Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên bao gồm các yếu tố bộ phận sau: cồng chiêng, các bản nhạc tấu bằng cồng chiêng, những người chơi cồng chiêng, các lễ hội có sử dụng cồng chiêng.

Hiện tại, Lễ hội Cồng chiêng được tổ chức hàng năm là một hoạt động vừa có ý nghĩa bảo tồn bản sắc văn hóa vừa là một sản phẩm du lịch ăn khách. sản phẩm du lịch

Dàn cồng chiêng của dân tộc Raglai có cồng cha, cồng mẹ, cồng con mang tính tổ chức xã hội.

Bảo tồn cồng chiêng phải tạo không gian sống cho cồng chiêng.

Tại hội thảo Sự thay đổi và bảo tồn văn hóa cồng chiêng ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á diễn ra ngày 14-11, các nhà khoa học đã thảo luận nhiều về nét đặc trưng của cồng chiêng Tây Nguyên so với khu vực Đông Nam Á.

Đậm triết lý sống của dân tộc

Nói về điểm khác biệt của cồng chiêng Tây Nguyên với cồng chiêng các nước Đông Nam Á, GS-TS Trần Văn Khê cho rằng biên chế của dàn cồng chiêng Tây Nguyên có liên quan đến tổ chức xã hội và triết lý sống của dân tộc trong vùng đó. Dàn cồng bao gồm: cồng mẹ, cồng cha, cồng con, cồng cháu. Bởi đồng bào Tây Nguyên theo chế độ mẫu hệ nên cồng mẹ được xem là quan trọng nhất. “Cồng mẹ, cồng cha phát ra âm thanh trầm làm nền cho bản nhạc. Cồng con cách khoảng đều nhau như những cây cột dựng lên nhà. Cồng cháu di chuyển, tạo ra những âm thanh có độ cao và phối hợp thành giai điệu giống như kèo và nóc nhà” – GS-TS Trần Văn Khê ví von.

Thạc sĩ Bùi Ngọc Phúc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu âm nhạc – Học viện Âm nhạc Huế, cũng nêu ý kiến về sự độc đáo, khác biệt trong cách thức diễn tấu của cồng chiêng Tây Nguyên. Nhạc công cồng chiêng những nước Đông Nam Á một mình hai tay gõ bằng dùi cả dàn cồng đến 17, 19 chiếc, còn nhạc công cồng chiêng Tây Nguyên mỗi người chỉ đánh một cồng. Mỗi nhạc công giữ một vị trí cao độ và tiết tấu, âm sắc khác nhau. Vì vậy, mỗi người vừa phải tập trung tâm trí để gõ đúng phần của mình, vừa phải lắng nghe người khác trong dàn nhạc để tạo nên sự hòa hợp, đồng cảm.

Loading...

GS-TS Trần Văn Khê phân tích thêm điều khác biệt trong cách trình diễn cồng chiêng Tây Nguyên: Nghệ nhân dùng tay phải gõ cồng để tạo thanh, tay trái có thể tham gia biểu diễn bằng cách bóp vành cồng làm thay đổi màu âm. Trong khi đó, với các dàn cồng chiêng lớn của nhiều nước Đông Nam Á, nhạc công chỉ gõ lên núm cồng chiêng, không dùng tay trái để thay đổi màu âm.

Đặc biệt, GS-TS Tô Ngọc Thanh nhận xét thêm ba đất nước Việt Nam, Lào, Campuchia có những đặc điểm chung về văn hóa, trong đó không gian văn hóa cồng chiêng cũng có nhiều điểm tương đồng. Ông nói: “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên của Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Trong thời gian tới, chúng ta sẽ đề nghị UNESCO mở rộng biên giới, công nhận di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại cho cả không gian văn hóa cồng chiêng Lào và Campuchia”.

Cần có chính sách cho nghệ nhân

 “Nên đưa cồng chiêng vào giảng dạy trong nhà trường như một môn học chính thống” – ông Trương Bi, Phó Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch tỉnh Dăk Lăk, nêu đề nghị trong phần thảo luận về bảo tồn di sản cồng chiêng. GS-TS Tô Ngọc Thanh tỏ ý đồng tình với ông Trương Bi. Tuy nhiên, GS Thanh lưu ý, cồng chiêng chỉ nên đưa vào như một môn học ngoại khóa. Ý kiến của tiến sĩ Phạm Lê Hòa, Hiệu trưởng Trường sư phạm nghệ thuật trung ương, dung hòa cả hai ý kiến trên. Tiến sĩ Hòa cho rằng nên cải cách sách giáo khoa môn âm nhạc theo hướng gồm 1/3 nội dung kiến thức chung về âm nhạc, 2/3 nội dung còn lại là kiến thức “mềm”, áp dụng cho học sinh từng vùng miền.

Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến phản đối việc đưa cồng chiêng vào trường học. Bà Linh Nga Niê Kdam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Trung tâm Phát triển công nghệ giáo dục đào tạo Chi nhánh Tây Nguyên, cho rằng các liên hoan văn hóa cồng chiêng, những lớp truyền dạy diễn tấu cồng chiêng hay xây dựng các chương trình phục vụ du lịch… vẫn chỉ là những việc làm bề nổi. Theo bà Linh Nga Niê Kdam, để bảo tồn văn hóa cồng chiêng, cần chú trọng ba điều sau: Nâng cao ý thức tự hào và tự bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống trong chính bà con các dân tộc Tây Nguyên; khôi phục môi trường diễn xướng ngay trong cộng đồng; có đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa là người dân tộc bản địa.

Cùng quan điểm với bà Linh Nga Niê Kdam, thạc sĩ Đào Duy Quyền, Phó Tổng thư ký Hội Dân tộc học TP.HCM, nêu ý kiến không thể dạy cồng chiêng như một môn âm nhạc mà phải đưa cồng chiêng vào cuộc sống của người dân tại không gian sống của họ. Thạc sĩ Quyền cũng đề nghị một chính sách đối với nghệ nhân dân gian vì “Có như vậy, chúng ta mới giữ vững được di sản văn hóa do có người chăm lo truyền lại cho thế hệ trẻ”.

Duy trì lễ hội để cồng chiêng có đất sống

“… Năm 1993, khi tôi vào Dăk Lăk tổ chức kỷ niệm 10 năm giải phóng Buôn Ma Thuột, cuộc chuyển đổi cơ cấu sản xuất mới bắt đầu nên hệ thống các sinh hoạt văn hóa cổ truyền vẫn được đồng bào thực hiện khá đầy đủ. Tới những năm 2000, khi cơ cấu sản xuất mới đã ổn định và đi vào chiều sâu thì nền văn hóa cổ truyền bắt đầu “giải cấu trúc”. Nhưng đồng bào vẫn thực hiện những nghi lễ cộng đồng như đâm trâu, bỏ mả, cúng đất làng, lễ đuổi ôn dịch và một số nơi vẫn Cúng bến nước. Trong các nghi lễ cho vòng đời người, lễ đón trẻ sơ sinh, lễ cưới, lễ dựng nhà mới, lễ tang cũng được duy trì. Cồng chiêng vẫn tham gia và thực hiện chức năng nghi lễ của mình vì những môi trường xã hội của nó chưa mất hẳn.

Cũng từ những năm 90 của thế kỷ trước, xuất hiện sự “giải thiêng” trong chức năng của cồng chiêng, song hành với việc nó vẫn thực hiện chức năng nghi lễ vốn có. Điều này thể hiện ở việc các dàn cồng chiêng được huy động tham gia các hoạt động văn hóa đương đại như hội diễn văn nghệ quần chúng.

Nhưng sau đó bắt đầu xuất hiện những cải tiến. Phổ biến là gõ lại các chiêng để chơi những ca khúc mới. Một vài nơi, nhất là ở Êa H’Leo, thanh niên treo cồng, chiêng trên một cây tre dài và chỉ có hai người chơi. Dần dần các cải tiến ít được ưa chuộng. Nay tuy nó chưa hết hẳn nhưng không còn sôi nổi như lúc đầu nữa.

Từ 2005 trở lại đây, sau khi không gian văn hóa cồng chiêng được phong danh hiệu kiệt tác di sản, cùng với sự quan tâm cụ thể hơn của các cơ quan công quyền, nhận thức về giá trị của cồng chiêng cổ truyền trong nhân dân được nâng cao. Đã xuất hiện phong trào khôi phục, truyền dạy và chơi cồng chiêng ở lớp trẻ.

Theo tôi, để duy trì được cồng chiêng trong diện mạo cổ truyền theo yêu cầu của UNESCO, không có cách nào khác là cùng đồng bào duy trì các loại lễ chủ chốt có liên quan đến đời sống tâm linh cộng đồng và một vài lễ trọng đối với vòng đời người. Đi cùng với cách làm này, cần có một cơ chế đồng bộ, bao gồm việc tôn vinh nghệ nhân, mở lớp truyền dạy, tổ chức các cuộc thi cho thanh thiếu niên…

Sử dụng cồng chiêng dưới góc độ các tác phẩm âm nhạc trong những cuộc liên hoan; trong các trung tâm văn hóa, du lịch cũng là cách củng cố việc bảo tồn di sản. Như vậy, một mặt chúng ta vẫn giữ được trong chừng mực nào đó môi trường xã hội của cồng chiêng xưa. Mặt khác, cồng chiêng cũng được “giải thiêng” để tham gia vào hoạt động văn hóa của xã hội hôm nay.

Theo vietnamculture
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên Comment

  Subscribe  
Nhận thông báo