Từ khi được truyền bá vào Việt Nam, Phật giáo luôn song hành với văn hóa và phát triển, Phật giáo trong xã hội Việt Nam xưa và nay vận hành theo một nguyên lý sống tốt đời đẹp đạo.

Cư trần lạc đạo – đó chính là nguyên lý hình thành trong lịch sử văn hóa dân tộc kể từ khi các tôn giáo xuất hiện ở Việt Nam. Với Phật giáo, nguyên lý ấy được thể hiện rõ trong phương châm: Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội. Trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển ở Việt Nam, phương châm ấy đã trở thành tôn chỉ và mục đích, định hướng cho mọi hoạt động của Phật giáo. Điều này giải thích vì sao Phật giáo lại đóng vai trò quan trọng và luôn gắn liền với lịch sử văn hóa dân tộc Việt Nam.

Phật giáo không phải chỉ là tôn giáo thuần thúy, mà Phật giáo còn là đạo đức, là trí tuệ. Nó không những tạo ra tư tưởng khoan hòa, nhân ái trong chính sách an dân trị quốc của các vương triều Lý, Trần thời văn hóa Đại Việt, mà còn góp phần rất quan trọng trong việc định hình lối sống, phong tục, chuẩn mực giá trị văn hóa Việt Nam.

Người sáng lập đạo Phật là Thái tử Tất Đạt Đa, Đức Thích Ca Mâu Ni (563-483 Tr. CN).Với tư cách là một tôn giáo đề cao nếp sống đạo đức trong sáng, giản đơn trong hình thức lễ nghi, Phật giáo đã tìm được con đường đến với trái tim nhân loại. Đó là bản chất của đạo Phật và đó chính là sức mạnh của đạo Phật, là lý do để Phật giáo trở thành một trong ba tôn giáo lớn của thế giới, ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống văn hóa xã hội loài người. Mục đích của Đức Phật khi xuất hiện ở thế gian là vì hạnh phúc của chúng sinh, là giải thoát cho con người khỏi bất hạnh và khổ đau, đem đến cho con người sự an lành, đem đến thế giới hòa bình. Cho nên con đường mà Phật giáo đi đến trái tim nhân loại là con đường tự nguyện, Phật giáo trở thành tôn giáo bình dân với ý nghĩa giản dị và sâu sắc nhất của nó.

Khi đến với Việt Nam trong buổi bình minh của lịch sử, Phật giáo đã tìm đến với văn hóa dân gian để kết thành duyên nợ, từng bước tạo được chỗ đứng trong tâm thức nhân dân bằng truyền thuyết Man Nương kỳ bí và huyền ảo. Sự gặp gỡ giữa Phật giáo với tín ngưỡng dân gian bản địa đã giúp cho Phật giáo gắn bó và đồng hành với đất nước Việt Nam, con người Việt Nam. Bởi văn hóa dân gian là sản phẩm sáng tạo của nhân dân, kết tinh trí tuệ, thể hiện khát vọng và tâm tư tình cảm của nhân dân. Tìm đến với văn hóa dân gian, kết hợp với tín ngưỡng dân gian là Phật giáo đã tìm đến với nguồn cội của văn hóa dân tộc, tìm đến với sức sống và bản sắc của văn hóa Việt Nam.

Phật giáo ở Việt Nam là sản phẩm của sự giao lưu, tiếp biến trong văn hóa Việt – Ấn nên ngay từ điểm khởi đầu ấy nó đã đặt ra mối quan hệ tương tác biện chứng giữa văn hóa và tôn giáo. Quá trình truyền giáo và phát triển của đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam một mặt chịu sự tác động và chi phối của đặc trưng văn hóa, mặt khác nó tác động vào chính văn hóa Việt Nam mà kết quả là Phật giáo sẽ thích ứng chọn lọc, hội nhập với nền văn hóa, được làm phong phú và sâu sắc thêm bởi các giá trị văn hóa bản địa. Phật giáo sẽ bổ sung cho văn hóa, thúc đẩy văn hóa phát triển, làm xuất hiện một nền văn hóa Phật giáo của Việt Nam, khác với Phật giáo ở Trung Quốc hay Ấn Độ cổ đại. Bản chất của Phật giáo là từ bi, trí tuệ; bản nguyện Phật giáo là giác ngộ, giải thoát; bản hạnh Phật giáo là hòa bình, giáo dục và từ thiện. Phật giáo giàu tính nhân bản, rất phù hợp với nền văn hóa bản địa nên nó nhanh chóng được người Việt đón nhận và ghi dấu ấn của mình trong tư tưởng của người Việt Nam.

Từ khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, các vị tiền bối đã khai thác tính tích cực của giáo lí để phục vụ cho việc dựng nước và giữ nước của dân tộc. Khi Phật giáo đạt tới mức cực thịnh ở nước ta dưới triều Lý, các vua nhà Lý đã lấy đạo Phật làm quốc đạo. Tôn người đạo cao đức trọng nhất trong Giáo hội làm Quốc sư để vấn kế hưng nước, an dân. Nhờ đó mà kinh tế, văn hóa, đạo đức, xã hội phát triển mạnh.

Loading...

Và một khi đã thấm sâu vào tín ngưỡng của nhân dân, Phật giáo sẽ có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống văn hóa người dân. Các ngôi chùa không chỉ mang yếu tố tâm linh mà trở thành trung tâm văn hóa giáo dục trong các làng xã. Trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, Phật giáo đứng về phía những người yêu nước. Có những tín đồ Phật giáo đã trực tiếp lãnh đạo nhân dân đứng lên làm cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc như cuộc khởi nghĩa của Lý Phật Tử cuối thế kỷ VI, đầu thế kỉ VII. Như vậy là Phật giáo Việt Nam, trong những bước phát triển đầu tiên, đã nhập thân vào dân tộc.

Do vai trò của Phật giáo trong lòng văn hóa dân tộc như vậy, nên khi nền độc lập của Việt Nam được giành lại trong thế kỷ X, Phật giáo đã có một vị thế to lớn trong xã hội. Từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV là giai đoạn phát triển cực thịnh của Phật giáo Việt Nam, mà đỉnh cao là trong hai triều đại Lý (1010 – 1025) và Trần (1225 – 1400), Phật giáo trở thành quốc giáo.

Chùa tháp mọc lên khắp nơi trong đất nước. Ở những tỉnh miền núi của Việt Nam như Yên Bái, Lào Cai, Bắc Cạn, Tuyên Quang, Hà Giang, các nhà khảo cổ học đã tìm đượcvết tích ngôi chùa cổ trong thời kì này. Điều đó chứng tỏ lúc bấy giờ, Phật giáo không chỉ thâm nhập ở đồng bằng mà còn len lỏi cả và các dân tộc thiểu số trên khắp đất nước Việt Nam.

Đặc biệt từ sau thế kỉ X, cùng với việc giành lại chủ quyền đất nước, văn hóa Việt Nam bước vào một thời kì phát triển rực rỡ, bừng lên như một cuộc hồi sinh hay phục hưng. Và Phật giáo Việt Nam cũng đóng một vai trò không nhỏ trong thời kỳ này.

Gắn bó với văn hóa dân tộc, song hành cùng lịch sử văn hóa, Phật giáo xưa và nay vẫn luôn có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc bảo vệ nền độc lập chủ quyền dân tộc. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, các tăng ni phật tử cũng xuống đường đấu tranh đòi độc lập cho dân tộc, hòa bình cho cuộc sống của muôn dân. Phật giáo đã đứng về phía nhân dân trong cuộc đấu tranh chính nghĩa là bởi Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội là một thể thống nhất, biện chứng, không tách rời.

Như vậy, Phật giáo đã khẳng định được vị thế của mình trong nền văn hóa dân tộc. Với tư cách là một phương diện văn hóa, Phật giáo có khả năng thâm nhập vào nhiều mặt của đời sống xã hội như: chính trị, văn học, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội…

Văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa mở, một mặt bảo vệ bản sắc dân tộc để nhất quán với chính mình, mặt khác không chối từ những ảnh hưởng tích cực của các yếu tố văn hóa ngoại sinh, khoan dung tôn giáo cũng chính là khoan dung văn hóa, bởi tôn giáo là sản phẩm của văn hóa, là thành tố văn hóa. Phật giáo trở thành cầu nối tiếp xúc văn hóa để Việt Nam vươn ra thế giới trong hội nhập toàn cầu. Không chỉ cung cấp hệ tư tưởng cho các triều đại phong kiến Việt Nam mà Phật giáo còn góp phần đào tạo nhân tài cho đất nước, chỉ ra con đường tu thân cho mỗi con người thông qua tứ diệu đế và bát chính đạo, nó góp phần điều chỉnh hành vi con người theo chuẩn mực chân thiện mỹ. Tinh thần nhập thế của Phật giáo ở Việt Nam là lí do gắn kết Phật giáo với dân tộc, với văn hóa và phát triển trong quá khứ – hiện tại – tương lai.

Giá trị của văn hóa Phật giáo luôn giữ một vị thế quan trọng trong tổng thể văn hóa ViệtNam. Sự hiện hữu của Phật giáo qua mấy nghìn năm lịch sử góp phần làm nên bản sắc của dòng giống Lạc Hồng. Phật giáo với bản chất là trí tuệ, là từ bi, sẽ tiếp tục phát huy vị thế linh hoạt, nhạy bén của mình theo phương châm tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam để cùng đồng hành với dân tộc, thực hiện nhiệm vụ chắt lọc và kết tinh những giá trị văn hóa tiên tiến trở thành một phần hồn cốt tinh hoa của dân tộc Việt Nam.

Theo baotanglichsu
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo