Đồng chí Lê Duẩn (1907-1986) tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ra trong một gia đình nông dân tại làng Bích La Đông, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).

Cha ông là Lê Hiệp, làm nghề mộc. Mẹ ông là Võ Thị Đạo, làm ruộng. Sau đó, ông theo gia đình về sinh sống tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành cùng huyện, ở bên kia dòng sông Thạch Hãn.

Do ảnh hưởng của quê hương, làng xóm và nhất là tình thương vô hạn của người mẹ mẫu mực, ngay từ thuở thiếu niên, Lê Văn Nhuận đã tỏ ra là một người trung thực, giàu lòng nhân ái.

Năm 1923, Lê Văn Nhuận thi tiểu học. Hồi đó ở Hậu Kiên chỉ có 4 người học ở trường tỉnh. Lê Văn Nhuận là người học trò đầu tiên ở Hậu Kiên tốt nghiệp trường Tiểu học Pháp – Việt Quảng Trị. Sau khi thi đậu bằng tiểu học, nhóm học sinh Hậu Kiên mỗi người đi học một nghề. Lê Văn Nhuận vào Huế chuẩn bị thi vào trường Quốc học. Trong thời gian chuẩn bị thi, Lê Văn Nhuận mắc bệnh thương hàn, mọi người khuyên anh không nên đi thi nữa. Không nản chí, tuy mới ốm dậy, sức khỏe còn yếu, thời gian ôn thi không được nhiều, nhưng anh vẫn dự thi nên không đỗ chính thức và chỉ được học dự thính. Hết thời gian học dự thính, không được chuyển lên chính thức, anh tiếp tục ở lại Huế để ôn luyện, chuẩn bị cho kỳ thi sau.

Tháng 11-1925, thực dân Pháp mở phiên tòa xửa cụ Phan Bội Châu. Cụ Phan bị tòa tuyên án tử hình. Cả nước dấy lên phong trào giảm án cho cụ Phan Bội Châu. Học sinh Huế tích cực hưởng ứng. Lê Văn Nhuận hòa mình vào phong trào chung của tuổi trẻ. Sau phong trào đấu tranh đòi giảm án cho cụ Phan Bội Châu, anh trở về quê để chuẩn bị cho những chuyến đi xa.

Trở về quê hương, hằng ngày tiếp xúc với cuộc sống vất vả của bà con lối xóm, nỗi thương dân lại càng thêm nhức nhối. Phải làm gì để thay đổi cuộc đời, cho mọi người đỡ khổ? Nỗi day dứt cứ lớn dần trong anh, đeo đuổi, giày vò và thúc giục không nguôi. Quê hương, gia đình và khát vọng tuổi xuân đã thúc giục anh ra đi, tìm đến những chân trời rộng mở. Anh đã chọn Đà Nẵng làm nơi tạm dừng chân vì trong những năm này ngành thương mại Đà Nẵng đang phát triển, cần tuyển nhiều công nhân kỹ thuật. Những người có bằng tiểu học có thể dễ dàng xin việc làm ở các công sở của Pháp.

Tháng 5-1926, Lê Văn Nhuận được tuyển vào làm tại Hỏa xa Đà Nẵng. Ở Đà Nẵng, anh Nhuận gặp nhiều thanh niên cũng như anh đang có chí hướng và hoài bão được góp sức mình làm thay đổi cuộc sống của những người dân lao động.

Loading...

Năm 1927, đoạn đường sắt Vinh – Đông Hà được khánh thành nối liền Đà Nẵng với Hà Nội. Là nhân viên nhà ga, Lê Văn Nhuận được cử ra Hà Nội. Anh coi đây là một dịp tốt để mở rộng tầm nhìn và hòa vào phong trào cách mạng sôi động của công nhân và các phong trào yêu nước ở Hà Nội. Để làm vui lòng cha mẹ, anh đồng ý xây dựng gia đình riêng với chị Lê Thị Sương, con gái một gia đình khá giả ở thôn Bích La Đông. Ở nhà được ba ngày, anh xin phép gia đình trở lại Đà Nẵng để làm các thủ tục, giấy tờ chuyển ra Hà Nội. Nhóm ái quốc ở Đà Nẵng lưu luyến chia tay Lê Văn Nhuận. Cũng vào thời điểm đó, anh lấy tên là Lê Duẩn.

