng người bạn thân nhạc sĩ Huy Tập về làng Thiện Vịnh, xã Cộng Hoà, Vụ Bản cách Nam Định gần chục cây số viếng mộ Nguyễn Bính. Nguyễn Bính là nhà thơ số một Việt Nam về thơ làng quê đồng bằng sông Hồng. Thắp nhang vái ông, tôi lại nhẩm những câu thơ ông viết về Huế trong đợt hành phương Nam của nhà thơ đầu những năm 40 của thế kỷ trước.

Giời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra suốt mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Trời mờ ngao ngán một loài mây
Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy
Đò vắng khách chơi nằm bát úp
Thu về lại giở gió heo may…
(Giời mưa ở Huế)

Bởi thế về Nam Định đến thắp nhang lạy ông là ý nghĩ đầu tiên của tôi. Một sự trùng hợp rất ý vị là hai hôm trước ở Hà Nội, tại Hội chợ sách quốc tế Vân Hồ, lần đầu tiên tôi gặp và bắt tay nhà văn Nguyễn Bính Hồng Cầu, người con gái miền Nam của thi sĩ. Bây giờ tôi lại đứng bên mộ ông. Mộ nhà thơ được xây ngoài vườn nhà rất khang trang. Trong nhà là bàn thờ, những kỷ vật của Nguyễn Bính. Tôi và Huy Tập thắp nhang lạy Nguyễn Bính rồi ghi vào sổ lưu niệm. Theo Huy Tập kể thì trước đây là ngôi nhà cũ của gia đình, lúc Nguyễn Bính đi xa, người em trai ở.

Để có được ngôi nhà lưu niệm nhà thơ tài hoa, gia đình đã bàn với ông em đi làm nhà ở chỗ khác, để anh em góp tiền sửa sang xây lại ngôi nhà cũ thành nhà lưu niệm nhà thơ Nguyễn Bính. Ở xứ ta mộ nằm giữa làng quê đầm ấm thân thuộc châu thổ Sông Hồng này cũng hạnh phúc lắm lắm. Tiếc là bây giờ những hình ảnh thôn quê trong thơ Nguyễn Bính như đậu mùng tơi, khăn mỏ quạ, quần nái đen v.v… đã thành quá vãng. Các cô gái quê nhà “đi tỉnh”, đi Hà Nội, đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc, Đài Loan… áo phông hở lưng, hở rốn, quần jin lửng, và không bao giờ về làng nữa…

Nguyễn Bính đã sống và viết nhiều thơ về Huế. Trong hai tập “Người con gái lầu hoa” và “Mười hai bến nước” của ông có nhiều bài thơ đặc sắc về Huế, đã trở thành tài sản tâm hồn của mọi người. Người Huế không ai không thuộc đôi đoạn, đôi câu trong các bài “Giời mưa ở Huế”, “Vài nét Huế”, “Người con gái lầu hoa”, “Lửa đò”, “Xóm Ngự Viên” v.v… Nhiều hình ảnh, hình tượng thơ về Huế Nguyễn Bính dùng đã trở thành cổ điển, khó vượt qua. Như các hình ảnh “Giời mưa ở Huế” hay “Cầu cong như chiếc lược ngà…”, “Con đò không chở những người chính chuyên” v.v… và đây là tiếng đàn kỹ nữ xưa:

Đàn ai chừng đứt dây tình
Vẳng lên một tiếng buồn tênh rồi chìm

Từ sau khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, nhiều tập thơ và tuyển thơ Nguyễn Bính lại được in đi in lại, đến với độc giả yêu thơ cả nước. Mới hay cái trường tồn của một thi sĩ là những bài thơ “rút ruột đẻ ra”, những bài thơ “chân quê” nói về cái “tôi trữ tình” của tác giả, “cái tôi” muôn thuở kiếm tìm, khao khát của con người! Thơ Nguyễn Bính nói với tôi nhiều điều tâm đắc về sự được mất trong thơ.

Trong một bức thư gửi bạn Trọng Miên năm 1939, Hàn Mặc Tử đã viết rằng: “Bởi muốn cho Loài thi sĩ làm tròn nhiệm vụ ở Thế gian này – nghĩa là tạo ra những tác phẩm tuyệt diệu, lưu danh lại muôn đời – Chúa Trời bắt chúng phải mua bằng giá máu, luôn có một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình”. Không rên xiết là thơ vô nghĩa lý”. Thi sĩ rơi xuống cõi đời bơ vơ, bỡ ngỡ và lạ lùng. Không có lấy một người hiểu mình…”.

Điều đó đúng với Hàn Mặc Tử và đúng cả với Nguyễn Bính!

Nguyễn Bính lại đồng hành với tuổi trẻ hôm nay và sẽ còn đồng hành với nhiều thế hệ lứa đôi mai sau. Thi sĩ ơi, thi sĩ là người cô độc, nhưng thơ mãi mãi là bạn đồng hành cùng trái tim con người.

Theo quehuongonline
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!