Đồng chí Trường Chinh đã giữ các chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước: Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước và Chủ tịch Quốc hội Việt Nam. Ngoài ra đồng chí còn là một nhà thơ với bút danh Sóng Hồng.

Đồng chí Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9 tháng 2 năm 1907, tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Ông nội của Đặng Xuân Khu là Đặng Xuân Bảng (đã đỗ Tiến sĩ tam giáp đệ nhất danh năm 1856), bố là Đặng Xuân Viện (là một nhà nho, ông cũng tham gia phong trào Đông kinh Nghĩa thục, ông là một thành viên trong nhóm “Nam Việt Đồng Thiện Hội”, là người biên soạn bộ Minh đô sử gồm 100 quyển đóng thành sách). Họ Đặng là một họ lớn, nổi tiếng ở làng Hành Thiện và trong vùng.

Đặng Xuân Khu sinh trưởng trong một gia đình khá giả, với truyền thống khoa bảng yêu nước, ông được nuôi dạy và chăm sóc chu đáo. Đặng Xuân Khu không chỉ là người con thông minh, siêng năng mà còn sớm bộc lộ tư chất của một người có bản lĩnh và chí lớn. Năm 1923 Đặng Xuân Khu được gia đình đưa lên trường Thành Chung (thành phố Nam Định) học, trường dạy bằng tiếng Pháp (là trường giáo dục Pháp – Việt đầu tiên ở phía nam Đồng bằng Bắc Bộ). Năm 1925 ông đã tham gia phong trào đấu tranh đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu (một chí sĩ yêu nước của Việt Nam bị thực dân Pháp bắt), Đặng Xuân Khu cùng hai người bạn thân làm truyền đơn, tự tay viết và in tại nhà trọ của Đặng Xuân Khu (số 1, phố Hàng Tiện) với nội dung tố cáo chính sách cai trị tàn bạo của bọn thực dân Pháp và đòi chúng phải trả tự do cho cụ Phan Bội Châu. Lợi dụng đêm khuya, Đặng Xuân Khu cùng các bạn đi bỏ truyền đơn vào khe cửa từng nhà và rải trên các đường phố. Việc làm hết sức ý nghĩa đó đã kích thích phong trào phản đối chính quyền thực dân thêm mạnh mẽ. Đây là hoạt động đầu tiên của Đặng Xuân Khu trong phong trào yêu nước của dân tộc, nó đánh dấu mốc sự trưởng thành của ông trước vận mệnh dân tộc. Năm 1926, Đặng Xuân Khu bàn với một số học sinh có tư tưởng yêu nước ở trường như: Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Khắc Lượng, Đặng Châu Tuệ…vận động phong trào bãi khóa trong thanh niên, học sinh gây áp lực với nhà cầm quyền đòi được tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Bãi khóa nổ ra ở trường Thành Chung, rồi lan nhanh sang các trường khác. Phong trào đấu tranh bãi khóa và tổ chức lễ truy điệu cụ Phan Chu Trinh thắng lợi. Thấy rõ nguy cơ của làn sóng cách mạng mới đang trỗi dậy, mật vụ Pháp ráo riết điều tra, truy lùng những học sinh tổ chức cầm đầu phong trào học sinh bãi khóa. Riêng trường Thành Chung có 54 học sinh bị đuổi học vĩnh viễn, trong đó có Đặng Xuân Khu, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Khắc Lượng cùng nhiều anh em khác.

Năm 1927, Đặng Xuân Khu chuyển lên Hà Nội học ở trường Cao đẳng Thương mại, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Năm 1929, ông tham gia cuộc vận động thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ và trở thành một trong những đảng viên đầu tiên của đảng này. Cuối năm 1929, Đặng Xuân Khu bỏ học để tham gia hoạt động cách mạng. Từ đây ông bắt đầu sự nghiệp của một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Năm 1930, Đặng Xuân Khu được chỉ định vào Ban tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cuối năm ông bị Pháp bắt, bị kết án 12 năm tù (giam ở nhà tù Hỏa Lò), tháng 2 năm 1933, ông cùng 210 người tù bị thực dân Pháp đưa đi đày tại nhà tù Sơn La. Ngày 29 tháng 9 năm 1936 ông được trả tự do. Sum họp với gia đình ít ngày, Đặng Xuân Khu thông báo với Tri huyện Xuân Trường, nơi quản thúc, lý do là không biết làm ruộng, phải đi Hà Nội để kiếm sống, rồi từ biệt gia đình ra Hà Nội hoạt động. Năm 1938, Đặng Xuân Khu vẫn được Trung ương Đảng phân công là người chỉ đạo các hoạt động báo chí công khai của Đảng ở Bắc kỳ, ông thường có các buổi làm việc với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ về công tác tuyên truyền, công tác xuất bản báo chí công khai của Đảng, nhất là báo Tin tức. Trong những năm 1936 – 1939, đồng chí là Xứ Ủy viên Bắc Kỳ cùng Hoàn Văn Thụ và Hoàng Quốc Việt, đại biểu của Đảng Cộng sản Đông Dương trong Ủy ban Mặt trận Dân chủ Bắc Kỳ. Năm 1940, Đặng Xuân Khu bắt liên lạc được với Xứ ủy và hoạt động chủ yếu ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Phúc Yên, Đông Anh…, vừa chỉ đạo, vừa xây dựng cơ sở của các ATK (an toàn khu), vừa ổn định hệ thống tổ chức và cơ sở cho các cơ quan tuyên truyền của Đảng. Đồng chí cho tiếp tục xuất bản báo Giải phóng cơ quan ngôn luận của Xứ ủy và trực tiếp làm chủ bút của báo, kiêm phụ trách các tờ báo tiếng Pháp như: Le Travail; Rassemblement; En Avant và báo Tin tức. Trong năm 1940, một số đồng chí lãnh đạo chủ chốt như Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Lê Hồng Phong…và các ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng đều bị địch bắt, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chưa lập lại được. Tại Hội nghị Trung ương 7 họp tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, đồng chí Đặng Xuân Khu được chỉ định làm Quyền Tổng Bí thư của Đảng, thay Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ (đã bị địch bắt). Trên cương vị mới là quyền Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đặng Xuân Khu đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân bước vào giai đoạn đấu tranh mới, trực tiếp thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc. Tháng 5 năm 1941, tại Hội nghị Trung ương 8, họp ở Cao Bằng, Đặng Xuân Khu được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, kiêm trưởng ban tuyên huấn Trung ương. Năm 1943, đồng chí bị thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt. Năm 1945, đồng chí triệu tập và chủ trì Hội nghị Thường vụ Trung ương ra chỉ thị nổi tiếng “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định thời cơ Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong giai đoạn chuẩn bị Cách mạng tháng Tám năm 1945, tại Hội nghị toàn quốc của Đảng do ông chủ trì, đồng chí được cử phụ trách Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, để xác định mục tiêu và cổ vũ tinh thần cho những người kháng chiến, ông đã viết loạt bài báo nổi tiếng với tựa đề “Kháng chiến nhất định thắng lợi” đăng trên báo “Sự thật”. Năm 1951 tại Đại hội lần thứ 2 của Đảng Cộng sản Đông Dương đã đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương.

Năm 1953, theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng phân công đồng chí Trường Chinh và một số đồng chí lãnh đạo khác trực tiếp tiến hành cải cách ruộng đất, thu được nhiều thắng lợi. Năm 1958, đồng chí được bổ nhiệm là Phó Thủ tướng kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước. Năm 1960 là Ủy viên Bộ Chính trị và làm Chủ tịch Quốc hội.

Năm 1981, đồng chí được Quốc hội bầu làm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 1986, đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuối năm 1986, đồng chí rút khỏi các chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước và làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Sáu mươi ba năm (bắt đầu từ năm 1923 đến năm 1986), hoạt động cách mạng kiên cường và liên tục, đồng chí Trường Chinh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng chí được Nhà nước Việt Nam tặng Huân chương Sao vàng và nhiều phần thưởng cao quí khác. Đồng chí từ trần ngày 30 tháng 9 năm 1988, thọ 81 tuổi.

Loading...

Theo baotanglichsu
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Please Login to comment
  Subscribe  
Nhận thông báo