Tại Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn làm nhân viên thư ký đềpô thuộc Sở Hỏa xa Đông Dương. Cuốn năm 1928, đồng chí Lê Duẩn chính thức gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng và sinh hoạt cùng tiểu tổ với các đồng chí Nguyễn Tuân Thức, Nguyễn Hữu Phước ở khu vực ga. Đồng chí được phân công tuyên truyền, vận động thanh niên khu vực các ga Hà Nội, Gia Lâm. Vừa hoạt động, đồng chí vừa say mê tìm đọc thêm tài liệu, sách báo để mở rộng tầm nhìn. Đồng chí Lê Duẩn được tiếp xúc với những tài liệu của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, được đọc Đường Cách mệnh, báo Thanh niên, gặp gỡ nhiều khuôn mặt mới.

Năm 1929, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tổ chức vẫn phân công đồng chí Lê Duẩn phụ trách công tác vận động, tuyên truyền anh em công nhân ngành đường sắt. Đồng chí tích cực tham gia gây dựng thêm nhiều cơ sở trong giới thợ thuyền, thanh niên, bà con lao động và phát động đấu tranh.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, phong trào đấu tranh cách mạng ở Hà Nội có thêm những nhân tố mới – chuẩn bị tiến tới cao trào cách mạng sôi nổi trong cả nước trong những năm 1930-1931, mà đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh. Đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ, Bí thư Thành ủy Hà Nội đã tiếp nhận đồng chí Lê Duẩn về sinh hoạt tại Đảng bộ thành phố. Từ một thanh niên giàu lòng yêu quê hương đất nước và mang nặng nỗi đau đồng loại, đồng chí Lê Duẩn sớm trở thành một chiến sĩ cộng sản.

Sau Hội nghị Trung ương Đảng tháng 10-1930, một số cơ quan chuyên môn của Trung ương và Xứ ủy được củng cố lại. Đồng chí Lê Duẩn được phân công là Ủy viên Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ. Từ đó, đồng chí Lê Duẩn rời Sở Hỏa xa Đông Dương và bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng chuyên nghiệp.

Tháng 4-1931, Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ chủ trương phát động phong trào quần chúng đấu tranh mạnh mẽ ở Hà Nội, Hải Phòng trong dịp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1-5-1931. Đồng chí Lê Duẩn chịu trách nhiệm lãnh đạo và tổ chức cuộc đấu tranh tại các xí nghiệp sản xuất công nghiệp và các khu lao động ở Hải Phòng.

\Ngày 20-4-1931, đồng chí Lê Duẩn cùng với các đồng chí trong Ban Tuyên huấn Xứ ủy Bắc Kỳ bị thực dân Pháp bắt tại ngôi nhà số 8, ngõ Quảng Lạc. Sau khi bị bắt, đồng chí Lê Duẩn bị tạm giam ở Sở Mật thám Đông Dương rồi Nhà tù Hỏa Lò Hà Nội. Tại đây, Lê Duẩn gặp lại nhiều đồng chí, bạn bè đã từng gắn bó trong buổi đầu đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng con người như các đồng chí: Nguyễn Tạo, Nguyễn Tuân Thức, Ngô Đình Mẫn, Trần Học Hải, Nguyễn Đức Cảnh, Trần Văn Lan, Trịnh Đình Cửu, Khuất Duy Tiến, Trần Văn Cung, Bùi Vũ Trụ…

Ngày 15-11-1931, Hội đồng đề hình thực dân Pháp kết án 102 tù nhân, trong đó có 86 chiến sĩ cộng sản. Đồng chí Lê Duẩn bị kết án 20 năm cầm cố. Giữa tháng 12-1931, thực dân Pháp chở 75 tù nhân, phần lớn là những chiến sĩ cộng sản, xuống Hải Phòng để đày ra Côn Đảo. Đồng chí Lê Duẩn cùng đi với các đồng chí Khuất Duy Tiến, Lê Thanh Nghị, Trần Quý Kiên, Nguyễn Tuân Thức. Địch đưa cả đoàn tù vào giam trong nhà lao Hải Phòng. Tuy nhiên chưa có tàu đi Côn Đảo, cả đoàn tù bị cùm chân suốt một tháng rồi lại bị đưa về Hỏa Lò.

