Đạo Tưởng tên thật là Lâm Văn Quốc, tự Ba Quốc, con của ông Lâm Văn Ngươi và bà Nguyễn Thị Nhỏ, quê ở huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Tại vùng đất Giá Rai, vào đầu thế kỷ XX đã xảy ra một sự kiện gây chấn động cả nước, có ý nghĩa sâu sắc trong lịch sử đấu tranh giữ đất của những người đi khai hoang. Năm 1928, tại đồng Nọc Nạn nổ ra cuộc quyết chiến đẫm máu giữa những người nông dân giữ lúa, giữ đất- anh em ông bà Mười Chúc chống lại những tên cướp lúa, cướp đất- bọn địa chủ cấu kết với thực dân Pháp. Sự kiện này xảy ra trên sân phơi lúa của gia đình ông Mười Chúc làm chết 17 người trong gia đình ông bà Tám Luông (song thân ông Mười Chúc). Sau đó, Tòa án Sài Gòn đã xử những người nông dân thắng kiện.

Thuở nhỏ, nhà nghèo, Lâm Văn Quốc chỉ học đến hết tiểu học. Nhờ lao động từ nhỏ, khi lớn lên, Ba Quốc có thân hình vạm vỡ. Cùng với nhiều trai tráng trong vùng, ông luyện tập võ nghệ để có cơ hội đem ra giúp đời. Lớn lên gặp lúc giặc Pháp xâm lược quê hương, bọn cường hào ôm chân Pháp hà hiếp nhân dân, trong đó có vụ đồng Nọc Nạn, Ba Quốc bỏ xứ ra đi để thỏa chí bình sinh. Ông thích giao du với các hảo hán, học võ “Thiếu lâm tự”, ông lưu lạc sang đất Cao Miên, qua Ai Lao, Xiêm La để học võ, học bùa ngải. Sau này, khi đã thành Đạo Tưởng, có trong tay cả vạn tín đồ, xưng vương, xưng bá ở vùng đất Tân Châu, ông thường hay kể lại rằng trong quá trình “tầm sư học đạo” ông đã gặp những sư phụ có võ công thâm hậu, dạy cho ông những phép thuật vô song; cụ thể ở Cao Miên học được phép thuật đạn bắn không thủng người, ở Ai Lao học được phép dùng mắt thôi miên thu phục người khác, ở Xiêm La học được tài biết về quá khứ và tương lai…

Sau khi trở về đất Tân Châu, Ba Quốc cai quản sở ruộng cho gia đình người cậu ruột của mình là ông Nguyễn Chánh Sắt (1869-1947), người có tiếng trong làng văn, làng báo ở Nam kỳ thời bấy giờ, một thời là chủ bút của tờ “Nông cổ mín đàm”(uống trà bàn chuyện làm ruộng và đi buôn) – tờ báo được coi là có khuynh hướng tiến bộ lúc bấy giờ – bằng các dịch phẩm chuyện Tàu. Do được sống trong không gian chuyện Tàu của người cậu ruột, bị ảnh hưởng cùng với dòng máu võ thuật trong người, Ba Quốc bắt đầu hành động theo mô típ của chuyện Tàu. Tương truyền, một đêm trời đất âm u, bỗng dưng Lâm Văn Quốc cảm thấy trong người bần thần. Sau đó ông bắt đầu la hét, đấm ngực, đụng đầu vào cột nhà, tự xưng lúc là “ Ông tướng núi” khi là “Ông Lèo” làm náo động cả xóm. Rồi ông bỏ nhà đến núi Thất Sơn tu tịnh như các đạo sĩ, rồi trở về Tân Châu dựng cái am bằng tre lá bề thế thờ Quan Công và Chư vị năm Ông, tọa lạc trên con đường Hương Chùa, cách chợ Tân Châu khoảng một cây số để tu tịnh. Ông cạo đầu, mặc áo màu vàng, chuyên tâm lo việc tụng niệm, dạy võ nghệ hoặc dùng bùa ngải, ngồi quán tưởng (nên được gọi là Đạo Tưởng, tưởng đến “giang sơn tổ quốc, tưởng đến ngôi vua”). Sau hơn 10 năm hành đạo (1928-1939), qui tụ hơn mười ngàn tín đồ, Lâm Văn Quốc tự xưng là “ Minh Hoàng Quốc” lập đàn phong cho các em ruột và các môn đệ chức tước như “ ngự đệ”, “quân sư”, “ nguyên soái”, “đô đốc”…

Nghi ngờ ông liên kết với những người ở Thất Sơn để mưu sự, nhà cầm quyền Pháp ngầm bố trí người theo dõi, đó là hương tuần Trương Văn Hiếm, vốn là tín đồ Đạo Tưởng sau không theo nữa. Đêm mùng 8 rạng ngày 9 tháng giêng Âm lịch năm Kỷ Mão (26/2/1939), bất ngờ Đạo Tưởng không giảng giáo lý và luyện võ mà chuyển sang nói với các tín đồ đang hội tụ đông đảo về cái nhục mất nước, cái họa ngoại xâm, rồi kêu gọi mọi người hãy cầm vũ khí, đánh đuổi thực dân Pháp. Trong khí thế sôi sục, Đạo Tưởng sai bắt hương tuần Hiếm vì tội phản bội, chém đầu để làm lễ tế cờ. Gần sáng nhận được tin, giặc Pháp điều hai tiểu đội lính đến đàn áp. Mặc dù được kêu gọi đầu hàng nhưng Đạo Tưởng vẫn khẳng khái tuyên bố đánh đuổi ngoại xâm và được các tín đồ hưởng ứng tay vung gươm giáo, miệng hò hét inh ỏi. Điều đình không xong, viên chỉ huy Pháp ra lệnh bắn chỉ thiên để cảnh cáo, nhưng đạn lép, không nổ. Điều đó càng khiến tín đồ tin Đạo Tưởng là đấng “Minh Hoàng”, có phép thuật khiến súng đạn trở nên vô dụng. Hoảng sợ, viên chỉ huy Pháp nổ súng và lần này Đạo Tưởng ngã xuống. Tới chừng đó, tín đồ mới hoảng chạy. Đạo Tưởng chết, Pháp truy lùng bắt thêm khoảng 30 người nữa, giải về tỉnh, rồi tất cả cùng nhận án tù đày ra Côn Đảo, trong số đó có “ nguyên soái” Năm, “quân sư” Nguyễn Văn Hương, hai “ngự đệ” là Lâm Văn Út và Lâm Văn Bửu, hai con trai của Đạo Tưởng là Lâm Quốc Huỳnh, Lâm Quốc Đạt.

Sau những hoạt động kháng Pháp của Trương Định, Thủ khoa Huân. Nguyễn Trung Trực…thất bại thì tinh thần kháng Pháp vẫn lên cao trong các tầng lớp nhân dân Nam kỳ trong đó các cuộc bạo động do các ông Đạo đứng đầu bùng phát đã gây không ít tinh thần hoảng sợ, bối rối với chính quyền thực dân Pháp. Do vậy tất cả các cuộc bạo động đó đều nhanh chóng bị dập tắt vì thiếu nòng cốt chỉ huy có khoa học, hoặc “ Chiến thuật cũ, quanh quẩn cũng chỉ nhằm thiết lập một chế độ phong kiến”. Tuy nhiên tinh thần buất khuất chống thực dân của các ông vẫn còn sống mãi với dân tộc, với nhân dân. Hàng năm cứ đến ngày các ông mất, nhiều tín đồ theo đạo vẫn tổ chức buổi lễ tưởng niệm các ông cùng với những vong linh khác đã bỏ mình vì đại cuộc.

Loading...

Theo baotanglichsu
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo