– Diện tích: 5.135,2 km2 – Dân số: 1. 278. 859 người (tính đến 31/12/2004) – Tỉnh lỵ: Thành phố Quảng Ngãi. Một số núi ở Quảng Ngãi được xếp vào danh thắng được các danh nhân xưa đặt cho những cái tên giàu hình tượng như : “Thiên Ấn niêm hà”, “Thiên Bút phê vân”, “La Hà thạch trận”, “Thạch Bích tà dương”,”Vân Phong túc vũ”.

– Các đơn vị hành chính: 01 thành phố; 13 huyện. Trong đó có 01 huyện đảo (Lý Sơn), 06 huyện đồng bằng (Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ), 06 huyện miền núi ( Ba Tơ, Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Tây, Sơn Hà, Minh Long); 180 xã phường, thị trấn (8 phường, 10 thị trấn và 162 xã).

– Dân tộc: Kinh, Hrê, Cor, Ca-Dong.

– Nhiệt độ trung bình năm: từ 25,5o – 26,3 oC, nhiệt độ cao nhất lên đến 41oC và thấp nhất là 12oC

– Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở vùng duyên hải miền Trung, tựa vào dãy Trường Sơn, hướng ra biển Đông (với chiều dài bờ biển 144 Km), phía Bắc giáp Quảng Nam (với chiều dài đường địa giới 98 Km), phía Nam giáp Bình Định (với chiều dài đường địa giới 83 Km), phía Tây Nam giáp Kon Tum (với chiều dài đường địa giới 79 Km). Quảng Ngãi có quốc lộ 1A chạy qua tỉnh, cách Hà Nội 883km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 838 km về phía Bắc; quốc lộ 24A nối Quảng Ngãi với Tây Nguyên, Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan. Bờ biển với nhiều bãi tắm và phong cảnh đẹp.

Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở toạ độ địa lý:

– Từ 14°31 đến 15°25 vĩ độ Bắc.
– Từ 108°14 đến 109°05 kinh độ Đông

Loading...

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

Chiều dài của tỉnh Quảng Ngãi (theo hướng Bắc Nam) khoảng 100km, chiều rộng (theo hướng Đông Tây) hơn 60 km; cao độ đồng bằng so với mặt nước biển là 8m.

– Diện tích tự nhiên 5.137,6 km² (chưa tính thềm Lục địa). Diện tích canh tác có 75.844 Ha.

– Giống như các tỉnh ven miền Trung, địa hình có dạng đẳng thước, được chia thành 4 vùng rõ rệt: vùng Rừng núi, vùng Trung du, vùng Đồng bằng, vùng bãi cát ven biển và Hải đảo.

– Quảng Ngãi có nhiều rừng núi 391.192 ha, chiếm gần 2/3 diện tích đất đai trong tỉnh, tạo thành hình vòng cung, hai đầu nhô sát ra biển, ôm chặt lấy đồng bằng. Ở phía Tây Bắc và Tây Nam sông Trà Khúc, các khối núi đều có độ cao từ 1000

– 1600m như núi Cà Đam (cao 1600m), núi Đá Vách (cao 1500m), núi U Bò (cao 1100m), núi Cao Muôn (cao 1085m), quanh năm mây phủ. Các vùng khác núi thường có độ cao 400 – 600m còn ở vùng giáp đồng bằng núi chỉ có độ cao 200 – 300m.

Một số núi ở Quảng Ngãi được xếp vào danh thắng được các danh nhân xưa đặt cho những cái tên giàu hình tượng như : “Thiên Ấn niêm hà”, “Thiên Bút phê vân”, “La Hà thạch trận”, “Thạch Bích tà dương”,”Vân Phong túc vũ”. Vùng núi rừng Quảng Ngãi là một địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự, là căn cứ địa Cách mạng gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân Quảng Ngãi.

Quảng Ngãi có 4 con sông chính, lớn nhất là sông Trà Khúc dài 120km, phát nguồn từ núi Đắc Tơ Rôn với đỉnh cao 2.350m do hợp nước của 4 con sông lớn là Sông Rhe, sông Xà Lò, sông Rinh, sông Tang, chảy xuống hướng Đông qua ranh giới các huyện Sơn Hà, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Thành phố Quảng Ngãi và đổ ra cửa Đại. Sông Vệ dài 80km phát nguồn từ vùng rừng núi phía bắc huyện Ba Tơ, thượng nguồn gọi là sông Liên chạy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, xuyên qua các huyện Ba Tơ, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Tư Nghĩa và đổ ra cửa Lở và cửa Cổ Lũy. Sông Trà Bồng dài 55km phát nguồn từ vùng Thanh Bồng (Trà Bồng), chảy xuyên qua Huyện Trà Bồng và Huyện Bình Sơn và đổ ra cửa Sa Cần. Sông Trà Câu dài 40km phát nguồn từ vùng Hồng Thuyền, Vực Liêm (phía nam đèo Đá Chát) chảy xuyên qua huyện Đức Phổ để ra cửa biển Mỹ Á. Ngoài 4 con sông nói trên, Quảng Ngãi cón có các con sông nhỏ như Trà Ích (Trà Bồng), sông Cái (Tư Nghĩa), sông Phước Giang (Nghĩa Hành), sông La Vân (Đức Phổ).

Bờ Biển Quảng Ngãi dài 130 km chia thành 3 đoạn:

– Đoạn 1 từ mũi Nam Trân đến mũi Ba Làng An

– Đoạn 2 từ mũi Ba Làng An đến mũi Sa Huỳnh

– Đoạn 3 từ mũi Sa Huỳnh đến mũi Kim Bồng

Bờ biển Quảng Ngãi với 6 cửa sông thuận lợi cho việc tàu thuyền cập bến:

– Cửa Sa Cần ở phía Đông Bắc huyện Bình Sơn. Phía Bắc có vũng Dung Quất ( kế hoạch tại đây xây dựng thành khu công nghiệp phức hợp và cảng biển lớn nhất miền Trung – Khu kinh tế Dung Quất, đây cũng là nơi Nhà máy lọc dầu số 1 của Việt Nam được xây dựng).

– Cửa Sa Kỳ nằm lọt giữa phía Đông Nam huyện Bình Sơn và phía Đông Bắc huyện Sơn Tịnh, giữa hai xã Bình Châu và Tịnh Kỳ, có lạch ngầm sâu dài khoảng hơn 1km được xây dựng thành một cảng biển của tỉnh.

– Cửa Cổ Luỹ (Cửa Đại) là nơi hai con Sông Trà Khúc và Sông Vệ đổ về. Cửa biển hẹp nhưng có vũng sâu, tàu từ 50 tấn đến 70 tấn có thể ra vào được, trước đây là cửa biển chính của tỉnh.

– Cửa Lở nằm giữa hai xã Nghĩa An (Tư Nghĩa) và Đức Lợi (Mộ Đức). Cửa biển hẹp và cạn.

– Cửa Mỹ Á ở phía Đông Bắc huyện Đức Phổ, cửa biển hẹp tàu thuyền khó đậu.

– Cửa Sa Huỳnh ở phía Đông Nam huyện Đức Phổ cửa biển hẹp.

ĐỊA HÌNH

Quảng Ngãi nằm ở miền Trung Trung bộ, có nhiều núi đồi cao, gò, thung lũng có những cánh đồng lúa, mía và biển cả chia làm các miền riêng biệt:

– Miền núi : Rộng gần bằng 2/3 diện tích toàn tỉnh. Miền nầy thuộc loại đất núi có nhiều đá, khả năng khai thác kém. Núi cao hiểm trở, rừng rậm bao la nơi có lâm sản dồi dào, đặc biệt có quế Trà Bồng, một lâm sản quý. Quảng Ngãi có nhiều núi cao như núi Cà Đam tục gọi “Hòn Ông, Hòn Bà” cao độ 1.600m ngăn cách Sơn Hà và Trà Bồng; về phía tây bắc có núi Đá Vách (Thạch Bích) cao độ 1.500m ngăn cách Sơn Hà và Minh Long, núi U Bò cao độ 1.200m. Núi cao trung bình 700m như núi Cao Môn ở ngoài Trường Luỹ phía tây Huyện Đức Phổ.

Các núi ở Quảng Ngãi có một số liệt vào hạng danh sơn, được vịnh làm thắng cảnh như : Thiên Ấn, Thiên Bút, Thạch Bích, Vân Phong …

Núi Thiên Ấn được ghi vào từ điển, hình núi được chạm vào di đỉnh, hiện trên núi còn di tích cửa Tam Quan của ngôi Tổ Đình. Núi Thiên Bút còn dấu tích nền ngôi chùa cổ, núi Thạch Bích (tục danh núi Đá Vách) được vịnh là Thạch Bích Tà Dương.