Đến năm 1933, thực dân Pháp lại đày các tù nhân ra Côn Đảo. Tại Nhà tù Côn Đảo, đồng chí Lê Duẩn bị giam tại phòng giam số 3 bên đề lao II. Tại đây, đồng chí Lê Duẩn được tiếp xúc với những đồng chí ưu tú, những cán bộ xuất sắc của phong trào cách mạng đã bị đày ra từ trước như các đồng chí: Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Linh, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng…

Năm 1936, đồng chí Lê Duẩn được trả tự do, từ Côn Đảo trở về Quảng Trị, đồng chí nhanh chóng liên lạc với các đảng viên và quần chúng cách mạng để tiếp tục hoạt động ở Trung Kỳ. Tháng 3-1938, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ. Năm 1939, ông được bầu vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Tháng 11-1939, tham dự Hội nghị Trung ương lần thứ 6.

Năm 1940, ông bị thực dân Pháp và đưa về giam giữ tại Khám lớn Sài Gòn, bị kết án 10 năm tù và đày ra Côn Đảo lần thứ 2. Năm 1945, lần thứ hai rời Nhà tù Côn Đảo, đồng chí trở về Nam Bộ. Sự tham gia của đồng chí Lê Duẩn và các cựu tù chính trị Côn Đảo đã góp phần không nhỏ vào việc củng cố và tăng cường cơ quan lãnh đạo của Đảng ở Nam Bộ cả về tư tưởng và tổ chức.

Lúc này, cuộc kháng chiến ở Nam Bộ đang trong thời kỳ gay go, lực lượng cách mạng còn mỏng, lại phân tán. Năm 1946, Đại hội Đảng bộ Xứ ủy Nam Bộ được triệu tập, đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư Xứ ủy. Trên cương vị này, đồng chí đã đề ra một loạt chủ trương quan trọng: mở rộng chiến tranh nhân dân; thực hiện dân chủ ở nông thôn, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và địa chủ Việt gian phản động, tạm cấp cho dân cày nghèo; chỉ đạo phong trào đấu tranh ở đô thị; đặc biệt là tăng cường công tác xây dựng Đảng…

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951), đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Trên cương vị Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã thay mặt Trung ương Đảng và Bác Hồ, trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến ở Nam Bộ, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung của cả nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đồng chí tiếp tục ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng. Trong những năm tháng vô cùng gian khổ, khó khăn dưới chế độ độc tài Mỹ-Diệm, đồng chí đã vượt qua bao gian nan, nguy hiểm, đi khắp các địa bàn Nam Bộ để nắm bắt tình hình, củng cố các cơ sở cách mạng, suy nghĩ và dự thảoĐề cương cách mạng miền Nam. Đề cương đã dấy lên niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng trong đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, và là cơ sở để Đảng ta đề ra đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam trong những năm tiếp theo.

Giữa năm 1957, đồng chí được Trung ương điều ra Hà Nội công tác bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh để chuẩn bị cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng.

Tháng 9-1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.

Tại các Đại hội toàn quốc lần thứ IV (12-1976) và lần thứ V (3-1982), ông tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cũng đảm nhiệm chức Bí thư Quân ủy Trung ương từ năm 1978 đến năm 1984.

Với cương vị là người đứng đầu Ban Chấp hành Trung ương suốt 26 năm liền, đồng chí Lê Duẩn đã góp phần quan trọng cùng với Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng hoạch định, hoàn thiện đường lối và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh nhân dân của Đảng ta.

Cùng với sự chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tập trung suy nghĩ về con đường đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xuất phát từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, cơ sở vật chất – kỹ thuật nhỏ bé, để tìm ra hình thức, biện pháp, bước đi thích hợp.

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tại các Đại hội toàn quốc của Đảng lần thứ IV (12/1976), lần thứ V (3/1982) và nhiều Hội nghị Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với Đảng ta từng bước xây dựng một hệ thống quan điểm về cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Cuộc đời đồng chí Lê Duẩn là một tấm gương cao đẹp của một chiến sĩ cộng sản kiên cường, quả cảm, luôn nêu cao tinh thần cách mạng tiến công; một nhà lãnh đạo có bản lĩnh và tài năng; một con người trung thực và giản dị, có tình cảm sâu sắc đối với đồng chí, đồng bào.

Theo baotanglichsu
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo