Làng đúc đồng Lộng Thượng (hay còn gọi làng Rồng thuộc Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) là một làng nghề từng nổi tiếng với những sản phẩm được đúc từ đồng như: đỉnh đồng, lư hương, lọ hoa,… Từ bàn tay của những người thợ tài hoa trong làng, những sản phẩm ấy đã góp phần vào nét đẹp làng nghề chốn kinh thành Thăng Long xưa.

Đồng nát thì về cầu Nôm
Con gái nỏ mồm về ở với cha

Hai câu ca dao trên nói nên nghề buôn bán phế liệu từ thời xưa của làng Rồng. Theo thời gian, nghề đúc đồng của làng Rồng dần được hình thành.

Những người giữ lửa làng nghề
Cách thủ đô Hà Nội khoảng hơn 30 km, làng Rồng xưa chuyên sản xuất dụng cụ gia đình bằng đồng. Ban đầu, làng chỉ làm nồi sanh thô sơ, sau mới có ấm, mâm, chậu thau… về sau này, nhờ tâm huyết của các bậc tiền bối dầy kinh nghiệm truyền từ đời này qua đời khác, các sản phẩm của làng ngày càng phong phú đa dạng, trong đó phải kể đến các đồ thờ cúng.

Nhắc đến nghề đúc đồng, người ta thường nhắc đến làng Ngũ Xã (Hà Nội), Ý Yên (Nam Định) và Đại Bái (Bắc Ninh), ít ai biết rằng Hưng Yên là nơi có nhiều làng chuyên nghề đúc đồng từ xưa. Một số phường thợ giỏi ở đây đã lên kinh thành Thăng Long cùng một số phường nghề khác lập nên làng nghề Ngũ Xã danh tiếng. Trước đây xã Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên có 4 làng làm nghề đúc đồng gồm: Văn Ổ, Xuân Phao, Lộng Thượng, Bùng Đông, trong đó thợ làng Lộng Thượng có tay nghề cao nhất và vẫn tồn tại đến ngày nay. Sản phẩm của làng nổi tiếng nhất là lư hương, đỉnh, hạc, nến, chuông, tượng… được tạo nên bởi kỹ thuật đúc tinh xảo đúc rút qua nhiều thế kỷ. Theo sử sách, tổ nghề đúc đồng là Khổng Minh Không – Quốc sư triều Lý thế kỷ XII đã dạy nghề đúc đồng cho dân làng. Mấy trăm năm trôi qua, giờ đây pho tượng tổ sư được chính những người con làng nghề đúc lên với tất cả lòng thành kính, biết ơn công lao khai truyền nghiệp quý. Nhờ có nghề đúc đồng, dân làng Rồng và các vùng xung quanh nhiều đời no ấm.


Dù kinh qua những giai đoạn thăng trầm, chiến tranh, hay suy thoái, nghề đúc đồng vẫn được duy trì bởi quyết tâm của người làng Rồng. Dù đã ngoài 80 tuổi nhưng nghệ nhân Dương Văn Ban vẫn không quên ký ức về giai đoạn khó khăn của nghề đúc đồng: “Tôi theo các cụ từ năm 13 tuổi, đến 16 tuổi đã ra nghề. Nhưng cái nghề này cũng thăng trầm lắm, thời chống Nhật phải ngưng sản xuất, rồi Cách mạng tháng Tám lại dừng một thời gian… Nhưng lúc đó tôi cũng đã xác định khó khăn cũng vẫn phải làm để giữ nghề”. Quyết tâm ấy khiến ông Ban bám trụ với nghề khi cả làng đã bỏ hết. Những năm 1970 – 1980, trong làng chỉ duy nhất lò đúc của ông Ban chung với 3 người anh em còn đỏ lửa. Chính từ lò đúc ấy, đầu những năm 1980, các ông đã truyền dạy nghề và khôi phục nghề. Dần dần, số lượng lò đúc tăng lên,

Bao giờ cho tới… ngày xưa?
Lộng Thượng hiện nay chuyên sản xuất các đồ thờ cúng như: đỉnh, hạc, chân nến, đèn, mâm bồng, bát hương, những thứ mà trên bàn thờ của mọi gia đình đều không thể thiếu. Trong đó, đáng kể nhất là đỉnh đồng – loại sản phẩm đòi hỏi kỹ thuật cao, tay nghề vững vàng, bởi nó kết tinh cả giá trị hội họa và điêu khắc. Đây có thể coi là hàng khó làm nhất trong các mặt hàng đúc làng Rồng.
So với các ngành nghề thủ công khác, đúc đồng là một trong những nghề nặng nhọc và vất vả. Thợ đúc đồng không chỉ đòi hỏi phải có sức khỏe mà còn cần phải khéo léo, tinh tế. Ở mỗi công đoạn, người thợ đúc rút ra kinh nghiệm, bí quyết riêng, ngay từ khâu đầu tiên là làm đất, làm khuôn. Đất làm khuôn không chỉ là loại đất trộn trấu, mà còn cả loại đất có màu đen để trát các khe, đường viền. Loại đất đặc biệt này gồm: bùn, sét, trấu đốt giã nhỏ, trộn với giấy bản, giấy dó… mới tạo thành mồi thật mịn để chống nứt và làm cho mặt sản phẩm nhẵn bóng hơn. Công đoạn làm khuôn tưởng chừng đơn giản, nhưng để làm được, người thợ có khi phải học đến vài năm, còn thợ vụng, có khi làm lâu năm vẫn hỏng. Đặc biệt như thao tác “lấy thịt”, thịt là độ dày mỏng của lớp đồng khi được rót vào giữa 2 lớp thao trong, bìa ngoài. Người thợ phải chỉnh sửa khuôn sao cho bên trong đồng đều, để khi rót đồng không bị chỗ dày, chỗ mỏng. Việc gọt khuôn bên trong chỉ có thể áng chừng và lấy bằng cảm tính, kinh nghiệm.

Cả thôn Lộng Thượng nay có gần 100 hộ theo đuổi nghề đúc đồng. Nhìn chung vẫn là mô hình sản xuất thủ công, nhỏ lẻ, manh mún. Sản phẩm làm ra tuy có được cải thiện về mẫu mã, hình thức và chất lượng, được các thương lái từ các tỉnh về cất hàng và bày bán ngay tại các cửa hiệu trong phố Lộng Thượng, nhưng sản phẩm của làng nghề vẫn không được nhiều người biết đến như xưa. Trao đổi về băn khoăn, trăn trở về làng nghề, anh Đạt- người thợ trẻ gắn bó hơn 10 năm với nghề truyền thống của làng chia sẻ: “Chúng em đôi khi rất buồn khi phải mang hàng của làng nghề đi đổ (bán) buôn lại cho các làng nghề đúc đồng khác, khi thấy khách hàng hỏi thì được chủ cửa hàng giới thiệu là sản phẩm làng nghề khác không phải tên làng nghề của mình, thấy chạnh lòng lắm anh ạ. Dĩ nhiên, em cũng cảm ơn các anh chị phóng viên khi gần đây có nhiều bài viết về làng nghề nên lượng khách đến với làng nghề chúng em cũng nhiều hơn. Nhưng chúng em vẫn mong mỏi tên tuổi làng nghề sẽ được mọi người biết đến nhiều như trước kia”. Sự băn khoăn trăn trở của người thợ trẻ không chỉ đối với riêng làng nghề Lộng Thượng mà còn của biết bao làng nghề truyền thống khác.

Loading...

Với nỗ lực tự thân của những người thợ làng nghề, từ những kinh nghiệm được đúc rút từ nhiều đời, những đổi mới về tư duy và công nghệ, bên cạnh đó là chính sách miễn thuế khuyến khích của Nhà nước và hỗ trợ của địa phương, hy vọng trong tương lai không xa, sản phẩm đồ đồng của Lộng Thượng sẽ trở lại thương hiệu nổi tiếng một thời nó đã có.

Theo quehuongonline
* Nếu bài viết này hữu ích với bạn, hãy “tiếp lửa” cho Tâm Học bằng cách bấm
Like, Google +1, Tweet hoặc Chia Sẻ, Gửi….cho bạn bè , người thân. Chân thành cảm ơn!

Loading...

Leave a Reply

Hãy là người đầu tiên Comment

Nhận thông báo
wpDiscuz