– Miền đồng bằng: đất đai phần lớn là phù sa do các sông bồi lên thành phần cát khá cao của đất với sự xói mòn huỷ phá do thời tiết mưa nắng đặc biệt ở Quảng Ngãi, người ta thấy rằng chất đất ở đây tương đối nghèo, sự thoát thuỷ lại khá nhanh, thêm vào đó sự khô hạn kéo dài chứng tỏ một sự thiếu nước trong nhiều tháng của năm, một mầu sắc nhạt ở bề mặt đất cho biết sự thiếu chất bùn. Tuy nhiên, Quảng Ngãi còn có nhiều vùng ruộng rộng, thích hợp cho việc cày cấy, nhờ thế nước của các sông lớn phát nguồn từ dãy Trường Sơn chảy xuyên qua đồng bằng rồi ra biển.

Lưu lượng của các dòng sông biến đổi theo mùa. Về mùa nắng, lòng sông khô cạn, trái lại mùa mưa, những cơn mưa dầm nặng hạt trên dãy Trường Sơn làm cho nước đổ xuống các dòng sông khiến mực nước dâng cao, đột ngột lan tràn vào các vùng đất xung quanh.

– Hải đảo Lý Sơn :

“Ngó ra lao Ré xanh xanh”

Về phía Đông Bắc Quảng Ngãi, cách đất liền 24 km, vĩ độ bắc 15’40 và kinh độ 19′ có hải đảo Lý Sơn tục gọi là Cù Lao Ré vì trước kia có nhiều cây Ré dùng làm dây rất dai và bền.

Hải đảo hình đa giác không đều cạnh, chiều dài lớn nhất 7 km, chiều ngang 3 km, diện tích ước chừng 19 km2, hình ảnh nổi bật của hải đảo này là con đường dài 2 bên có những hàng rào bông bụt đổ nhô lên giữa lá xanh, những khoảnh đất bồi nhưng được phủ cát trắng, trên máy bay trông nhưng rộng muối; mầu xanh bãi biển hòa với màu xanh của rừng chuối bao la dưới chân 5 quả núi gọi là Ngũ Linh : Hòn Tai, Hòn Tiên, Hòn Vung, Hòn Sỏi, núi Thái Lới cao hơn hết ước 100m, đêm đêm có ánh đèn pha của hải đăng rọi thành chữ X sáng cả vùng chân núi.

Núi chiếm 1/4 diện tích của đảo, bốn phái cao, ở giữa trũng thấp, có đồi rẫy nằm vào khoảng giữa núi.

KHÍ HẬU – THUỶ VĂN

Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa. Nhiệt độ trung bình 250 đến 26,90C, thượng tuần tháng 7 và tháng 8 nóng không quá 340 C, thượng tuần tháng giêng lạnh nhất không dưới 180C.

Thời tiết Quảng Ngãi được chia làm 2 mùa: mưa, nắng rõ rệt.

– Mùa nắng: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng 8 âm lịch.

– Mùa mưa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến thượng tuần tháng giêng âm lịch.

– Gió mùa: Từ hạ tuần tháng giêng âm lịch đến tháng 8 âm lịch, gió thổi từ Đông Nam qua Tây Bắc, hết sức mát mẻ dễ chịu gọi là gió Nồm.

Khí hậu Quảng Ngãi có nhiều gió Đông Nam ít gió Đông Bắc vì địa hình địa thế phía nam, hơn nữa do thế núi địa phương tạo ra.

Quảng Ngãi có mưa đặc biệt. vũ lượng trung bình hằng năm 2.198 mm nhưng chỉ quy tụ vào 4 tháng cuối năm còn các tháng khác thì khô hạn.

Trung bình hằng năm mưa 129 ngày, nhiều nhất vào các tháng 9, 10, 11, 12. Sự phân phối vũ lượng không đều cũng như sự kéo dài mùa khô hạn rất có hại cho cây cối, đất đai và gây khó khăn cho việc dẫn thoát thuỷ. Đặc biệt ở Quảng Ngãi các trận bão chỉ thể xảy ra trong khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 dương lịch nhất là hai tháng 10 và 11.

Theo vietnamculture
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo